#21
Vị tỳ-kheo (bhikkhu) nào, khi chưa được ủy quyền, khuyến giáo các tỳ-kheo-ni (bhikkhunī), phạm tội ba-dật-đề (pācittiya) phải sám hối.
"Lúc bấy giờ, các trưởng lão tỳ-kheo khuyến giáo các tỳ-kheo-ni đã nhận được y phục, thức ăn khất thực, chỗ trú ngụ và thuốc men cho người bệnh. (Theo Chú Giải, nếu một tỳ-kheo khuyến giáo tốt cho các tỳ-kheo-ni, họ sẽ kể với những người hộ trì, và những người này sẽ cúng dường vật dụng cho vị khuyến giáo đó.) Một số tỳ-kheo thuộc nhóm sáu người nảy sinh suy nghĩ: 'Hiện tại, các trưởng lão tỳ-kheo khuyến giáo các tỳ-kheo-ni đã trở thành người nhận y phục, thức ăn khất thực, chỗ trú ngụ và thuốc men cho người bệnh. Chúng ta cũng hãy khuyến giáo các tỳ-kheo-ni.' Vậy là, sau khi đến gặp các tỳ-kheo-ni, họ nói: 'Này các ni, hãy đến với chúng tôi, chúng tôi cũng sẽ khuyến giáo các ni.'
"Vậy là các tỳ-kheo-ni đến gặp nhóm sáu tỳ-kheo và sau khi đến nơi, sau khi đảnh lễ, ngồi xuống một bên. Rồi nhóm sáu tỳ-kheo, sau khi nói một bài pháp sơ sài và dành cả ngày trong những câu chuyện thế tục, cho phép các tỳ-kheo-ni ra về: 'Các ni có thể đi rồi.'
"Rồi các tỳ-kheo-ni đến gặp Thế Tôn và sau khi đến nơi, sau khi đảnh lễ Ngài, đứng sang một bên. Khi đứng như vậy, Thế Tôn nói với các tỳ-kheo-ni: 'Ta mong buổi khuyến giáo có hiệu quả, thưa các ni.'
"'Bạch Thế Tôn, buổi khuyến giáo sao có thể hiệu quả được? Nhóm sáu tỳ-kheo, chỉ nói một bài pháp sơ sài rồi cho chúng con ra về sau khi dành cả ngày trong những câu chuyện thế tục.'"
Khi Mahāpajāpatī Gotamī, cô ruột và mẹ kế của Đức Phật, thỉnh cầu Ngài thành lập ni đoàn, Ngài đã làm vậy với điều kiện là bà và tất cả các tỳ-kheo-ni tương lai phải chấp nhận tám quy tắc kính lễ (garu-dhamma). (Thuật ngữ này đôi khi được dịch là "giới nặng" hay "giới quan trọng," nhưng Chú Giải giải thích là có nghĩa là những lời thề mà các tỳ-kheo-ni phải chấp nhận với tâm cung kính.) Tóm tắt là:
1) Dù một tỳ-kheo-ni đã thọ giới hơn một thế kỷ cũng phải đảnh lễ một tỳ-kheo được thọ giới ngay trong ngày hôm đó. 2) Một tỳ-kheo-ni không được an cư ở nơi không có tỳ-kheo (trong phạm vi nửa do-tuần, theo Chú Giải). 3) Mỗi nửa tháng, một tỳ-kheo-ni nên mong đợi hai điều từ Tăng đoàn tỳ-kheo: sự cho phép hỏi ngày tụng Pāṭimokkha (Giới Bổn) và sự cho phép đến xin khuyến giáo. 4) Vào cuối kỳ an cư kiết hạ, mỗi tỳ-kheo-ni phải thỉnh cầu nhận sự chỉ trích từ cả Tăng đoàn tỳ-kheo-ni lẫn Tăng đoàn tỳ-kheo. 5) Một tỳ-kheo-ni đã vi phạm bất kỳ quy tắc kính lễ nào phải chịu hình phạt mānatta trong nửa tháng dưới cả hai Tăng đoàn. 6) Một người phụ nữ chỉ có thể thọ giới tỳ-kheo-ni sau khi, với tư cách là sikkhamānā (nữ học giới), đã giữ sáu giới đầu trong mười giới mà không phạm lỗi trong suốt hai năm đầy đủ. (Rõ ràng là bà đã làm điều này khi còn là nữ sa-di mười giới, dù điểm này còn gây tranh luận.) 7) Một tỳ-kheo-ni không được lăng mạ hay chỉ trích một tỳ-kheo theo bất kỳ cách nào. Theo Chú Giải, điều này có nghĩa là bà không được lăng mạ vị ấy bằng bất kỳ trong mười akkosa-vatthu (xem [Pc 2](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc2)) hay bất kỳ vấn đề nào khác, cũng không được đe dọa gây hại cho vị ấy.) 8) Một tỳ-kheo-ni không được chỉ dạy một tỳ-kheo, trong khi một tỳ-kheo có thể chỉ dạy một tỳ-kheo-ni. (Theo Chú Giải, điều này có nghĩa là một tỳ-kheo-ni không được ra lệnh cho một tỳ-kheo về cách hành xử. Tuy nhiên, Chú Giải ghi chú, bà có thể dạy vị ấy theo cách gián tiếp hơn, ví dụ như nói: "Ngày xưa, các vị đại tỳ-kheo đã hành xử như vậy.")
Điều giới này liên quan đến buổi khuyến giáo hai tuần một lần được đề cập trong lời thề thứ ba. Hình thức của buổi khuyến giáo là: một khi một tỳ-kheo đã được các tỳ-kheo chọn để khuyến giáo các tỳ-kheo-ni, vị ấy phải quét dọn nơi diễn ra buổi khuyến giáo trong tu viện nơi vị ấy đang cư trú, đặt nước uống và nước rửa, sắp xếp chỗ ngồi cho các tỳ-kheo-ni, tìm một người bạn đồng hành nam giới, rồi ngồi chờ các tỳ-kheo-ni đến. Khi các ni đã đến, vị ấy phải hỏi xem tất cả các tỳ-kheo-ni đã có mặt chưa và tám quy tắc kính lễ có đang được giữ gìn không (§). (Theo Chú Giải, câu hỏi cuối này có nghĩa là: "Các ni có giữ chúng trong ký ức để chúng còn tươi mới trong tâm trí không?") Nếu không, vị ấy phải đọc lại tám quy tắc. Nếu có, vị ấy sẽ trình bày buổi khuyến giáo.
Vì tám quy tắc tạo thành trọng tâm của buổi khuyến giáo, hai yếu tố phạm tội đầy đủ theo điều giới này được xác định như sau:
1) Đối tượng: một tỳ-kheo-ni hoặc một nhóm tỳ-kheo-ni. 2) Nỗ lực: Một tỳ-kheo khuyến giáo vị ni/các vị ni về tám quy tắc kính lễ khi vị ấy không được Tăng đoàn ủy quyền đúng cách để làm vậy, cũng không được vị tỳ-kheo-ni/các vị tỳ-kheo-ni thỉnh cầu để giảng dạy.
