Dhamma và Vinaya liên quan sâu sát đến từng chi tiết trong rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống tu hành, đến nỗi không thể kỳ vọng một tỳ-kheo (bhikkhu) tân thọ giới có thể thông thạo tất cả trong một thời gian ngắn. Vì lý do đó, Đức Phật đã thiết lập một giai đoạn học nghề — gọi là nissaya, tức sự y chỉ — trong đó mỗi tỳ-kheo mới thọ giới phải tu học dưới sự hướng dẫn của một tỳ-kheo có kinh nghiệm ít nhất năm năm, trước khi được xem là đủ năng lực tự lo liệu cho bản thân.
Giai đoạn học nghề này đã tạo nên bối cảnh con người mà trong đó sự thực hành giáo pháp của Đức Phật được truyền thừa suốt 2.600 năm qua. Bỏ qua điều này là bỏ lỡ một trong những thông số cơ bản của đời sống Dhamma và Vinaya. Do đó, chúng ta sẽ thảo luận về nó ở đây trước tiên, trước khi đi vào từng học giới cụ thể của Pāṭimokkha.
Sự y chỉ có hai loại: y chỉ vào vị Hòa thượng (upajjhāya) và y chỉ vào vị Giáo thọ (ācariya). Hai mối quan hệ này tương tự nhau — và trong nhiều chi tiết là giống hệt nhau — vì vậy cuộc thảo luận dưới đây sẽ dùng từ vị thầy để chỉ cả Hòa thượng lẫn Giáo thọ ở những điểm áp dụng cho cả hai, và sẽ phân biệt chúng chỉ khi nào có sự khác biệt.
#Chọn Vị Thầy
Trước khi thọ giới, người thọ giới phải chọn một tỳ-kheo để làm Hòa thượng của mình. Mahāvagga (I.36-37) liệt kê một danh sách dài các tiêu chuẩn mà một tỳ-kheo phải đáp ứng trước khi có thể làm Hòa thượng, trong khi Chú giải phân chia danh sách này thành hai mức độ: tiêu chuẩn lý tưởng và tiêu chuẩn tối thiểu. Một tỳ-kheo thiếu tiêu chuẩn tối thiểu sẽ phạm dukkaṭa nếu làm Hòa thượng; một tỳ-kheo đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu nhưng không đạt tiêu chuẩn lý tưởng thì không phải là người lý tưởng để hướng dẫn, nhưng cũng không phạm tội nào khi làm vậy.
Tiêu chuẩn lý tưởng: Vị Hòa thượng nên có giới đức, định tâm, tuệ giác, giải thoát, và tri kiến giải thoát của bậc A-la-hán (arahant); và phải có khả năng huấn luyện người khác đạt đến cùng mức chứng đắc đó. Ngài cần có tín tâm, tàm, quý (theo nghĩa của thuật ngữ này trong tiếng Anh-Mỹ, tức là sự miễn cưỡng làm điều sai vì sợ hậu quả của nó), tinh tấn trong tu tập, và chánh niệm nhanh nhạy (theo Phụ Chú giải, điều này có nghĩa là ngài luôn chánh niệm với bất kỳ đối tượng tâm nào đang hiện diện). Ngài nên không phạm phải giới nặng hay giới nhẹ, và phải có chánh kiến. (Điểm cuối này, Chú giải nói, có nghĩa là ngài không chấp thủ vào hai cực đoan thường kiến hay đoạn kiến.) Ngài phải có khả năng chăm sóc một đệ tử bị bệnh hoặc tìm người chăm sóc thay, và có khả năng dập tắt sự bất mãn trong một đệ tử muốn từ bỏ đời phạm hạnh.
Mahāvagga không nói thẳng rằng đây là những tiêu chuẩn lý tưởng, đối lập với tiêu chuẩn tối thiểu, nhưng Chú giải đưa ra bằng chứng từ việc một trong những bổn phận của đệ tử là cố gắng xoa dịu bất kỳ sự bất mãn nào có thể nảy sinh trong lòng vị Hòa thượng. Nếu tất cả các Hòa thượng đều là A-la-hán, trường hợp như vậy sẽ không bao giờ xảy ra và không cần đề cập đến. Do đó, Chú giải kết luận rằng quả vị A-la-hán, dù là lý tưởng đối với một vị Hòa thượng, không phải là điều bắt buộc.
Tiêu chuẩn tối thiểu: Vị Hòa thượng phải là người uyên thâm và có năng lực. Theo Chú giải, điều này có nghĩa là ngài biết đủ về Dhamma và Vinaya để dẫn dắt đồ chúng, và có đủ năng lực để biết điều gì là phạm giới và điều gì không. Ngài còn phải đủ năng lực để xoa dịu, theo đúng Dhamma, bất kỳ sự lo lắng nào phát sinh trong lòng đệ tử; phải biết điều gì là phạm giới và điều gì không, điều gì là giới nhẹ, điều gì là giới nặng, và cách nào để sám hối giới lỗi. Ngài phải có kiến thức chi tiết về cả hai Pāṭimokkha (một dành cho tỳ-kheo và một dành cho tỳ-kheo-ni), và có khả năng huấn luyện đệ tử trong các phong tục của tỳ-kheo (Chú giải: điều này có nghĩa là ngài biết về các Khandhakas), trong các điều căn bản của đời phạm hạnh (Phụ Chú giải: ngài biết cả hai Vibhaṅgas), Thắng Pháp, và Thắng Luật. Ngài phải có khả năng, theo đúng Dhamma, để kéo đệ tử ra khỏi tà kiến hoặc tìm người giúp làm việc đó. Và — điều kiện căn bản nhất — ngài phải đã thọ giới tỳ-kheo được mười năm trở lên.
Nếu vì lý do nào đó mà tỳ-kheo mới sống ở một tu viện khác với Hòa thượng của mình, thì vị ấy phải y chỉ vào một Giáo thọ, người có những tiêu chuẩn hoàn toàn giống như những tiêu chuẩn đối với một Hòa thượng. Vì Mahāvagga (I.72.1) quy định dukkaṭa cho việc y chỉ vào một tỳ-kheo không cẩn thận, tỳ-kheo mới được phép dành bốn đến năm ngày để quan sát hành vi của vị Giáo thọ tiềm năng trước khi y chỉ vào ngài ([Mv.I.72.2]).
#Thọ Nhận Sự Y Chỉ
Trước khi thọ giới — và thường là một phần của bản thân buổi lễ — người thọ giới phải chính thức xin y chỉ từ vị Hòa thượng. Thủ tục như sau:
Đắp y thượng lên vai trái, để trần vai phải, vị ấy đảnh lễ Hòa thượng, rồi quỳ gối với hai tay chắp trước ngực, đọc lại đoạn sau ba lần:
Upajjhāyo me bhante hohi,
có nghĩa là: "Bạch Ngài, xin Ngài hãy làm Hòa thượng của con."
Nếu vị Hòa thượng đáp lại bằng bất kỳ lời nào sau đây — sāhu (rất tốt), lahu (chắc chắn rồi), opāyikaṁ (được), paṭirūpaṁ (thích hợp), hoặc pāsādikena sampādehi (hãy thành tựu [trong tu tập] một cách hòa nhã) — thì sự y chỉ đã được thiết lập. [Mv.I.25.7] bổ sung rằng nếu vị Hòa thượng biểu thị bất kỳ ý nghĩa nào trong số này bằng cử chỉ thì cũng có giá trị; và theo Chú giải, điều tương tự cũng đúng nếu ngài thực hiện bất kỳ lời tuyên bố tương đương nào.