Đối tượng
Một tỳ-kheo-ni phải trải qua thọ giới kép, đầu tiên trong Ni đoàn rồi trong Tăng đoàn tỳ-kheo, trước khi được coi là đã thọ giới đầy đủ. Do đó, chỉ một tỳ-kheo-ni đã thọ giới kép đầy đủ mới là căn cứ phạm tội pācittiya ở đây. Một tỳ-kheo-ni chỉ mới thọ giới lần đầu, từ Ni đoàn, là căn cứ phạm tội đột-kiết-la (dukkaṭa), trong khi các nữ học giới và nữ sa-di không phải căn cứ phạm tội.
Nỗ lực
Một tỳ-kheo, không được ủy quyền đúng cách, khuyến giáo các tỳ-kheo-ni về bất kỳ chủ đề nào khác ngoài tám quy tắc thì phạm tội dukkaṭa.
Sự ủy quyền
Khi điều giới này còn mới được ban hành, một số tỳ-kheo thuộc nhóm sáu người chỉ đơn giản ủy quyền cho nhau để tiếp tục khuyến giáo các tỳ-kheo-ni. Điều này buộc Đức Phật phải thiết lập các tiêu chuẩn nghiêm ngặt cho loại tỳ-kheo có thể được ủy quyền đúng cách. Tóm tắt là:
- Vị ấy giữ giới luật nghiêm cẩn.
- Vị ấy rất uyên thâm và hiểu thấu đáo các giáo lý của đời sống phạm hạnh.
- Vị ấy đã thông thạo cả Pāṭimokkha của tỳ-kheo lẫn Pāṭimokkha của tỳ-kheo-ni.
- Vị ấy có giọng nói và cách truyền đạt dễ nghe.
- Vị ấy được hầu hết các tỳ-kheo-ni yêu mến. (Như Chú Giải ghi chú, điều này có nghĩa là vị ấy được các tỳ-kheo-ni có học, có giới và có trí tuệ yêu mến.)
- Vị ấy có khả năng khuyến giáo các tỳ-kheo-ni. (Điều này, theo Chú Giải, có nghĩa là vị ấy có thể trích dẫn các đoạn kinh và các lý do khác để khơi dậy trong các tỳ-kheo-ni cảm thức về những nguy hiểm trong vòng luân hồi.)
- Vị ấy trước khi thọ giới chưa bao giờ vi phạm một giới quan trọng với người mang y vàng. (Điều này, theo Chú Giải, có nghĩa là vị ấy chưa bao giờ tiếp xúc thân thể với một tỳ-kheo-ni hay giao hợp với một nữ học giới hoặc nữ sa-di.)
- Vị ấy đã là tỳ-kheo ít nhất 20 năm.
Liên quan đến điều kiện đầu tiên trong số này, [Cv.II.1.2](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0059.html#Cv.II.1.2) ghi chú rằng một tỳ-kheo đang thực hiện mānatta hay tập hành (probation) cho một tội tăng-già-bà-thi-sa (saṅghādisesa) không nên chấp nhận sự ủy quyền để khuyến giáo các tỳ-kheo-ni; dù được ủy quyền, vị ấy cũng không nên khuyến giáo họ. Hạn chế tương tự áp dụng cho các tỳ-kheo đang thực hiện các nhiệm vụ được áp đặt bởi một pháp yết-ma quở trách, hình phạt thêm, giáng cấp, trục xuất, đình chỉ hay hòa giải. (Xem [BMC2, Chương 20](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0060.html#BMC2chapter20). Để biết thêm chi tiết về thủ tục ủy quyền, xem [BMC2, Chương 23](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0065.html#BMC2chapter23).)
Như Chú Giải ghi chú, nhóm sáu tỳ-kheo chưa bao giờ có được tám phẩm chất trên dù chỉ trong giấc mơ.
Nhận thức của một người về việc liệu mình có được ủy quyền đúng cách hay không không phải là yếu tố ở đây (xem [Pc 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc4)).
Các trường hợp không phạm tội
Mặc dù điều giới này xuất phát từ thời điểm các tỳ-kheo nhiệt tình khuyến giáo các tỳ-kheo-ni, nhưng thời thế đã thay đổi. Cullavagga ([Cv.X.9.5](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0065.html#Cv.X.9.5)) đề cập đến một thời kỳ khi các tỳ-kheo cố tránh khuyến giáo các tỳ-kheo-ni, và [Cv.X.9.4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0065.html#Cv.X.9.4) kể về điều gì nên làm khi không có tỳ-kheo nào đủ điều kiện để khuyến giáo họ. (Các tỳ-kheo phải nói với họ: "Hãy cố gắng viên mãn [trong tu tập] theo cách hòa hảo.")
Dù vậy, ngay cả trong những trường hợp này, các tỳ-kheo-ni cũng không bị bỏ lơ. Họ có thể đến gặp bất kỳ tỳ-kheo nào họ kính ngưỡng và thỉnh cầu vị ấy giảng dạy. Vì vậy, các điều khoản không phạm tội của Vibhaṅga ở đây nói rằng: "Không có tội khi, sau khi đã trình bày phần giải thích, đã hỏi phần vấn đáp, rồi sau khi được các tỳ-kheo-ni thỉnh cầu đọc tụng, vị ấy đọc tụng." Theo Chú Giải, "giải thích" ở đây có nghĩa là đọc tụng tám quy tắc bằng tiếng Pali, còn "vấn đáp" có nghĩa là chú giải cổ xưa về tám quy tắc. Điều cuối này khó có thể đúng. Điều có vẻ đúng hơn là "giải thích" có nghĩa là xác nhận rằng các tỳ-kheo-ni đã có mặt đầy đủ; "vấn đáp" là hỏi họ về việc liệu họ đã thuộc lòng tám quy tắc hay chưa. Dù sao, Chú Giải tiếp tục nói rằng khi một tỳ-kheo được mời như vậy, vị ấy được tự do nói về tám quy tắc hoặc bất kỳ chủ đề Pháp nào khác mà không phạm tội. Tuy nhiên, điều này có vẻ khó chấp nhận, vì Vibhaṅga rất chính xác trong thuật ngữ nó sử dụng cho các giai đoạn khác nhau dẫn đến buổi khuyến giáo, và osāreti (đọc tụng) không phải là động từ nó dùng để nói về một chủ đề. Thay vào đó, nó thường có nghĩa là lặp lại một đoạn từ ký ức.
Tuy nhiên, có một điều khoản không phạm tội trong Vibhaṅga cho phép một tỳ-kheo chưa được ủy quyền khuyến giáo một tỳ-kheo-ni (hoặc các tỳ-kheo-ni) về tám quy tắc hoặc bất kỳ chủ đề nào khác trong tình huống sau: nếu, khi được một tỳ-kheo-ni hỏi một câu hỏi, vị ấy trả lời câu hỏi của bà. Cũng không có tội nếu một tỳ-kheo-ni tình cờ nghe thấy bất kỳ hướng dẫn nào mà vị ấy đang giảng vì lợi ích của người khác.