Nếu sau khi thọ giới, tỳ-kheo mới cần xin y chỉ từ một Giáo thọ, thủ tục cũng giống như vậy, ngoại trừ yêu cầu được lặp lại ba lần là:
Ācariyo me bhante hohi; āyasmato nissāya vacchāmi,
có nghĩa là: "Bạch Ngài, xin Ngài hãy làm Giáo thọ của con; con sẽ sống y chỉ vào Ngài." ([Mv.I.32.2])
#Các Bổn Phận
Mahāvagga (I.25.6; 32.1) tuyên bố rằng đệ tử nên xem vị thầy như cha; và vị thầy nên xem đệ tử như con. Rồi tiếp tục mô tả mối quan hệ này như một tập hợp các bổn phận có đi có lại.
Bổn Phận Của Đệ Tử Đối Với Vị Thầy
Các bổn phận của đệ tử đối với vị thầy thuộc năm loại sau:
1. Hầu hạ các nhu cầu cá nhân của vị thầy. Mahāvagga đi vào chi tiết rất cụ thể về chủ đề này, đưa ra những hướng dẫn chính xác liên quan đến mọi cách mà một đệ tử có thể phục vụ vị thầy. Vinaya-mukha cố gắng rút gọn những bổn phận này thành một vài nguyên tắc chung, nhưng làm như vậy sẽ bỏ lỡ nhiều điều mà Mahāvagga muốn truyền đạt, vì những chi tiết cụ thể mới là nơi cho thấy những ví dụ tuyệt vời về chánh niệm trong hành động — cách gấp y tốt nhất, cách dọn dẹp phòng ở, v.v. — cũng như những gợi ý về cách người ta có thể dùng khía cạnh này trong việc tu học để phát triển sự nhạy cảm với nhu cầu của người khác. Dù vậy, các hướng dẫn chi tiết quá phong phú đến mức sẽ làm nặng nề cuộc thảo luận trong chương này, nên tôi đã để dành chúng cho Phụ Lục X. Ở đây tôi chỉ trình bày sơ lược. Đệ tử nên:
a. Chuẩn bị đồ vệ sinh của vị thầy cho buổi rửa mặt buổi sáng.
b. Sắp xếp chỗ ngồi và thức ăn cho bữa cháo buổi sáng của ngài (nếu có) và dọn dẹp sau khi ngài dùng xong.
c. Chuẩn bị y và bát cho ngài đi khất thực.
d. Theo sau ngài trong buổi đi khất thực, nếu vị thầy muốn, và nhận y và bát khi ngài trở về.
e. Sắp xếp chỗ ngồi và thức ăn cho bữa cơm khất thực và dọn dẹp sau đó.
f. Chuẩn bị bồn tắm cho ngài. Nếu ngài đi phòng xông hơi, hãy đi cùng và hầu hạ ngài.
g. Học Dhamma và Vinaya từ ngài khi ngài sẵn sàng giảng dạy. (Mahāvagga mô tả điều này là "tụng đọc" và "vấn đáp." Tụng đọc, theo Chú giải, có nghĩa là học thuộc lòng các đoạn văn; vấn đáp là học để tìm hiểu ý nghĩa của chúng.)
h. Dọn dẹp phòng ở của ngài và các phần khác trong khu vực phòng ở của ngài, chẳng hạn như nhà vệ sinh và phòng lưu trữ, khi chúng bẩn.
2. Hỗ trợ vị thầy trong bất kỳ khó khăn nào ngài có thể gặp liên quan đến Dhamma và Vinaya. Mahāvagga liệt kê những ví dụ sau:
a. Nếu vị thầy bắt đầu cảm thấy không hài lòng với đời phạm hạnh, đệ tử nên cố gắng xoa dịu sự không hài lòng đó hoặc tìm người khác có thể làm vậy, hoặc giảng Dhamma cho ngài.
b. Nếu vị Hòa thượng bắt đầu cảm thấy lo lắng về hành vi của mình liên quan đến các học giới, đệ tử nên cố gắng xua tan sự lo lắng đó hoặc tìm người khác có thể làm vậy, hoặc giảng Dhamma cho ngài.
c. Nếu vị Hòa thượng bắt đầu nắm giữ tà kiến, đệ tử nên cố gắng kéo ngài ra khỏi những tà kiến đó hoặc tìm người khác có thể làm vậy, hoặc giảng Dhamma cho ngài.
d. Nếu vị Hòa thượng đã phạm một giới saṅghādisesa, đệ tử nên — trong khả năng tốt nhất của mình — giúp đỡ các sắp xếp để thực hiện hành phạt tạm thời (mānatta), thử thách (parivāsa), và phục hồi, hoặc tìm người khác có thể làm việc đó.
e. Nếu Tăng đoàn (Saṅgha) sắp thực hiện một tăng-sự (saṅghakamma) chống lại vị thầy, đệ tử nên cố gắng thuyết phục họ không làm vậy. Theo Chú giải, điều này có nghĩa là vị ấy nên đến gặp từng thành viên của Tăng đoàn riêng lẻ trước cuộc họp và cố gắng thuyết phục họ không tiến hành. Nếu không thuyết phục được, vị ấy nên cố gắng khiến họ giảm nhẹ mức độ của tăng-sự (chẳng hạn, từ tẩn xuất còn khiển trách). Nếu việc thực hiện tăng-sự là chính đáng, vị ấy không nên phản đối trong khi cuộc họp đang diễn ra. Một khi họ đã thực hiện tăng-sự, vị ấy nên tập trung vào việc giúp vị thầy của mình hành xử sao cho họ sẽ hủy bỏ tăng-sự càng sớm càng tốt.
3. Giặt, làm, và nhuộm y cho vị thầy.
4. Thể hiện lòng trung thành và tôn kính đối với vị thầy.
a. Đệ tử không được trao tặng hay nhận lãnh quà tặng, cũng không được trao hay nhận phục vụ từ người khác mà không được sự cho phép của vị thầy trước. Theo Chú giải, người khác ở đây có nghĩa là những người đang trong quan hệ xấu với vị thầy.
b. Đệ tử phải xin phép vị thầy trước khi vào làng, đi đến nghĩa địa (để thiền định, Chú giải nói), hoặc rời khỏi địa phận nơi họ đang sống. Tuy nhiên, Chú giải lưu ý rằng nếu vị thầy từ chối yêu cầu lần đầu, người ta nên hỏi thêm tối đa hai lần nữa, trình bày lý do của mình một cách tốt nhất. Nếu vị thầy vẫn từ chối, đệ tử nên suy nghĩ lại tình huống của mình. Nếu ở lại với vị thầy không giúp ích cho việc học tập và thiền định của mình, và nếu vị thầy dường như muốn vị ấy ở lại chỉ để có người chăm sóc các nhu cầu (của vị thầy), thì đệ tử có quyền ra đi và y chỉ vào một vị thầy mới tại nơi ở mới.
5. Chăm sóc vị thầy khi ngài bệnh, không rời xa ngài cho đến khi ngài hồi phục hoặc qua đời ([Mv.I.25]).
Theo Chú giải, đệ tử được miễn trừ những bổn phận này khi bản thân bị bệnh. Còn lại, vị ấy phải tuân thủ tất cả các bổn phận trên đối với Hòa thượng của mình trong suốt thời gian y chỉ. Chú giải bổ sung rằng các bổn phận trong mục 1-3 ràng buộc đệ tử ngay cả sau khi được giải thoát khỏi sự y chỉ, miễn là cả vị ấy và vị Hòa thượng còn sống và còn thọ giới, mặc dù không phải mọi Tăng đoàn đều theo Chú giải về điểm này.
Còn về các bổn phận đối với Giáo thọ, Chú giải liệt kê bốn loại Giáo thọ: Giáo thọ xuất gia (người trao Mười Giới trong buổi lễ thọ giới); Giáo thọ thọ giới (người tụng đọc lời tác bạch và các lời tuyên trong buổi lễ); Giáo thọ Dhamma (người dạy ngôn ngữ Pali và Tạng Kinh); và Giáo thọ y chỉ (người mà mình đang sống y chỉ vào). Đối với Giáo thọ y chỉ và Giáo thọ Dhamma, người ta chỉ phải tuân thủ tất cả các bổn phận trên trong khi còn sống y chỉ vào ngài. Còn đối với hai loại kia, Chú giải bổ sung rằng người ta nên tuân thủ mục 1-3 trong khi cả hai bên còn sống và còn thọ giới — mặc dù, một lần nữa, không phải tất cả các Tăng đoàn đều theo Chú giải về điểm này.
Chú giải còn thêm rằng nếu vị thầy đã có một đệ tử thực hiện những bổn phận này cho ngài, ngài có thể thông báo cho những đệ tử còn lại rằng họ không cần phải đảm nhận chúng. Điều này miễn trừ họ khỏi việc phải tuân thủ chúng. Nếu ngài quên không làm vậy, người đệ tử đang thực hiện các bổn phận có thể thông báo cho các đồng môn biết rằng mình sẽ đảm nhận trách nhiệm chăm sóc vị thầy. Điều này cũng miễn trừ họ. Nếu không, họ sẽ phạm dukkaṭa cho mỗi bổn phận họ bỏ qua.
Bổn Phận Của Vị Thầy Đối Với Đệ Tử
1. Thúc đẩy việc học của đệ tử, dạy ngài Dhamma và Vinaya thông qua tụng đọc, vấn đáp, khuyên bảo, và chỉ dẫn.
2. Cung cấp các vật dụng cần thiết cho đệ tử. Nếu đệ tử thiếu bất kỳ vật dụng cơ bản nào, và vị thầy có thể chia sẻ, ngài nên bù đắp sự thiếu hụt đó.
3. Chăm sóc các nhu cầu cá nhân của đệ tử khi vị ấy bệnh, thực hiện những phục vụ được đề cập trong mục 1 thuộc các bổn phận của đệ tử đối với vị thầy.
4. Hỗ trợ đệ tử trong bất kỳ khó khăn nào vị ấy có thể gặp liên quan đến Dhamma và Vinaya, thực hiện những phục vụ được đề cập trong mục 2 thuộc các bổn phận của đệ tử đối với vị thầy.
5. Dạy đệ tử cách giặt, làm, và nhuộm y. Nếu vì lý do nào đó đệ tử không thể tự xử lý những kỹ năng này, vị thầy nên cố gắng tìm cách để hoàn thành những công việc này.
6. Chăm sóc đệ tử khi vị ấy bệnh, không rời xa vị ấy cho đến khi vị ấy hồi phục hoặc qua đời ([Mv.I.26]).
Theo Chú giải, vị Hòa thượng, Giáo thọ xuất gia, và Giáo thọ thọ giới phải tuân thủ những bổn phận này đối với đệ tử trong khi cả hai bên còn sống và còn thọ giới. Còn đối với Giáo thọ Dhamma và Giáo thọ y chỉ, họ chỉ phải tuân thủ những bổn phận này trong thời gian đệ tử đang sống với họ.
#Xả Bỏ Đệ Tử
Nếu đệ tử không tuân thủ các bổn phận của mình đối với vị thầy, vị thầy có quyền xả bỏ vị ấy. Thực ra, nếu đệ tử xứng đáng bị xả bỏ, vị thầy sẽ phạm dukkaṭa nếu vì lý do nào đó không xả bỏ vị ấy, giống như vị ấy sẽ phạm nếu xả bỏ một đệ tử không xứng đáng bị xả bỏ ([Mv.I.27.5-8]). Các căn cứ để xả bỏ là bất kỳ điều nào trong năm điều sau:
- Đệ tử không có lòng thương yêu đối với vị thầy — tức là, vị ấy không thể hiện sự tử tế với ngài.
- Vị ấy không có tín tâm vào vị thầy — tức là, vị ấy không coi ngài là gương mẫu để noi theo.
- Vị ấy không có tàm trước mặt vị thầy — tức là, vị ấy công khai bỏ qua các học giới trước mặt vị thầy.
- Vị ấy không có tôn kính đối với vị thầy — tức là, vị ấy không lắng nghe những gì vị thầy nói và công khai không tuân theo ngài.
- Vị ấy không tiến bộ dưới sự hướng dẫn của vị thầy — Chú giải dịch tiến bộ ở đây là phát triển thiện chí đối với vị thầy, nhưng nó cũng có thể có nghĩa là tiến bộ trong việc học tập và tu tập Dhamma-Vinaya nói chung.
Vinaya-mukha lưu ý rằng vị thầy nên suy ngẫm về hành vi của bản thân trước khi xả bỏ đệ tử đó. Nếu ngài đã làm điều gì đó khiến đệ tử có lý do chính đáng để mất lòng thương yêu, v.v., ngài nên sửa đổi hành vi của bản thân trước. Chỉ sau khi suy ngẫm rằng không còn điều gì trong hành vi của mình có thể cho đệ tử lý do chính đáng để bất kính, ngài mới tiến hành việc xả bỏ.
Mahāvagga đề cập đến mỗi lời tuyên bố sau đây là phương tiện xả bỏ hợp lệ: "Tôi xả bỏ ông." "Đừng quay lại đây nữa." "Cầm lấy y bát của ông đi." "Đừng hầu hạ tôi nữa." Nó cũng tuyên bố rằng nếu vị thầy biểu thị bất kỳ ý nghĩa nào trong số này bằng cử chỉ — ví dụ, ngài đuổi đệ tử ra khỏi phòng và ném y bát ra theo — điều đó cũng được coi là phương tiện xả bỏ hợp lệ ([Mv.I.27.2]). Chú giải về [Mv.I.32] bổ sung rằng bất kỳ lời tuyên bố nào truyền đạt cùng ý nghĩa cơ bản như những lời trên đây cũng sẽ có giá trị.
Một khi đệ tử đã bị xả bỏ, bổn phận của vị ấy là xin lỗi. Nếu vị ấy không làm vậy, vị ấy sẽ phạm dukkaṭa ([Mv.I.27.3]). Một khi đệ tử đã xin lỗi, bổn phận của vị thầy là tha thứ ([Mv.I.27.4]). Tuy nhiên, nếu ngài thấy rằng đệ tử vẫn còn bất cẩn, ngài không nên nhận lại vị ấy, vì một vị thầy nhận một đệ tử bất cẩn sẽ phạm dukkaṭa ([Mv.I.72.1]). Do đó, vị thầy có thể, nếu ngài thấy phù hợp, áp đặt một hình phạt phi thân thể lên đệ tử trước khi nhận lại vị ấy trên cơ sở ban đầu, để đảm bảo rằng vị ấy đã thực sự nhận ra lỗi lầm của mình. Một ví dụ về hình phạt như vậy, được đề cập trong Vinaya-mukha, là đơn giản là yêu cầu chờ đợi để quan sát hành vi của đệ tử một thời gian nhằm kiểm tra xem lời xin lỗi của vị ấy có thành thật không.
Chú giải về [Mv.I.32] khuyến nghị rằng nếu vị thầy từ chối tha thứ cho đệ tử, vị ấy nên cố gắng nhờ các tỳ-kheo khác trong tu viện can thiệp cho mình. Nếu điều đó không hiệu quả, vị ấy nên đến ở một tu viện khác và y chỉ vào một tỳ-kheo thâm niên ở đó, người đang ở trong mối quan hệ thân thiện với vị thầy, với hy vọng rằng vị thầy sẽ xem điều này như dấu hiệu cho thiện chí của đệ tử và cuối cùng sẽ chấp thuận tha thứ. Nếu vì lý do nào đó đệ tử không thể ở tại tu viện khác đó, vị ấy có thể quay trở lại tu viện ban đầu và y chỉ vào một Giáo thọ khác.