Các điều khoản phụ
Vibhaṅga của điều giới này bao gồm một thảo luận về ba điều khoản phụ liên quan đến việc khuyến giáo các tỳ-kheo-ni:
1) Một tỳ-kheo, dù đã được ủy quyền, phạm tội dukkaṭa nếu vị ấy khuyến giáo một nhóm tỳ-kheo-ni chưa đầy đủ, bất kể vị ấy có nhận thức họ là đầy đủ hay không. Phụ Chú Giải ghi chú, tuy nhiên, rằng theo Vibhaṅga của [Pc 58](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bhikkhuni-pati.html#pc-part6) của tỳ-kheo-ni, một tỳ-kheo-ni ốm đau không bắt buộc phải đến buổi khuyến giáo. Vì vậy, nếu tất cả các tỳ-kheo-ni trừ những người ốm đau đã đến, nhóm được tính là đầy đủ. Nếu nhóm đầy đủ mà tỳ-kheo vẫn nhận thức là không đầy đủ hoặc hoài nghi, thì nếu vị ấy vẫn tiến hành khuyến giáo, vị ấy phạm tội dukkaṭa. 2) Nếu một tỳ-kheo đã được ủy quyền, sau khi hỏi các tỳ-kheo-ni xem họ đã có mặt đầy đủ chưa, nói về một Pháp khác (thay vì hỏi họ có thuộc lòng tám quy tắc chưa), vị ấy phạm tội dukkaṭa. 3) Nếu không có phần giới thiệu buổi khuyến giáo trước mà vị ấy nói về một Pháp khác, vị ấy phạm tội dukkaṭa. Theo Chú Giải, "giới thiệu" một buổi khuyến giáo đơn giản chỉ là thông báo: "Này các ni, đây là buổi khuyến giáo." (Xem câu chuyện nguồn gốc của điều giới tiếp theo để thấy một ví dụ về thực hành này.) Nói cách khác, tội dukkaṭa ở đây là vì chỉ lao vào bài giảng mà không tuân theo các nghi thức đúng đắn.
Tóm tắt: Khuyến giáo một tỳ-kheo-ni về tám quy tắc kính lễ — trừ khi đã được Tăng đoàn ủy quyền làm vậy hoặc được một tỳ-kheo-ni hỏi câu hỏi — là tội pācittiya.
#22
Vị tỳ-kheo nào, dù đã được ủy quyền, khuyến giáo các tỳ-kheo-ni sau khi mặt trời lặn, phạm tội pācittiya phải sám hối.
"Lúc bấy giờ đến lượt Đại đức Cūḷapanthaka khuyến giáo các tỳ-kheo-ni. Các tỳ-kheo-ni nói: 'Hôm nay buổi khuyến giáo sẽ không hiệu quả, vì Đại đức Cūḷapanthaka chỉ nói đi nói lại cùng một bài kệ.'
"Rồi các tỳ-kheo-ni đến gặp Đại đức Cūḷapanthaka và sau khi đến nơi, sau khi đảnh lễ ngài, ngồi xuống một bên. Khi ngồi như vậy, Đại đức Cūḷapanthaka nói với các tỳ-kheo-ni: 'Các ni đã có mặt đầy đủ chưa?'
"'Thưa vâng, bạch Đại đức, chúng con đã có mặt đầy đủ.'
"'Tám quy tắc kính lễ có đang được giữ gìn không?'
"'Thưa vâng, bạch Đại đức, chúng đang được giữ gìn.'
"Sau khi giới thiệu (buổi khuyến giáo bằng cách nói:) 'Này các ni, đây là buổi khuyến giáo,' ngài nói bài kệ này đi nói lại:
Với chánh niệm cao độ và không phóng dật, bậc ẩn sĩ được huấn luyện trong các phương pháp của tuệ trí: Người Như Vậy không có sầu muộn, an tịnh và luôn chánh niệm.
"Các tỳ-kheo-ni nói (với nhau): 'Chúng ta chẳng đã nói rồi sao? Hôm nay buổi khuyến giáo sẽ không hiệu quả, vì bây giờ Đại đức Cūḷapanthaka chỉ nói đi nói lại cùng một bài kệ.'
"Đại đức Cūḷapanthaka nghe thấy câu chuyện của các tỳ-kheo-ni. Ngài bay lên không trung, đi lại trong hư không, trong bầu trời, đứng, ngồi, nằm xuống, phát ra khói, phát ra lửa và biến mất, vừa nói bài kệ đó vừa nói nhiều lời dạy khác của Đức Phật. Các tỳ-kheo-ni nói: 'Thật vi diệu! Thật kỳ diệu! Chưa bao giờ có buổi khuyến giáo nào hiệu quả như buổi khuyến giáo của Đại đức Cūḷapanthaka!'
"Rồi Đại đức Cūḷapanthaka, sau khi khuyến giáo các tỳ-kheo-ni cho đến khi trời tối, cho phép các ni ra về: 'Các ni có thể đi rồi.' Vậy là các tỳ-kheo-ni — cổng thành đã đóng — qua đêm bên ngoài tường thành và chỉ vào thành sau khi trời sáng. Người ta chỉ trích và phàn nàn và nói rộng ra rằng: 'Những tỳ-kheo-ni này không trong sạch. Sau khi qua đêm với các tỳ-kheo trong tu viện, giờ này mới vào thành.'"
Hai yếu tố phạm tội đầy đủ ở đây là: đối tượng và nỗ lực.
Đối tượng
Như với điều giới trước, một tỳ-kheo-ni hoặc một nhóm tỳ-kheo-ni đã thọ giới kép là căn cứ phạm tội pācittiya ở đây. Một tỳ-kheo-ni chỉ mới thọ giới lần đầu, từ Ni đoàn, là căn cứ phạm tội dukkaṭa, trong khi các nữ học giới và nữ sa-di không phải căn cứ phạm tội.
Nỗ lực
Vị ấy khuyến giáo tỳ-kheo-ni/các tỳ-kheo-ni về tám quy tắc hoặc bất kỳ Pháp nào khác sau khi mặt trời đã lặn. Nhận thức về việc mặt trời đã thực sự lặn hay chưa không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây (xem [Pc 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc4)).
Các trường hợp không phạm tội
Mặc dù câu chuyện nguồn gốc gợi ý rằng trong bất kỳ trường hợp nào cũng không nên giảng dạy cho các tỳ-kheo-ni sau khi mặt trời lặn — vì những nghi ngờ mà hành động đó có thể gây ra — các điều khoản không phạm tội lại đề cao nguyện vọng được học Pháp của các tỳ-kheo-ni hơn là nỗi lo sợ về những kẻ thế tục hay nói chuyện thị phi. Như trong điều giới trước, một tỳ-kheo có thể đọc tụng cho các tỳ-kheo-ni sau khi mặt trời lặn nếu, sau khi vị ấy đã trình bày phần giải thích và vấn đáp, các ni thỉnh cầu vị ấy đọc tụng. Vị ấy cũng không phạm tội nếu dạy bất kỳ chủ đề Pháp nào sau khi mặt trời lặn để trả lời câu hỏi của một tỳ-kheo-ni, hoặc nếu một tỳ-kheo-ni sau khi mặt trời lặn tình cờ nghe thấy bất kỳ hướng dẫn nào vị ấy đang giảng vì lợi ích của người khác. Và, như đã đề cập ở trên, các nữ học giới và nữ sa-di không phải căn cứ phạm tội theo điều giới này.
Tóm tắt: Khuyến giáo các tỳ-kheo-ni về bất kỳ chủ đề nào sau khi mặt trời lặn — trừ khi họ thỉnh cầu — là tội pācittiya.
#23
Vị tỳ-kheo nào, sau khi đến khu vực cư trú của các tỳ-kheo-ni, khuyến giáo các tỳ-kheo-ni — trừ vào thời điểm thích hợp — phạm tội pācittiya phải sám hối. Ở đây, thời điểm thích hợp là: Một tỳ-kheo-ni đang ốm đau. Đây là thời điểm thích hợp ở đây.