#Các Trường Hợp Y Chỉ Mãn Hạn
[Mv.I.36.1] nói rằng nếu một đệ tử đang y chỉ với Hòa thượng của mình, sự y chỉ sẽ mãn hạn trong bất kỳ trường hợp nào sau đây:
- Ngài rời đi. Theo Chú giải, điều này có nghĩa là ngài rời khỏi tu viện, và sự y chỉ sẽ mãn hạn bất kể ngài có thông báo về việc ra đi hay không. Phụ Chú giải bổ sung rằng "rời đi" ở đây có thể có nghĩa là chỉ dành một đêm bên ngoài tu viện, và sự y chỉ mãn hạn bất kể ngài có dự định quay lại hay không.
- Ngài hoàn tục.
- Ngài qua đời.
- Ngài đi theo một phía khác — theo Chú giải, điều này có nghĩa là ngài gia nhập một tôn giáo khác.
Trong tất cả các trường hợp trên, các Chú giải giải thích "ngài" là chỉ Hòa thượng, mặc dù dường như nó cũng đề cập đến đệ tử. Điều này sẽ phù hợp với các đoạn văn từ Mahāvagga, sẽ được đề cập dưới đây, đề cập đến một tỳ-kheo mới đang trên đường hành trình là không trong sự y chỉ. Trong những trường hợp như vậy, tỳ-kheo mới rất có thể là người đã rời khỏi Hòa thượng, và việc vị ấy rời đi là nguyên nhân khiến sự y chỉ mãn hạn.
- Ngài ban lệnh. Đây là trường hợp duy nhất mà "ngài" rõ ràng chỉ đề cập đến Hòa thượng. Chú giải về [Mv.I.34] giải thích lệnh ở đây là xả bỏ, như đã thảo luận ở trên, nhưng cũng bao gồm các trường hợp Hòa thượng thấy rằng đệ tử đủ điều kiện được giải thoát khỏi sự y chỉ (xem bên dưới) và nói cho vị ấy biết như vậy.
Trong mỗi trường hợp này, một đệ tử chưa được giải thoát khỏi sự y chỉ phải tìm người khác để y chỉ vào ngay trong ngày hôm đó, ngoại trừ trong những trường hợp sau (lấy từ Chú giải):
— Hòa thượng rời đi, nói rằng ngài sẽ đi vắng chỉ một hoặc hai ngày, và đệ tử không cần phải xin y chỉ ai khác trong thời gian đó. Nếu việc trở về của Hòa thượng bị trì hoãn, ngài nên gửi tin tức cho đệ tử, nói rằng ngài vẫn có ý định quay lại. Tuy nhiên, nếu đệ tử nhận được tin từ Hòa thượng rằng ngài không còn có ý định trở về, vị ấy nên ngay lập tức tìm một Giáo thọ để y chỉ.
— Hòa thượng rời đi, và tỳ-kheo thâm niên duy nhất còn lại trong tu viện là người mà đệ tử chưa biết rõ. Trong trường hợp này, đệ tử được phép dành bốn hoặc năm ngày để quan sát hành vi của tỳ-kheo thâm niên (như đã đề cập ở trên) trước khi xin y chỉ từ vị ấy. Tuy nhiên, nếu đệ tử đã biết rõ tỳ-kheo thâm niên đủ để tin tưởng vào phẩm hạnh của vị ấy, vị ấy nên xin y chỉ vào vị ấy vào ngày Hòa thượng rời đi.
Nếu đệ tử đang y chỉ vào một Giáo thọ, sự y chỉ có thể mãn hạn vì bất kỳ trong sáu lý do. Năm lý do đầu giống hệt với những lý do trên, mặc dù ngay cả Chú giải cũng tuyên bố rằng "rời đi," lý do thứ nhất, áp dụng không chỉ cho các trường hợp Giáo thọ rời đi mà còn cho các trường hợp đệ tử rời đi. Lý do thứ sáu là:
- Đệ tử hội ngộ lại với Hòa thượng. Chú giải giải thích điều này bằng cách nói rằng, thực ra, sự y chỉ ban đầu của đệ tử vào Hòa thượng luôn luôn được ưu tiên hơn sự y chỉ vào Giáo thọ. Nếu đệ tử tình cờ nhìn thấy Hòa thượng và nhận ra ngài, hoặc nghe và nhận ra giọng nói của ngài — ngay cả khi họ chỉ tình cờ gặp nhau trên đường phố — sự y chỉ của vị ấy vào Giáo thọ sẽ tự động mãn hạn, và sự y chỉ của vị ấy vào Hòa thượng được tái lập. Nếu sau đó vị ấy quay lại sống với Giáo thọ, vị ấy phải xin y chỉ từ Giáo thọ một lần nữa từ đầu.
Vinaya-mukha phản đối phán quyết này, nói rằng "hội ngộ lại với Hòa thượng" nên đề cập đến việc đệ tử thực sự sống với Hòa thượng, hoặc ở một tu viện khác hoặc ở cùng tu viện nơi Giáo thọ sống. Tuy nhiên, đây là một lĩnh vực mà các Tăng đoàn khác nhau có cách giải thích khác nhau, và chính sách khôn ngoan là noi theo cách giải thích của Tăng đoàn trong đó mình đang sống.
#Miễn Trừ Tạm Thời Khỏi Sự Y Chỉ
Thông thường, một tỳ-kheo (bhikkhu) hạ lạp thấp được yêu cầu sống y chỉ dưới sự hướng dẫn của một vị thầy vào mọi lúc. Tuy nhiên, [Mv.I.73] cho phép vị ấy không cần xin y chỉ khi sống trong bất kỳ tình huống nào sau đây nếu không có tỳ-kheo đủ tiêu chuẩn nào để làm thầy:
- Vị ấy đang trên đường hành trình.
- Vị ấy đang bệnh.
- Vị ấy đang chăm sóc một người bệnh đã xin sự giúp đỡ của vị ấy (§).
- Vị ấy đang sống một mình trong rừng sâu, thiền định một cách thoải mái, có ý định xin y chỉ nếu một vị thầy đủ tiêu chuẩn xuất hiện.
Chú giải, khi thảo luận về những cho phép này, đưa ra những điểm sau:
Một tỳ-kheo đang trên đường hành trình được cho là không có vị thầy nào sẵn sàng nếu không có tỳ-kheo thâm niên đủ tiêu chuẩn nào đang đi cùng vị ấy. Nói cách khác, việc vị ấy tình cờ đi ngang qua một tu viện có chứa một vị thầy đủ tiêu chuẩn không có nghĩa là vị thầy đó có sẵn, và vị ấy được phép tiếp tục hành trình mà không cần xin y chỉ. Tuy nhiên, nếu vị ấy dành đêm ở một nơi mà vị ấy đã từng xin y chỉ trước đây, vị ấy nên xin y chỉ vào ngày đến. Nếu vị ấy đến một nơi chưa bao giờ đến trước đây và dự định chỉ ở hai hoặc ba ngày, vị ấy không cần xin y chỉ; nhưng nếu vị ấy dự định ở một tuần, vị ấy phải làm vậy. Nếu tỳ-kheo thâm niên mà vị ấy xin y chỉ nói, "Có ích gì khi xin y chỉ chỉ một tuần?" thì điều đó miễn trừ vị ấy khỏi yêu cầu này.
Còn về tỳ-kheo sống một mình trong rừng sâu, Chú giải nói rằng "thiền định một cách thoải mái" có nghĩa là việc thiền chỉ và thiền quán của vị ấy đang diễn ra suôn sẻ. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó, Chú giải nói rằng sự cho phép này chỉ áp dụng cho các tỳ-kheo mà thiền định của họ đang ở giai đoạn còn non nớt và có thể suy thoái nếu họ rời khỏi rừng; nếu một tỳ-kheo đã đạt được bất kỳ thánh quả nào — bắt đầu từ nhập lưu (stream-entry) — vị ấy không thể dùng sự cho phép này. Tại sao Chú giải lại giới hạn sự cho phép theo cách này, nó không nói.