Ở đây cũng có hai yếu tố phạm tội đầy đủ:
Đối tượng
Một tỳ-kheo-ni không bị ốm đau. Ốm đau có nghĩa là bà không thể đến buổi khuyến giáo hay đến một "hội họp" (saṁvāsa), mà New K/Phụ Chú Giải định nghĩa là một buổi họp Tăng đoàn như buổi uposatha.
Như với điều giới trước, một tỳ-kheo-ni hoặc một nhóm tỳ-kheo-ni đã thọ giới kép là căn cứ phạm tội pācittiya ở đây. Một tỳ-kheo-ni chỉ mới thọ giới lần đầu, từ Ni đoàn, là căn cứ phạm tội dukkaṭa, trong khi các nữ học giới và nữ sa-di không phải căn cứ phạm tội.
Nỗ lực
Vị ấy đến chỗ ở của bà — bất kỳ nơi nào mà một tỳ-kheo-ni đã trải qua ít nhất một đêm — và khuyến giáo bà về tám quy tắc kính lễ. Khuyến giáo bà về bất kỳ chủ đề nào khác là căn cứ phạm tội dukkaṭa. Nhận thức liên quan đến tình trạng thọ giới của bà không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây (xem [Pc 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc4)).
Các trường hợp không phạm tội
Như điều giới nêu, không có tội cho tỳ-kheo nào đến khu vực cư trú của các tỳ-kheo-ni để khuyến giáo một tỳ-kheo-ni đang ốm đau. Ngoài ra, các điều khoản không phạm tội giống hệt với các điều khoản của điều giới trước. Ở đây một lần nữa, nguyện vọng được học Pháp của một tỳ-kheo-ni được coi là quan trọng hơn những nghi ngờ của người tại gia.
Tóm tắt: Đến khu vực cư trú của các tỳ-kheo-ni và khuyến giáo một tỳ-kheo-ni về tám quy tắc kính lễ — trừ khi bà đang ốm đau hay đã thỉnh cầu hướng dẫn — là tội pācittiya.
#24
Vị tỳ-kheo nào nói rằng các tỳ-kheo khuyến giáo các tỳ-kheo-ni vì lợi ích vật chất thế tục, phạm tội pācittiya phải sám hối.
Ở đây ba yếu tố phạm tội đầy đủ là:
Đối tượng
Một tỳ-kheo đã được ủy quyền đúng cách để giảng dạy các tỳ-kheo-ni và không dạy vì lợi ích thế tục: hoặc vật chất (y phục, thức ăn khất thực, chỗ trú ngụ, hay thuốc men) hoặc phi vật chất (danh dự, sự tôn trọng, sự kính ngưỡng, sự lễ bái, hay sự tôn kính).
Một tỳ-kheo không được ủy quyền đúng cách là căn cứ phạm tội dukkaṭa, cũng như một người không phải tỳ-kheo dù được ủy quyền đúng cách hay không. (Ấn bản PTS của Thánh Điển có một bảng tra cứu trong đó người không được ủy quyền đúng cách và được nhận thức là không được ủy quyền đúng cách không phải căn cứ phạm tội, nhưng điều này mâu thuẫn với các đoạn trước đó trong Vibhaṅga nêu các điểm trên. Bảng tra cứu tương tự trong các ấn bản Thái, Miến Điện và Sri Lanka do đó chính xác hơn khi nói rằng người không được ủy quyền đúng cách và được nhận thức là vậy là căn cứ phạm tội dukkaṭa.)
Nhận thức về tính hợp lệ của sự ủy quyền của tỳ-kheo không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây. Nếu sự ủy quyền hợp lệ, vị ấy là căn cứ phạm tội pācittiya dù người ta nhận thức là hợp lệ, không hợp lệ hay hồ nghi. Nếu sự ủy quyền không hợp lệ, vị ấy là căn cứ phạm tội dukkaṭa dù người ta nhận thức là hợp lệ, không hợp lệ hay hồ nghi. Đây là một trường hợp khác mà khuôn mẫu được nêu ra theo [Pc 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc4) không được áp dụng.
Ý định
Động cơ của người đó là làm cho vị ấy mất thể diện, mất địa vị, hay cảm thấy xấu hổ (ý định giống như trong [Pc 13](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0017.html#Pc13)).
Nỗ lực
Người đó buộc tội vị ấy giảng dạy vì lợi ích thế tục, như được định nghĩa ở trên.
Các trường hợp không phạm tội
Nếu tỳ-kheo đó thực sự dạy vì lợi ích thế tục, không có tội khi nêu ra sự thật của vấn đề. Tuy nhiên, như chúng ta đã lưu ý trong trường hợp tương tự theo [Pc 13](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0017.html#Pc13), miễn trừ này không áp dụng trong trường hợp nhận thức của người đó về việc vị ấy dạy vì lợi ích thế tục là sai lầm, vì vậy người đó phải chắc chắn rằng nhận thức của mình là chính xác.
Tóm tắt: Nói rằng một tỳ-kheo đã được ủy quyền đúng cách khuyến giáo các tỳ-kheo-ni vì lợi ích thế tục — khi thực ra không phải vậy — là tội pācittiya.
#25
Vị tỳ-kheo nào trao y vải cho một tỳ-kheo-ni không phải thân quyến, trừ khi có sự trao đổi, phạm tội pācittiya phải sám hối.
Điều giới này là điều khoản đối ứng với [NP 5](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0013.html#NP5). Tội đầy đủ gồm hai yếu tố: đối tượng và nỗ lực.
Đối tượng
Bất kỳ mảnh y vải nào trong sáu loại y vải phù hợp, có kích thước ít nhất bốn nhân tám ngón tay. Các vật dụng khác không phải căn cứ phạm tội.
Nỗ lực
Tỳ-kheo trao y vải cho một tỳ-kheo-ni không phải thân quyến và không nhận lại bất cứ thứ gì từ bà để trao đổi.
Tỳ-kheo-ni không phải thân quyến ở đây được định nghĩa theo cùng thuật ngữ như trong [NP 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0013.html#NP4): một tỳ-kheo-ni đã thọ giới kép và không có quan hệ thân tộc với tỳ-kheo đó tính ngược lại qua bảy đời ông cố. Một tỳ-kheo-ni không phải thân quyến chỉ mới thọ giới lần đầu, từ Ni đoàn, là căn cứ phạm tội dukkaṭa. Các nữ học giới và nữ sa-di không phải căn cứ phạm tội.
Nhận thức về việc tỳ-kheo-ni có thực sự là thân quyến của mình hay không không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây (xem [Pc 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc4)).
Chú Giải nêu rằng việc trao không cần phải là tay trao tay. Nếu một tỳ-kheo chỉ đơn giản đặt y vải gần một tỳ-kheo-ni như cách trao cho bà, và bà chấp nhận như là đã được trao, yếu tố này được thỏa mãn.