Dù sao đi nữa, một khi tháng trước An Cư Mùa Mưa (vassa) đến và không có vị thầy phù hợp nào xuất hiện, tỳ-kheo hạ lạp thấp phải rời khỏi nơi ở trong rừng và tìm một nơi có vị thầy phù hợp để xin y chỉ trong suốt mùa An Cư.
#Giải Thoát Khỏi Sự Y Chỉ
Theo [Mv.I.53.4], một tỳ-kheo có thể được giải thoát khỏi sự y chỉ sau khi đã thọ giới được năm năm, với điều kiện vị ấy phải có kinh nghiệm và năng lực. Nếu vị ấy chưa có kinh nghiệm và năng lực, vị ấy phải tiếp tục ở trong sự y chỉ cho đến khi có được. Nếu vị ấy không bao giờ có được kinh nghiệm và năng lực, vị ấy phải ở trong sự y chỉ suốt cả cuộc đời tu hành. Chú giải bổ sung rằng, trong trường hợp cuối cùng này, nếu vị ấy không thể tìm thấy một tỳ-kheo đủ năng lực và kinh nghiệm nào thâm niên hơn mình, vị ấy phải xin y chỉ vào một tỳ-kheo đủ năng lực và kinh nghiệm nhưng hạ lạp thấp hơn mình.
Để được xem là đủ năng lực và kinh nghiệm để xứng đáng được giải thoát khỏi sự y chỉ, một tỳ-kheo phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn chung giống như những tiêu chuẩn đối với một vị thầy, ngoại trừ vị ấy không cần phải có năng lực chăm sóc đệ tử, và số năm tối thiểu cần có với tư cách là tỳ-kheo là năm năm. Không có văn bản nào chia các tiêu chuẩn ở đây thành tiêu chuẩn lý tưởng và tối thiểu, như họ làm đối với vị thầy, nhưng có vẻ hợp lý khi cùng sự phân chia đó cũng áp dụng ở đây. Điều này sẽ cho chúng ta danh sách sau:
Tiêu chuẩn lý tưởng: Tỳ-kheo nên có giới đức, định tâm, tuệ giác, giải thoát, và tri kiến giải thoát của bậc A-la-hán. Vị ấy nên có tín tâm, tàm, quý, tinh tấn trong tu tập, và chánh niệm nhanh nhạy. Vị ấy nên không phạm phải giới nặng hay giới nhẹ, và phải có chánh kiến.
Tiêu chuẩn tối thiểu: Tỳ-kheo phải uyên thâm và thông minh, biết chi tiết cả hai Pāṭimokkha, hiểu điều gì là phạm giới và điều gì không, điều gì là giới nhẹ, điều gì là giới nặng, và cách nào để sám hối giới lỗi. Và — điều kiện căn bản nhất — vị ấy phải đã thọ giới tỳ-kheo ít nhất năm năm ([Mv.I.53.5-13]).
Chú giải về [Mv.I.53], khi giải thích uyên thâm, đề cập đến định nghĩa của thuật ngữ này được đưa ra bởi Chú giải về [Pc 21], nói rằng một tỳ-kheo uyên thâm phải đã thuộc lòng:
- Cả hai Pāṭimokkha (dành cho tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni).
- Bốn Bhāṇavāras — một tập hợp các bài tụng cát tường vẫn được thuộc lòng thường xuyên ở Sri Lanka với tên gọi Mahā-parit poṭha.
- Một bài kinh có ích như hướng dẫn cho việc giảng pháp. (Chú giải liệt kê làm ví dụ: Mahā-Rāhulovāda Sutta ([MN 62]), Andhakavinda Sutta ([AN 5:114]), và Ambaṭṭha Sutta (DN 3).)
- Ba loại tụng kinh anumodanā (tùy hỷ công đức): dành cho bữa ăn; dành cho các nghi lễ tạo phúc đức cát tường, như khai lễ nhà mới; và dành cho các nghi lễ không cát tường, tức là bất kỳ nghi lễ nào liên quan đến cái chết.
Chú giải bổ sung rằng vị ấy còn phải biết các quy định cho các tăng-sự (saṅghakamma) như việc tụng đọc Pāṭimokkha và lễ pavāraṇā (Mời Lỗi) cuối mùa An Cư, và phải quen thuộc với các đề tài thiền chỉ và thiền quán dẫn đến quả vị A-la-hán.
Định nghĩa về uyên thâm này không được chấp nhận phổ biến, và một số truyền thống đã rút gọn lại. Vì đây là một lĩnh vực khác mà các Tăng đoàn khác nhau có những cách giải thích khác nhau, chính sách khôn ngoan là tuân theo thực hành được áp dụng trong Tăng đoàn của mình, miễn là nó tuân thủ các yêu cầu cơ bản trong Tạng Kinh.
Một khi đệ tử đã được giải thoát khỏi sự y chỉ, Chú giải nói rằng vị ấy không còn phải thực hiện các bổn phận được đề cập trong mục 4 và 5 thuộc các bổn phận của đệ tử đối với vị thầy nữa.
#Quay Trở Lại Sự Y Chỉ
Cullavagga (I.9-12) tuyên bố rằng một tỳ-kheo đã được giải thoát khỏi sự y chỉ có thể bị buộc — bằng một tăng-sự, gọi là tăng-sự giáng cấp (niyasa-kamma) hoặc tăng-sự y chỉ (nissaya-kamma) — phải quay trở lại sự y chỉ nếu hành vi của vị ấy tệ đến mức đáng bị như vậy. Các yếu tố cấu thành là:
- Vị ấy ngu dốt và thiếu kinh nghiệm.
- Vị ấy phạm đầy tội một cách bừa bãi (§).
- Vị ấy sống giao du không đúng mực với người tại gia.
Nếu những yếu tố này áp dụng cho một tỳ-kheo đến mức Tăng đoàn "phát ngán với việc cấp thời gian thử thách cho vị ấy, gửi vị ấy về lại từ đầu, áp đặt hành phạt, và phục hồi cho vị ấy" — những thuật ngữ này chỉ các thủ tục xử lý một tỳ-kheo đã phạm nhiều lần các tội saṅghādisesa (xem Chương 5) — thì Tăng đoàn có lý do chính đáng để áp đặt một tăng-sự giáng cấp (hoặc y chỉ) (xem BMC2, Chương 20). Điều này tương tự với một tăng-sự "trừng phạt thêm", sẽ được thảo luận trong Chương 11 của tập này, và mang cùng những hình phạt như vậy, cộng thêm hình phạt bổ sung rằng tỳ-kheo phải sống y chỉ dưới một vị thầy trong suốt thời gian tăng-sự còn hiệu lực. Nếu vị ấy sửa đổi cách hành xử đến mức Tăng đoàn hài lòng, họ có thể hủy bỏ tăng-sự và trả lại sự độc lập cho vị ấy.
\ \ \*
Như đã đề cập ở trên, Chú giải nói rằng bất kể đệ tử đang ở trong sự y chỉ hay đã được giải thoát khỏi nó, vị ấy vẫn được kỳ vọng tuân thủ một số bổn phận đối với Hòa thượng của mình — và Hòa thượng, một số bổn phận đối với vị ấy — miễn là cả hai còn sống và còn thọ giới. Điều này phù hợp với việc họ luôn phải xem nhau như cha và con: Hòa thượng phải tiếp tục quan tâm đến phúc lợi của đệ tử, và đệ tử phải thể hiện lòng biết ơn liên tục đối với sự dẫn nhập mà Hòa thượng đã đưa vị ấy vào đời sống của một tỳ-kheo.
Hết Section 0008 — Phần 2
CHAPTER TWO
Nissaya
The Dhamma and Vinaya impinge in such detail on so many areas of one’s life that no new bhikkhu can be expected to master them in a short time. For this reason, the Buddha arranged for a period of apprenticeship—called nissaya, or dependence—in which every newly ordained bhikkhu must train under the guidance of an experienced bhikkhu for at least five years before he can be considered competent to look after himself.
This apprenticeship has formed the human context in which the practice of the Buddha’s teachings has been passed down for the past 2,600 years. To overlook it is to miss one of the basic parameters of the life of the Dhamma and Vinaya. Thus we will discuss it here first, before going on to the individual training rules of the Pāṭimokkha.
Dependence is of two sorts: dependence on one’s preceptor (upajjhāya) and dependence on a teacher (ācariya). The relationships are similar—and in many details, identical—so the following discussion will use the word mentor to cover both preceptor and teacher wherever the pattern applies to both, and will distinguish them only where the patterns differ.
#Choosing a mentor
Before ordination, one must choose a bhikkhu to act as one’s preceptor. The Mahāvagga (I.36-37) gives a long list of qualifications a bhikkhu must meet before he can act as a preceptor, while the Commentary divides the list into two levels: ideal and minimal qualifications. A bhikkhu who lacks the minimal qualifications incurs a dukkaṭa if he acts as a preceptor; a bhikkhu who meets the minimal but lacks the ideal qualifications is not an ideal person to give guidance, but he incurs no penalty in doing so.
The ideal qualifications: The preceptor should have an arahant’s virtue, concentration, discernment, release, and knowledge and vision of release; and should be able to train another person to the same level of attainment. He should have faith, a sense of shame, a sense of compunction (in the American sense of the term, i.e., an reluctance to do wrong for fear of its consequences), persistence in the practice, and quick mindfulness (according to the Sub-commentary, this means that he is constantly mindful of whatever mental object is before the mind). He should be free of heavy and light offenses, and be possessed of right view. (This last point, the Commentary says, means that he does not adhere to the extremes of eternalism or annihilationism.) He should be competent to tend to a sick pupil or to find someone who will tend to him, and to dispel dissatisfaction in a pupil who wants to leave the celibate life.
The Mahāvagga does not say outright that these are ideal, as opposed to minimal, qualifications, but the Commentary offers as proof the fact that one of a pupil’s duties is to try to allay any dissatisfaction that may arise in his preceptor. If all preceptors were arahants, no case of this sort would ever arise and there would be no need to mention it. Thus the Commentary concludes that arahantship, although ideal in a preceptor, is not necessary.
The minimal qualifications: The preceptor must be learned and competent. According to the Commentary, this means that he knows enough of the Dhamma and Vinaya to govern a following and is competent enough to know what is and is not an offense. He must also be competent enough to allay, in line with the Dhamma, any anxiety that has arisen in his pupil; must know what is and is not an offense, what is a light offense, what is a heavy offense, and how an offense may be removed. He must have detailed knowledge of both Pāṭimokkhas (the one for the bhikkhus and the one for the bhikkhunīs) and be able to train the pupil in the bhikkhus’ customs (Com.: this means that he knows the Khandhakas), in the basic rules of the chaste life (Sub-com.: he knows both Vibhaṅgas), the higher Dhamma, and the higher Vinaya. He must be able, in line with the Dhamma, to pry his pupil away from a wrong view or to find someone who will help pry him away. And—the most basic requirement—he must have been ordained as a bhikkhu for ten years or more.
If, for some reason, the new bhikkhu lives in a separate monastery from his preceptor, he must take dependence under a teacher, whose qualifications are precisely the same as those for a preceptor. Because the Mahāvagga (I.72.1) gives a dukkaṭa for taking dependence under an unconscientious bhikkhu, the new bhikkhu is allowed four to five days to observe his potential teacher’s conduct before taking dependence under him ([Mv.I.72.2](./Section0054.html#Mv.I.72)).
#Taking dependence
Prior to his ordination—and usually, as part of the ceremony itself—the candidate must make a formal request for dependence from his preceptor. The procedure is as follows:
Arranging his upper robe over his left shoulder, leaving his right shoulder bare, he bows down to the preceptor and then, kneeling with his hands palm-to-palm over his heart, repeats the following passage three times:
Upajjhāyo me bhante hohi,
which means, “Venerable sir, be my preceptor.”
If the preceptor responds with any of these words—sāhu (very well), lahu (certainly), opāyikaṁ (all right), paṭirūpaṁ (it is proper), or pāsādikena sampādehi (attain consummation (in the practice) in an amicable way)—the dependence has taken hold. [Mv.I.25.7](./Section0054.html#Mv.I.25.7) adds that if the preceptor indicates any of these meanings by gesture, that also counts; and according to the Commentary, the same holds true if he makes any equivalent statement.
If, after his ordination, the new bhikkhu needs to request dependence from a teacher, the procedure is the same, except that the request he makes three times is this:
Ācariyo me bhante hohi; āyasmato nissāya vacchāmi,
which means, “Venerable sir, be my teacher; I will live in dependence on you.” ([Mv.I.32.2](./Section0054.html#Mv.I.32.2-3))
#Duties
The Mahāvagga (I.25.6; 32.1) states that a pupil should regard his mentor as a father; and the mentor, the pupil as his son. It then goes on to delineate this relationship as a set of reciprocal duties.
The pupil’s duties to his mentor
The pupil’s duties to his mentor fall into the following five categories:
1. Attending to the mentor’s personal needs. The Mahāvagga goes into great detail on this topic, giving precise instructions dealing with every conceivable way a pupil can be of service to his mentor. The Vinaya-mukha tries to reduce these duties to a few general principles, but this misses much of what the Mahāvagga has to offer, for the details are what show fine examples of mindfulness in action—the best way to fold a robe, clean a dwelling, and so forth—as well as indications of how one can use this aspect of one’s training to develop sensitivity to the needs of others. Still, the detailed instructions are so extensive that they would overburden the discussion in this chapter, so I have saved them for [Appendix X](./Section0028.html#appendixX). Here I will simply give them in outline form. The pupil should:
a. Arrange his mentor’s toiletries for his morning wash-up.
b. Arrange his seat and food for his morning conjey (if he has any) and clean up after he is finished.
c. Arrange his robes and bowl for his alms round.
d. Follow him on his alms round, if the mentor so desires, and take his robes and bowl when he returns.
e. Arrange his seat and food for his alms meal and clean up afterwards.
f. Prepare his bath. If he goes to the sauna, go with him and attend to his needs.
g. Study the Dhamma and Vinaya from him when he is prepared to teach. (The Mahāvagga describes this as “recitation” and “interrogation.” Recitation, according to the Commentary, means learning to memorize passages; interrogation, learning to investigate their meaning.)
h. Clean his dwelling and other parts of his dwelling complex, such as the restroom and storage rooms, when they get dirty.
2. Assisting the mentor in any problems he may have with regard to the Dhamma and Vinaya. The Mahāvagga lists the following examples:
a. If the mentor begins to feel dissatisfaction with the celibate life, the pupil should try to allay that dissatisfaction or find someone else who can, or give him a Dhamma talk.
b. If the preceptor begins to feel anxiety over his conduct with regard to the rules, the pupil should try to dispel that anxiety or find someone else who can, or give him a Dhamma talk.
c. If the preceptor begins to hold to wrong views, the pupil should try to pry him away from those views or find someone else who can, or give him a Dhamma talk.
d. If the preceptor has committed a saṅghādisesa offense, the pupil should—to the best of his ability—help with the arrangements for penance, probation, and rehabilitation, or find someone else who can.
e. If the Community is going to carry out a transaction against the mentor, the pupil should try to dissuade them from it. According to the Commentary, this means that he should go to the various members of the Community individually before the meeting and try to dissuade them from going through with the transaction. If he can’t dissuade them, he should try to get them to lessen its severity (say, from banishment to censure). If they are justified in carrying out the transaction, though, he should not object while the meeting is in progress. Once they have carried out the transaction, he should concentrate on helping his mentor behave so that they will rescind the transaction as quickly as possible.