Về vật phẩm được trao đổi lấy y vải, Vibhaṅga nêu rằng nó có thể có giá trị cao hơn nhiều so với y vải hay thấp hơn nhiều. Buddhaghosa trích dẫn Mahā Paccarī, một trong những chú giải cổ xưa, rằng dù để đổi lấy y vải, tỳ-kheo-ni trao cho tỳ-kheo một mảnh myrobalan vàng — một loại quả dược liệu, một trong những thứ rẻ nhất có thể tưởng tượng được ở Ấn Độ — vị ấy vẫn thoát khỏi hình phạt theo điều giới này.
Các trường hợp không phạm tội
Không có tội nếu:
- tỳ-kheo-ni là thân quyến;
- bà không phải thân quyến nhưng trao cho vị ấy thứ gì đó để trao đổi;
- bà lấy y vải một cách tin tưởng;
- bà mượn y vải;
- vị ấy trao cho bà một vật dụng không phải y vải; hoặc
- vị ấy trao y vải cho một nữ học giới hoặc nữ sa-di.
Tóm tắt: Trao y vải cho một tỳ-kheo-ni không phải thân quyến mà không nhận lại thứ gì để trao đổi là tội pācittiya.
#26
Vị tỳ-kheo nào may y cho một tỳ-kheo-ni không phải thân quyến, hoặc nhờ người may y cho bà, phạm tội pācittiya phải sám hối.
"Lúc bấy giờ Đại đức Udāyin đã trở nên thành thạo trong việc may y. Một tỳ-kheo-ni đến gặp ngài và sau khi đến nơi, nói: 'Bạch Đại đức, sẽ tốt lắm nếu Đại đức may cho con một chiếc y.' Vậy là Đại đức Udāyin, sau khi may một chiếc y cho tỳ-kheo-ni, nhuộm màu đẹp và may đường viền khéo léo, thêu một hình tục tĩu ở giữa (hình một người nam và một người nữ đang giao hợp, được vẽ đầy màu sắc, theo Chú Giải), rồi gấp lại và đặt sang một bên. Rồi tỳ-kheo-ni đến gặp ngài và sau khi đến nơi, hỏi: 'Chiếc y ở đâu, bạch Đại đức?'
"'Đây này, ni cô. Hãy lấy chiếc y đang được gấp này và để sang một bên. Khi Ni đoàn đến để nghe khuyến giáo, hãy mặc nó vào và đi theo sau họ.'
"Vậy là tỳ-kheo-ni lấy chiếc y đang được gấp và để sang một bên. Khi Ni đoàn đến để nghe khuyến giáo, bà mặc nó vào và đi theo sau họ. Người ta chỉ trích và phàn nàn và nói rộng ra: 'Những tỳ-kheo-ni này trơ tráo làm sao, nghịch ngợm và vô liêm sỉ làm sao, đến nỗi thêu một hình tục tĩu lên y!'
"Các tỳ-kheo-ni hỏi: 'Đây là tác phẩm của ai?'
"'Của Đại đức Udāyin,' vị tỳ-kheo-ni đáp.
"'Một thứ như thế này thậm chí còn không hợp cảnh ngay cả từ những kẻ trơ tráo, nghịch ngợm và vô liêm sỉ, huống hồ là từ Đại đức Udāyin (§).'"
Tội đầy đủ ở đây có ba yếu tố.
1) Nỗ lực: Vị ấy tự may — hoặc nhờ người khác may — 2) Đối tượng: một chiếc y 3) Ý định: vì lợi ích của một tỳ-kheo-ni không phải thân quyến với mình.
Nỗ lực
Vibhaṅga nêu rằng có một tội pācittiya cho mỗi mũi khâu vị ấy thực hiện trên y vải. Nếu vị ấy nhờ người khác may, có một tội pācittiya khi ra lệnh hoặc thỉnh cầu, và một tội pācittiya khác khi người kia thực hiện theo lệnh/thỉnh cầu, bất kể người đó may bao nhiêu chiếc y.
Đối tượng
Vibhaṅga định nghĩa y ở đây là bất kỳ loại nào trong sáu loại y vải, dù chỉ là một mảnh có kích thước ít nhất bốn nhân tám ngón tay. Điều này có vẻ gợi ý rằng vải đang được may thành bất kỳ vật gì cũng thuộc điều giới này, nhưng các điều khoản không phạm tội có miễn trừ cho việc may "bất kỳ vật dụng nào ngoại trừ y," vì vậy chỉ vải đang được may thành y mới thỏa mãn yếu tố nỗ lực ở đây.
Ý định
Yếu tố này chỉ được thỏa mãn nếu y vải đang được may có dự định dành cho một tỳ-kheo-ni không phải thân quyến, như trong điều giới trước: một tỳ-kheo-ni đã thọ giới kép và không có quan hệ thân tộc với tỳ-kheo đó tính ngược lại qua bảy đời ông cố. Một tỳ-kheo-ni không phải thân quyến chỉ mới thọ giới lần đầu, từ Ni đoàn, là căn cứ phạm tội dukkaṭa. Các tỳ-kheo-ni có quan hệ thân tộc không phải căn cứ phạm tội, cũng như các nữ học giới hoặc nữ sa-di.
Nhận thức về việc tỳ-kheo-ni có thực sự là thân quyến của mình hay không không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây (xem [Pc 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc4)).
Chú Giải nêu rằng nếu Tỳ-kheo X đang may y cho một tỳ-kheo-ni có quan hệ thân tộc với vị ấy, và Tỳ-kheo Y — người không có quan hệ thân tộc với bà — giúp vị ấy may, Tỳ-kheo Y phạm tội pācittiya cho mỗi mũi khâu vị ấy thực hiện trên y vải. Tuy nhiên, Phụ Chú Giải thêm rằng nếu Tỳ-kheo Y không biết rằng y vải là dành cho tỳ-kheo-ni đó, vị ấy được miễn tội.
Các trường hợp không phạm tội
Không có tội khi may một vật dụng bằng vải không phải y cho một tỳ-kheo-ni không phải thân quyến, khi may bất cứ thứ gì cho một tỳ-kheo-ni có quan hệ thân tộc, hoặc khi may bất cứ thứ gì cho một nữ học giới hoặc nữ sa-di dù có quan hệ thân tộc hay không.
Tóm tắt: May y — hoặc nhờ người may — cho một tỳ-kheo-ni không phải thân quyến là tội pācittiya.
#27
Vị tỳ-kheo nào, theo thỏa thuận, cùng đi với một tỳ-kheo-ni dù chỉ khoảng cách từ làng này sang làng khác — trừ vào thời điểm thích hợp — phạm tội pācittiya phải sám hối. Ở đây, thời điểm thích hợp là: Con đường phải đi cùng đoàn người (§) và được xem là đáng ngờ và nguy hiểm. Đây là thời điểm thích hợp ở đây.
Ở đây tội đầy đủ có hai yếu tố.
1) Đối tượng: một tỳ-kheo-ni. 2) Nỗ lực: (a) Đã thỏa thuận cùng với bà để cùng đi, (b) vị ấy thực sự cùng đi với bà theo thỏa thuận (c) từ làng này sang làng khác (d) trừ vào những dịp được cho phép.
Đối tượng
Một tỳ-kheo-ni đã thọ giới kép là căn cứ phạm tội pācittiya ở đây. Bất kỳ người phụ nữ nào khác sẽ thuộc [Pc 67](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0022.html#Pc67).