3. Washing, making, and dyeing the mentor’s robes.
4. Showing loyalty and respect for the mentor.
a. The pupil should neither give nor receive gifts, nor give or receive services to/from others without first obtaining the mentor’s permission. According to the Commentary, others here means people who are on bad terms with the mentor.
b. The pupil should obtain his mentor’s permission before entering a village, going to a cemetery (to meditate, says, the Commentary), or leaving the district in which they live. The Commentary notes, though, that if the mentor refuses one’s request the first time, one should ask up to two more times, presenting one’s reasons as best one can. If the mentor still refuses, the pupil should reflect on his situation. If staying with the mentor is not helping his education and meditation, and if the mentor seems to want him to stay simply to have someone to look after his (the mentor’s) needs, the pupil is justified in leaving and taking dependence with a new mentor in his new residence.
5. Caring for the mentor when he falls ill, not leaving him until he either recovers or passes away ([Mv.I.25](./Section0054.html#Mv.I.25.6)).
According to the Commentary, a pupil is freed from these duties when he is ill. Otherwise, he should observe all the above duties to his preceptor as long as he is in dependence on him. It adds that the duties in sections 1-3 are incumbent on the pupil even after he is released from dependence, as long as both he and the preceptor are alive and still ordained, although not every Community follows the Commentary on this point.
As for the duties to one’s teacher, the Commentary lists four types of teachers: the going-forth teacher (the one who gives one the ten precepts during one’s ordination ceremony); the acceptance teacher (the one who chants the motion and proclamations during the ceremony); the Dhamma teacher (the one who teaches one the Pali language and Canon); and the dependence teacher (the one with whom one lives in dependence). With the dependence teacher and Dhamma teacher, one must observe all the above duties only as long as one is living in dependence on him. As for the other two, the Commentary adds that one should observe sections 1-3 as long as both parties are alive and still ordained—although, again, not all Communities follow the Commentary on this point.
The Commentary adds that if the mentor already has a pupil performing these duties for him, he may inform his remaining pupils that they need not take them on. This exempts them from having to observe them. If he neglects to do this, the pupil who is performing the duties may inform his fellows that he will take responsibility for looking after the mentor. This also exempts them. Otherwise, they incur a dukkaṭa for every duty they neglect to perform.
The mentor’s duties to his pupil
1. Furthering the pupil’s education, teaching him the Dhamma and Vinaya through recitation, interrogation, exhortation, and instruction.
2. Providing requisites for the pupil. If the pupil lacks any of his basic requisites, and the mentor has any to spare, he should make up the lack.
3. Attending to the pupil’s personal needs when he is ill, performing the services mentioned in section 1 under the pupil’s duties to his mentor.
4. Assisting the pupil in any problems he may have with regard to the Dhamma and Vinaya, performing the services mentioned in section 2 under the pupil’s duties to his mentor.
5. Teaching the pupil how to wash, make, and dye robes. If for some reason the pupil is unable to handle these skills, the mentor should try to find some way to get these tasks done.
6. Caring for the pupil when he falls ill, not leaving him until he either recovers or passes away ([Mv.I.26](./Section0054.html#Mv.I.26)).
According to the Commentary, the preceptor, going-forth teacher, and acceptance teacher must observe these duties toward the pupil as long as both parties are alive and still ordained. As for the Dhamma and dependence teachers, they must observe these duties only as long as the pupil is living with them.
#Dismissal
If the pupil does not observe his duties to his mentor, the mentor is empowered to dismiss him. In fact, if the pupil deserves dismissal, the mentor incurs a dukkaṭa if for some reason he does not dismiss him, just as he would for dismissing a pupil who did not deserve it ([Mv.I.27.5-8](./Section0054.html#Mv.I.27.5)). The grounds for dismissal are any of the following five:
- The pupil has no affection for his mentor—i.e., he shows him no kindness.
- He has no faith in his mentor—i.e., he does not regard him as an example to follow.
- He has no shame in front of his mentor—i.e., he openly disregards the training rules in his mentor’s presence.
- He has no respect for his mentor—i.e., he does not listen to what the mentor has to say and openly disobeys him.
- He is not developing under his mentor—the Commentary translates developing here as developing a sense of good will for his mentor, but it could also mean developing in his general education and practice of the Dhamma and Vinaya.
The Vinaya-mukha notes that the mentor should reflect on his own conduct before dismissing such a pupil. If he has done anything that would give the pupil valid reason for losing affection, etc., he should first correct his own conduct. Only after reflecting that there is no longer anything in his own conduct that would give the pupil valid reason to disregard him should he go ahead with the dismissal.
The Mahāvagga mentions each of the following statements as a valid means of dismissal: “I dismiss you.” “Don’t come back here.” “Take away your robes and bowl.” “Don’t attend to me.” It also states that if the mentor makes any of these meanings known by gesture—e.g., he evicts the pupil from his quarters and throws his robes and bowl out after him—that also counts as a valid means of dismissal ([Mv.I.27.2](./Section0054.html#Mv.I.27.2)). The Commentary to [Mv.I.32](./Section0054.html#Mv.I.32.1) adds that any statement conveying the same basic meaning as those above would count as well.
Once a pupil has been dismissed, his duty is to apologize. If he doesn’t, he incurs a dukkaṭa ([Mv.I.27.3](./Section0054.html#Mv.I.27.3-4)). Once the pupil has apologized, the mentor’s duty is to forgive him ([Mv.I.27.4](./Section0054.html#Mv.I.27.3-4)). If, however, he sees that the pupil is still unconscientious, he should not take him back, for a mentor who takes on an unconscientious pupil incurs a dukkaṭa ([Mv.I.72.1](./Section0054.html#Mv.I.72)). Thus the mentor may, if he sees fit, inflict a non-physical punishment on the pupil before taking him back on the original footing, to make sure that he has actually seen the error of his ways. An example of such punishment, mentioned in the Vinaya-mukha, is simply asking to wait to observe the pupil’s behavior for a while to test whether his apology is sincere.
The Commentary to [Mv.I.32](./Section0054.html#Mv.I.32.1) recommends that if the mentor refuses to forgive the pupil, the latter should try to get other bhikkhus in the monastery to intercede for him. If that doesn’t work, he should go stay in another monastery and take dependence under a senior bhikkhu there who is on congenial terms with the mentor, in hopes that the mentor will take this as a sign of the pupil’s good intentions and will eventually grant his forgiveness. If for some reason the pupil cannot stay at that other monastery, he may return to his original monastery and take dependence under another teacher.
#Dependence lapses
[Mv.I.36.1](./Section0054.html#Mv.I.36.1) says that if a pupil is staying in dependence with his preceptor, the dependence lapses in any of the following scenarios:
- He leaves. According to the Commentary, this means that he moves from the monastery, and that dependence lapses regardless of whether he gives notice of his move. The Sub-commentary adds that “moving” here can mean even spending one night outside the monastery, and that dependence lapses regardless of whether he plans to return.
- He disrobes.
- He dies.
- He goes over to another side—according to the Commentary, this means that he joins another religion.
In all of the above cases, the commentaries interpret “he” as referring to the preceptor, although it would seem to refer to the pupil as well. This would fit with the passages from the Mahāvagga, to be mentioned below, that refer to a new bhikkhu on a journey as not being in dependence. In such cases, the new bhikkhu is most likely the one who has left the preceptor, and his leaving is what has caused the dependence to lapse.
- He gives a command. This is the one alternative where “he” clearly refers only to the preceptor. The Commentary to [Mv.I.34](./Section0054.html#Mv.I.34) interprets command here as dismissal, as discussed above, but also as including cases where the preceptor sees that the pupil qualifies to be released from dependence (see below) and tells him so.
In each of these cases, a pupil who is not yet released from dependence must find someone else to take dependence under on that very day, except in the following instances (taken from the Commentary):
—The preceptor leaves, saying that he will be away only for a day or two, and that the pupil need not ask anyone else for dependence in the meantime. If the preceptor’s return is delayed, he should send word to his pupil, saying that he still intends to come back. If, however, the pupil receives word from his preceptor that the latter no longer intends to return, he should immediately look for a teacher under whom to take dependence.