Thỏa thuận
Theo Vibhaṅga, cả tỳ-kheo lẫn tỳ-kheo-ni đều phải bày tỏ sự đồng ý bằng lời nói với thỏa thuận để phần này của yếu tố được thỏa mãn. Nếu tỳ-kheo đề xuất thỏa thuận nhưng tỳ-kheo-ni không bày tỏ sự đồng ý bằng lời nói, thì dù họ sau đó đi cùng nhau như vị ấy đề xuất, vị ấy chỉ phạm tội dukkaṭa. Nếu bà đề xuất thỏa thuận nhưng vị ấy không bày tỏ sự đồng ý bằng lời nói, thì dù họ sau đó đi cùng nhau như bà đề xuất, vị ấy không phạm tội. K/Chú Giải ghi chú rằng tội phạm theo điều giới này có thể được thực hiện qua thân hoặc bằng lời nói, điều đó có nghĩa là một cử chỉ truyền đạt sự đồng ý bằng lời — chẳng hạn như tin nhắn viết tay hay văn bản — cũng sẽ thỏa mãn yếu tố này. Tuy nhiên, im lặng thì không.
Vibhaṅga và Chú Giải đưa ra các ví dụ về nhiều cách khác nhau để bày tỏ sự đồng ý bằng lời nói, với Chú Giải thêm vào một vài ví dụ về những phát biểu không cấu thành sự đồng ý bằng lời nói. Điểm phân biệt chính là một phát biểu hoặc tập hợp phát biểu đề cập đến cả hai phía của thỏa thuận liên quan đến chuyến đi — "Chúng ta sẽ đi"; "Hãy đi thôi"; "Cô sẽ đi cùng tôi" — sẽ được tính là đồng ý bằng lời nói, trong khi một phát biểu hoặc tập hợp phát biểu chỉ đề cập đến kế hoạch của bản thân liên quan đến chuyến đi — "Tôi sẽ đi" — thì không. Vì vậy, ví dụ, nếu một tỳ-kheo nêu rằng vị ấy sẽ đến một nơi nào đó để lễ bái một cái tháp, và một tỳ-kheo-ni nói: "Chúng ta hãy đi cùng nhau," thì nếu tỳ-kheo không nói thêm gì về chủ đề đó, vị ấy chưa bày tỏ sự đồng ý bằng lời nói.
Chú Giải tiếp tục quy định rằng đặc điểm xác định của thỏa thuận là nó chỉ rõ thời điểm tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni sẽ cùng khởi hành. Tuy nhiên, Vibhaṅga của điều giới này và của các điều giới khác liên quan đến đi cùng theo thỏa thuận ([Pc 28](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0018.html#Pc28), [66](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0022.html#Pc66) và [67](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0022.html#Pc67)) có nhiều ví dụ về các thỏa thuận trong đó thời gian không được đề cập rõ ràng, vì vậy quy định của Chú Giải ở đây không thể đứng vững. Bất kỳ sự đồng ý được bày tỏ nào để cùng đi đều sẽ thỏa mãn yếu tố này, bất kể khung thời gian có được nêu rõ hay không.
Vì một lý do nào đó, Chú Giải cũng thêm rằng không có tội khi thỏa thuận trong khi cả tỳ-kheo lẫn tỳ-kheo-ni đang đứng trong khu cư trú của tỳ-kheo-ni, trên đường giữa một tu viện này và tu viện khác, trong hội trường, hay trong nơi cư trú của những người đã thọ giới trong tôn giáo khác. Tuy nhiên, không có gì trong Vibhaṅga hỗ trợ cho miễn trừ này. (Tuy nhiên, Chú Giải có thêm rằng dù không có tội sơ bộ nào cho thỏa thuận trong trường hợp này, tỳ-kheo vẫn sẽ phạm tội pācittiya vì đi theo thỏa thuận.)
Nhận thức về việc các yếu tố để thỏa thuận có thực sự được thỏa mãn hay không không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây (xem [Pc 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc4)).
Các văn bản không đề cập đến trường hợp trong đó người khác sắp xếp cho một tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni cùng đi, chẳng hạn như là một phần của một nhóm lớn hơn. Tuy nhiên, cách diễn đạt của định nghĩa về thỏa thuận trong Vibhaṅga — trong đó tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni đang nói chuyện với nhau — và điều khoản không phạm tội cho phép hai người đi cùng nhau nếu họ không thỏa thuận, gợi ý rằng miễn là tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni không nói chuyện với nhau — trực tiếp hay qua trung gian — về việc thực hiện chuyến đi, sẽ không có tội khi tham gia nhóm.
Đi theo thỏa thuận
Hai bên phải cùng đi theo quy định trong thỏa thuận để tiểu yếu tố này được thỏa mãn. Nếu thỏa thuận tối giản hoặc nhất thời, không có khung thời gian được nêu rõ — "Hãy đi thôi." "Vâng, hãy đi thôi" — thì chỉ cần cùng ra đi vào bất kỳ thời điểm nào cũng thỏa mãn tiểu yếu tố này. Nếu một khung thời gian được nêu rõ, thì tiểu yếu tố này chỉ được thỏa mãn nếu họ khởi hành trong khung thời gian đó. Nếu họ tình cờ khởi hành sớm hơn hoặc muộn hơn đã thỏa thuận, tỳ-kheo không phạm tội. Các ví dụ trong Chú Giải gợi ý rằng "sớm hơn" hoặc "muộn hơn" ở đây liên quan đến những khoảng thời gian khá đáng kể, tức là đi muộn hơn một ngày so với thỏa thuận, hay đi trước bữa ăn khi thỏa thuận là đi sau bữa ăn. Điều này được hỗ trợ bởi Vibhaṅga, trong đó các ví dụ chỉ rõ khung thời gian diễn đạt nó bằng các đơn vị lớn, chẳng hạn như "hôm nay" hay "ngày mai." Chú Giải cũng thêm rằng nếu một địa điểm cụ thể để gặp nhau hoặc tuyến đường đi là một phần của thỏa thuận, bất kỳ thay đổi nào trong những yếu tố đó cũng không liên quan đến tội phạm. Ví dụ, nếu họ đồng ý đi bằng xe lửa nhưng cuối cùng đi bằng ô tô, yếu tố "đi theo thỏa thuận" vẫn được thỏa mãn.
Từ làng này sang làng khác
Có một số tranh luận về việc liệu cụm từ này — gāmantara — có nghĩa là "từ làng này sang làng khác" hay "từ nhà này sang nhà khác." Theo Buddhaghosa, các chú giải cổ xưa chọn "làng," trong khi ngài chọn "nhà." Các chú giải cổ xưa được Thánh Điển hỗ trợ ở đây, ở chỗ thuật ngữ được đề cập cũng xuất hiện trong [Sg 3](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bhikkhuni-pati.html#sg) và [Pc 37](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bhikkhuni-pati.html#pc-part4) của tỳ-kheo-ni, nơi nó chắc chắn có nghĩa là khu vực bên ngoài một làng chứ không phải khoảng cách từ nhà này sang nhà kia trong một làng.
Có một tội pācittiya cho mỗi khoảng cách từ làng đến làng mà vị ấy đi qua. Trong một vùng hoang dã không có làng mạc — tức là, theo Phụ Chú Giải, nơi các làng cách nhau xa hơn nửa do-tuần (tám kilômét hay năm dặm) — có một tội pācittiya cho mỗi nửa do-tuần mà vị ấy cùng đi theo thỏa thuận.
Các dịp được cho phép
Một con đường phải đi cùng đoàn người (§) là con đường quá đáng ngờ hay nguy hiểm để đi một mình. (BD dịch là "con đường phải đi với vũ khí," nhưng vì các tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni thậm chí không được phép chạm vào vũ khí, đây là bản dịch đáng ngờ nhất trong các bản dịch.)
Đáng ngờ có nghĩa là nơi trú ẩn, nơi ngủ, nơi ngồi, hay nơi đứng của kẻ trộm cướp đã được thấy dọc theo con đường; nguy hiểm có nghĩa là người ta biết rằng đã có người bị đánh, bị cướp, hay bị trấn lột bởi kẻ cướp ở đó.
Vibhaṅga thêm rằng nếu con đường được cho là đáng ngờ hay nguy hiểm nhưng sau đó được phát hiện là an toàn, miễn trừ không còn hiệu lực nữa, và các tỳ-kheo phải cho phép các tỳ-kheo-ni rời khỏi đoàn của họ.
Các trường hợp không phạm tội
Không có tội:
- nếu tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni tình cờ cùng đi mà không thỏa thuận trước;
- nếu tỳ-kheo-ni đề xuất thỏa thuận, trong khi tỳ-kheo không bày tỏ sự đồng ý bằng lời nói;
- nếu họ khởi hành không đúng như đã thỏa thuận (§), (ví dụ, vào một ngày khác);
- nếu họ đi trên một con đường đáng ngờ và nguy hiểm; hoặc
- nếu có những nguy hiểm khác.
Chú Giải minh họa tình huống bất ngờ cuối cùng này bằng một cụm từ quy ước có nghĩa dễ hiểu theo hai cách. Nó bắt đầu bằng: "Các bộ lạc man dã đang tấn công vùng nông thôn," rồi đến phần mơ hồ, hoặc là: "Người ta leo lên các bánh xe của họ (xe ngựa, theo Phụ Chú Giải)," hoặc thay vào đó là: "Các bộ lạc chiếm quyền lực (một nghĩa khác của 'bánh xe')."
Tóm tắt: Cùng đi theo thỏa thuận với một tỳ-kheo-ni từ làng này sang làng khác — trừ khi con đường nguy hiểm hay có những nguy hiểm khác — là tội pācittiya.
#28
Vị tỳ-kheo nào, theo thỏa thuận, cùng lên một chiếc thuyền với một tỳ-kheo-ni đi ngược dòng hay xuôi dòng — trừ khi để sang bờ bên kia — phạm tội pācittiya phải sám hối.
"Lúc bấy giờ, một số tỳ-kheo thuộc nhóm sáu người, sau khi thỏa thuận với một số tỳ-kheo-ni, cùng lên một chiếc thuyền với họ. Người ta chỉ trích và phàn nàn và nói rộng ra: 'Cũng như chúng ta vui chơi với vợ mình trên thuyền, thì những vị tỳ-kheo thuộc dòng họ Thích Ca này, sau khi thỏa thuận với các tỳ-kheo-ni, cũng vui chơi với họ trên thuyền….'"
(Đức Phật sau đó ban hành phiên bản đầu tiên của điều giới này, không có ngoại lệ cho việc sang bờ bên kia.)
"Lúc bấy giờ một số tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni đang đi trên con đường từ Sāketa đến Sāvatthī. Dọc đường, họ phải vượt qua một con sông. Các tỳ-kheo-ni nói với các tỳ-kheo: 'Chúng con sẽ cùng vượt qua với các Đại đức.'
"'Này các ni, không hợp lẽ khi các tỳ-kheo, sau khi thỏa thuận, cùng lên thuyền với các tỳ-kheo-ni. Hoặc là các ni sang trước, hoặc là chúng tôi.'
"'Các Đại đức là những bậc nam nhân đứng đầu. Hãy để các Đại đức sang trước.'
"Rồi khi các tỳ-kheo-ni sang sau đó, kẻ cướp đã cướp họ và hãm hiếp họ."
Các yếu tố phạm tội đầy đủ ở đây tương tự như điều giới trước.
1) Đối tượng: một tỳ-kheo-ni. 2) Nỗ lực: (a) Đã thỏa thuận cùng với bà để cùng lên thuyền, (b) vị ấy thực sự cùng đi với bà theo thỏa thuận, đi ngược dòng hay xuôi dòng trên một con sông (c) từ làng này sang làng khác.
Đối tượng
Một tỳ-kheo-ni đã thọ giới kép là căn cứ phạm tội pācittiya ở đây. Không giống như cách xử lý nhiều điều giới khác trong phần này, Vibhaṅga ở đây không nêu rằng một tỳ-kheo-ni chỉ mới thọ giới lần đầu là căn cứ phạm tội dukkaṭa, cũng không nêu rằng một nữ học giới hoặc nữ sa-di sẽ không phải căn cứ phạm tội. Đây có thể là một sự thiếu sót. Vibhaṅga ở đây theo sát Vibhaṅga của điều giới trước, vốn bỏ qua việc đề cập đến ba nhóm phụ nữ này vì họ được bao hàm bởi một điều giới song song là [Pc 67](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0022.html#Pc67). Tuy nhiên, điều giới này không có điều giới song song như vậy để bao hàm ba nhóm này, và vì vậy sự thiếu sót ở đây khiến họ không được phép cũng không bị cấm bởi bất kỳ điều giới nào.
Nỗ lực
Các điều kiện để thỏa thuận ở đây, cũng như những điều liên quan đến vấn đề nhận thức về thỏa thuận, giống hệt với điều giới trước.
Các vấn đề xung quanh tiểu yếu tố tiếp theo — đi theo thỏa thuận — cũng giống như điều giới trước, với một điểm khác biệt là "đi" ở đây được thay bằng "lên thuyền."
Một khi họ cùng lên thuyền theo thỏa thuận, tỳ-kheo phạm tội pācittiya cho mỗi khoảng cách từ làng đến làng họ đi qua dọc theo bờ sông khi đi ngược dòng hay xuôi dòng. Trong một vùng hoang dã không có làng mạc — tức là, theo Phụ Chú Giải, nơi các làng cách nhau xa hơn nửa do-tuần (8 km) — vị ấy phạm tội pācittiya cho mỗi nửa do-tuần họ cùng đi.
Các Chú Giải thêm "ý định" như một yếu tố bổ sung ở đây — mục đích của tỳ-kheo khi đi cùng với tỳ-kheo-ni là để vui chơi — nhưng không có cơ sở nào cho điều này trong Vibhaṅga.
Các trường hợp không phạm tội
Như điều giới nêu, không có tội khi thỏa thuận và cùng vượt qua một con sông với một tỳ-kheo-ni. Chú Giải thêm rằng điều này áp dụng không chỉ cho sông mà cả đại dương: Nếu vị ấy đi từ cảng biển này đến cảng biển khác theo thỏa thuận với một tỳ-kheo-ni, không có hình phạt nào được áp dụng.