—The preceptor leaves, and the only other senior bhikkhu in the monastery is one whom the pupil does not know well. In this case, the pupil is allowed four or five days to observe the senior bhikkhu’s behavior (as mentioned above) before requesting dependence from him. If, though, the pupil already knows the senior bhikkhu well enough to feel confident in his conduct, he should take dependence with him on the day of his preceptor’s departure.
If the pupil is staying in dependence on a teacher, the dependence can lapse for any of six reasons. The first five are identical with those above, although even the Commentary states that “he leaves,” the first reason, applies not only to cases where the teacher leaves but also to cases where the pupil leaves. The sixth reason is:
- The pupil rejoins his preceptor. The Commentary explains this by saying that, in effect, the pupil’s original dependence on his preceptor always overrides his dependence on a teacher. If the pupil happens to see his preceptor and recognize him, or to hear and recognize his voice—even if they just happen to pass on the street—his dependence on his teacher automatically lapses, and his dependence on his preceptor is reinstated. If he then returns to live with his teacher, he must ask for dependence from the teacher all over again.
The Vinaya-mukha objects to this judgment, saying that “rejoins the preceptor” should refer to the pupil’s actually living with the preceptor, either in another monastery or in the same monastery where the teacher lives. This, however, is an area where different Communities differ in their interpretation, and the wise policy is to follow the interpretation of the Community in which one lives.
#Temporary exemption from dependence
Normally a junior bhikkhu is required to live in dependence under a mentor at all times. However, [Mv.I.73](./Section0054.html#Mv.I.73) allows him not to take dependence when living in any of the following situations if no qualified bhikkhu is available as a mentor:
- He is on a journey.
- He is ill.
- He is caring for an ill person who has requested his help (§).
- He is living alone in the wilderness, meditating comfortably, intending to take dependence if a qualified mentor comes along.
The Commentary, in discussing these allowances, makes the following points:
A bhikkhu on a journey is said to have no mentor available if no qualified senior bhikkhu is traveling with him. In other words, the fact that he happens to pass by a monastery containing a qualified mentor does not mean that a mentor is available, and he is allowed to continue traveling without taking dependence. If, however, he spends the night in a place where he has taken dependence before, he should take dependence on the day of his arrival. If he reaches a place where he has never been before and plans to spend only two or three days, he need not take dependence; but if he plans to spend a week, he must. If the senior bhikkhu he requests dependence from says, “What’s the use of taking dependence for only a week?” that exempts him from this requirement.
As for the bhikkhu living alone in the wilderness, the Commentary says that “meditating comfortably” means that his tranquility and insight meditation are going smoothly. For some reason, though, it says that this allowance applies only to bhikkhus whose meditation is at a tender stage and might deteriorate if they were to leave the wilderness; if a bhikkhu has attained any of the noble attainments—beginning with stream-entry—he may not make use of this allowance. Why the Commentary limits the allowance in this way, it doesn’t say.
At any rate, once the month before the Rains-residence (vassa) arrives and no suitable mentor appears, the junior bhikkhu must leave his wilderness abode and look for a place with a suitable mentor under whom he can take dependence for the Rains.
#Release from dependence
According to [Mv.I.53.4](./Section0054.html#Mv.I.53.4), a bhikkhu may be released from dependence after he has been ordained for five years, on the condition that he be experienced and competent. If he is not yet experienced and competent, he must remain under dependency until he is. If he never becomes experienced and competent, he must remain in dependence for his entire life as a bhikkhu. The Commentary adds that, in the last case, if he cannot find a competent experienced bhikkhu who is senior to him, he must take dependence with a competent, experienced bhikkhu who is his junior.
To be considered competent and experienced enough to deserve release from dependence, a bhikkhu must meet many of the same general qualifications as those for a mentor, except that he need not possess the competence to look after a pupil, and the minimum number of years he needs as a bhikkhu is five. None of the texts divide the qualifications here into ideal and minimal qualifications, as they do for the mentor, but it seems reasonable that the same division would apply here as well. This would give us the following list:
The ideal qualifications: The bhikkhu should have an arahant’s virtue, concentration, discernment, release, and knowledge and vision of release. He should have faith, a sense of shame, compunction, persistence in the practice, and quick mindfulness. He should be free of heavy and light offenses, and possess right view.
The minimal qualifications: The bhikkhu must be learned and intelligent, knowing both Pāṭimokkhas in detail, understanding what is and is not an offense, what is a light offense, what is a heavy offense, and how an offense may be removed. And—the most basic requirement—he must have been ordained as a bhikkhu for at least five years ([Mv.I.53.5-13](./Section0054.html#Mv.I.53.5-9)).
The Commentary to [Mv.I.53](./Section0054.html#Mv.I.53.5-9), in explaining learned, refers to the definition of the term given by the Commentary to [Pc 21](./Section0018.html#Pc21), which says that a learned bhikkhu must have memorized:
- Both Pāṭimokkhas (for the bhikkhus and bhikkhunīs).
- The Four Bhāṇavāras—a set of auspicious chants that are still regularly memorized in Sri Lanka as the Mahā-parit poṭha.
- A discourse that is helpful as a guide for sermon-giving. (The Commentary lists as examples the Mahā-Rāhulovāda Sutta ([MN 62](/suttas/MN/MN62.html)), the Andhakavinda Sutta ([AN 5:114](/suttas/AN/AN5_114.html)), and the Ambaṭṭha Sutta (DN 3).)
- Three kinds of anumodanā (rejoicing in the merit of others) chants: for meals; for auspicious merit-making ceremonies, such as blessing a house; and for non-auspicious ceremonies, i.e., any relating to a death.
The Commentary adds that he must also know the rules for such Community transactions as the Pāṭimokkha recitation and the Invitation at the end of the Rains-residence, and be acquainted with themes for tranquility and insight meditation leading to arahantship.
This definition of learned is not universally accepted, and some traditions have reworked it. As this is another area where different Communities have different interpretations, the wise policy is to adhere to the practice followed in one’s Community, as long as it follows the basic requirements in the Canon, mentioned above.
Once a pupil has been released from dependence, the Commentary states that he need no longer perform the duties mentioned in sections 4 and 5 under the pupil’s duties to his mentor.
#Return to dependence
The Cullavagga (I.9-12) states that a bhikkhu released from dependence may be forced, by a Community transaction—called either a demotion transaction (niyasa-kamma) or a dependence transaction (nissaya-kamma)—to return to dependence if his conduct is so bad as to warrant it. The qualifying factors are:
- He is ignorant and inexperienced.
- He is indiscriminately full of offenses (§).
- He lives in unbecoming association with lay people.
If these factors apply to a bhikkhu to the extent that the Community is “fed up with granting him probation, sending him back to the beginning, imposing penance, and rehabilitating him”—these terms refer to the procedures for dealing with a bhikkhu who has committed repeated saṅghādisesa offenses (see [Chapter 5](./Section0011.html#BMC1chapter5))—then the Community is justified in imposing a demotion (or dependence) transaction (see [BMC2, Chapter 20](./Section0060.html#BMC2chapter20)). This is similar to a “further punishment” transaction, to be discussed in [Chapter 11](./Section0027.html#BMC1chapter11) of this volume, and carries the same penalties with the additional penalty that the bhikkhu must live in dependence under a mentor as long as the transaction is in effect. If he mends his ways to the Community’s satisfaction, they may rescind the transaction and return his independence.
\ \ \*
As mentioned above, the Commentary states that regardless of whether a pupil is under dependence or released from it, he is still expected to observe certain duties to his preceptor—and his preceptor, certain duties to him—as long as both are alive and ordained. This is in line with the fact that they are always to regard each other as father and son: The preceptor is to take a continuing interest in his pupil’s welfare, and the pupil is to show his continuing gratitude for the initiation his preceptor has given him into the bhikkhu’s life.