K/Chú Giải thậm chí đi xa hơn và nói rằng điều giới này chỉ áp dụng cho sông, và rằng một tỳ-kheo tìm kiếm sự vui chơi với một tỳ-kheo-ni có thể hẹn bà và đi vòng quanh đại dương bao nhiêu tùy thích mà không phạm tội. Phụ Chú Giải không đồng ý với cả Chú Giải lẫn K/Chú Giải ở đây, nêu rằng một tỳ-kheo đi theo thỏa thuận với một tỳ-kheo-ni trên thuyền giữa đại dương phạm tội dukkaṭa cho mỗi nửa do-tuần họ đi. Quan điểm của Phụ Chú Giải ở đây phù hợp hơn với Đại Chuẩn (Great Standards) và do đó có trọng lượng hơn.
Cuối cùng, không có tội nếu:
- tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni tình cờ cùng đi trên cùng một chiếc thuyền mà không thỏa thuận trước;
- tỳ-kheo-ni đề xuất thỏa thuận, trong khi tỳ-kheo không bày tỏ sự đồng ý bằng lời nói;
- họ lên thuyền không đúng như đã thỏa thuận (§), (ví dụ, vào một ngày khác); hoặc
- có những nguy hiểm.
Tóm tắt: Cùng đi ngược dòng hay xuôi dòng theo thỏa thuận với một tỳ-kheo-ni trên cùng một chiếc thuyền — trừ khi vượt qua sông — là tội pācittiya.
#29
Vị tỳ-kheo nào cố ý ăn thức ăn khất thực được dâng tặng do sự xúi giục của một tỳ-kheo-ni — trừ thức ăn mà các cư sĩ đã có dự định từ trước (khi bà xúi giục) — phạm tội pācittiya phải sám hối.
"Lúc bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Thullanandā thường xuyên dùng bữa với một gia đình nọ. Rồi một ngày nọ, chủ hộ mời một số tỳ-kheo trưởng lão đến thọ trai. Tỳ-kheo-ni Thullanandā, mặc y từ sáng sớm, mang bình bát và (y ngoài), đến nhà của gia đình đó và sau khi đến nơi, nói với chủ hộ: 'Tại sao lại chuẩn bị nhiều thức ăn cứng và thức ăn mềm như vậy?'
"'Tôi đã mời một số tỳ-kheo trưởng lão đến thọ trai.'
"'Nhưng với ông, ai là tỳ-kheo trưởng lão?'
"'Đại đức Sāriputta, Đại đức Mahā Moggallāna, Đại đức Mahā Kaccāna, Đại đức Mahā Koṭṭhita, Đại đức Mahā Kappina, Đại đức Mahā Cunda, Đại đức Anuruddha, Đại đức Revata, Đại đức Upāli, Đại đức Ānanda, Đại đức Rāhula.'
"'Nhưng tại sao ông lại mời những kẻ vô lại này trong khi những anh hùng vĩ đại đang có sẵn? (§)'
"'Và với cô, ai là những anh hùng vĩ đại?'
"'Đại đức Devadatta, Đại đức Kokālika, Đại đức Kaṭamoraka Tissaka, Đại đức Khaṇḍadeviyāputta, Đại đức Samuddadatta….' Lúc đó, Tỳ-kheo-ni Thullanandā bị ngắt lời giữa chừng khi các tỳ-kheo trưởng lão bước vào. 'Đúng vậy! Ông đã mời những anh hùng vĩ đại!'
"'Vừa rồi cô bảo họ là những kẻ vô lại, mà nay lại là những anh hùng vĩ đại.' Vậy là ông ta đuổi bà ra khỏi nhà và chấm dứt các bữa ăn thường xuyên của bà."
Ba yếu tố phạm tội đầy đủ ở đây là:
1) Đối tượng: bất kỳ trong năm loại thức ăn chính (xem phần mở đầu của [Chương Thức Ăn](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0019.html#Pc_ChFour), dưới đây) được một người tại gia dâng tặng theo sự xúi giục của một tỳ-kheo-ni. 2) Nhận thức: Vị ấy biết rằng thức ăn được dâng tặng do sự xúi giục của bà. 3) Nỗ lực: Vị ấy ăn thức ăn đó.
Đối tượng
Bất kỳ trong năm loại thức ăn chính là căn cứ phạm tội pācittiya. Bất kỳ thức ăn nào ngoài chúng không phải căn cứ phạm tội.
Tỳ-kheo-ni ở đây chỉ người đã thọ giới kép. Vibhaṅga ghi chú rằng người chỉ mới thọ giới lần đầu — từ Ni đoàn — là căn cứ phạm tội dukkaṭa, trong khi các nữ học giới và nữ sa-di không phải căn cứ phạm tội.
Xúi giục có nghĩa là tỳ-kheo-ni nói với một người tại gia không có kế hoạch dâng thức ăn cho Tỳ-kheo X, khen ngợi X hoặc gợi ý rằng thức ăn nên được dâng cho vị ấy. Nếu người tại gia đã có kế hoạch dâng thức ăn cho X, yếu tố này không được thỏa mãn. Vibhaṅga định nghĩa đã có kế hoạch dâng thức ăn theo các thuật ngữ sau: Hoặc X và người tại gia có quan hệ thân tộc, người tại gia đã từng mời X đến thỉnh cầu thức ăn trước đó, hoặc người tại gia đã tự mình chuẩn bị thức ăn cho X trước khi tỳ-kheo-ni xúi giục.
Nhận thức
Nếu vị ấy hoài nghi về việc liệu thức ăn có được dâng do sự xúi giục của tỳ-kheo-ni hay không, hình phạt khi ăn là dukkaṭa bất kể thực tế có hay không. Nếu vị ấy nghĩ rằng thức ăn được dâng do sự xúi giục của bà nhưng thực ra không phải vậy, hình phạt khi ăn lại là dukkaṭa. Nếu vị ấy không nhận thức đó là thức ăn được dâng do sự xúi giục của bà, thì dù có hay không, không có tội.
Nỗ lực
Có một tội dukkaṭa khi nhận thức ăn với dự định ăn nó, và một tội pācittiya cho mỗi miếng ăn vị ấy ăn.
Các trường hợp không phạm tội
Không có tội nếu:
- vị ấy không biết,
- thức ăn được dâng không phải một trong năm loại thức ăn chính,
- người tại gia bị xúi giục bởi một nữ học giới hoặc nữ sa-di, hoặc
- người tại gia đã có kế hoạch dâng thức ăn cho vị ấy trước khi tỳ-kheo-ni xúi giục.
Như đã ghi chú ở trên, thân quyến của vị ấy và những người đã mời vị ấy đến thỉnh cầu thức ăn cũng thuộc phép miễn trừ này.
Tóm tắt: Ăn bất kỳ trong năm loại thức ăn chính mà một người tại gia đã dâng tặng do sự xúi giục của một tỳ-kheo-ni — trừ khi người tại gia đã có kế hoạch dâng thức ăn trước khi bà xúi giục — là tội pācittiya.
#30
Vị tỳ-kheo nào ngồi một mình cùng với một tỳ-kheo-ni ở chỗ kín đáo, phạm tội pācittiya phải sám hối.
Trừ một trường hợp hiếm gặp — một tỳ-kheo-ni không biết điều gì là tục tĩu và không tục tĩu — điều giới này hoàn toàn được bao hàm bởi [Pc 45](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0020.html#Pc45). Để biết giải thích, xem thảo luận theo điều giới đó.
Tóm tắt: Khi nhằm mục đích riêng tư, ngồi hay nằm một mình với một tỳ-kheo-ni ở một nơi khuất tầm nhìn nhưng có thể nghe thấy tiếng là tội pācittiya.