Thuật ngữ này, theo bộ Parivāra, xuất phát từ một động từ có nghĩa là "thất bại" hay "bị đánh bại." Một tỳ-kheo (bhikkhu) phạm vào bất kỳ giới nào trong bốn giới sau đây đã đầu hàng trước những phiền não tâm linh của chính mình đến mức huỷ hoại mục đích xuất gia. Bản chất không thể cứu vãn của sự thất bại này được minh hoạ trong Vibhaṅga (Phân Tích Giới) qua nhiều hình ảnh so sánh: "như một người bị chặt đầu... như một chiếc lá héo rụng khỏi cành... như một tảng đá phẳng bị đập vỡ làm đôi không thể gắn lại được... như cây cọ bị chặt ngọn không thể tiếp tục sinh trưởng." Một tỳ-kheo phạm bất kỳ giới nào trong số này sẽ tự cắt đứt vĩnh viễn khỏi đời sống Tăng đoàn (Saṅgha) và không còn được xem là tỳ-kheo nữa.
#Pārājika 1
Điều học: Nếu bất kỳ tỳ-kheo nào — đang tham gia vào sự tu học và đời sống của các tỳ-kheo, chưa từ bỏ học giới, chưa tuyên bố sự yếu đuối của mình — mà lại hành dâm, dù với thú cái, vị ấy bại hoại và không còn trong sự cộng trú.
Như đã nêu trong phần Dẫn nhập, lần công bố giới đầu tiên diễn ra sau sự việc Tôn giả Sudinna quan hệ tình dục với một trong những người vợ cũ của mình. Động cơ của vị ấy, theo tiêu chuẩn thế gian, tương đối cao thượng: vị ấy đang đáp ứng ước nguyện của mẹ mình là cung cấp cho gia đình một người thừa kế. Tuy nhiên, trong sự kiện dẫn đến lần công bố thứ hai của giới này — mà trong đó Đức Phật thêm vào cụm từ "dù với thú cái" — động cơ của người vi phạm rõ ràng kém cao thượng hơn nhiều.
"Bấy giờ, có một tỳ-kheo sống ở Đại Lâm gần Vesālī, sau khi làm quen với một con khỉ bằng thức ăn (§), đã hành dâm với nó. Rồi vị ấy, sáng sớm đắp y mang bát đi vào Vesālī khất thực. Một số tỳ-kheo đang đi tuần tra các trú xứ đã đến chỗ ở của vị tỳ-kheo đó. Con khỉ thấy họ từ xa, chạy đến gần, lắc mông, vẫy đuôi, đưa mông ra và ra hiệu (§). Các tỳ-kheo nghĩ: 'Chắc chắn vị tỳ-kheo này đang hành dâm với con khỉ này.' Vì vậy họ ẩn mình sang một bên.
"Rồi vị tỳ-kheo đi khất thực ở Vesālī về, mang theo thức ăn. Con khỉ chạy đến gặp vị ấy. Vị tỳ-kheo ăn một phần thức ăn và cho con khỉ một phần. Con khỉ ăn xong, đưa mông ra, và vị tỳ-kheo đã hành dâm với nó (§).
"Rồi các tỳ-kheo nói với vị tỳ-kheo đó: 'Đức Thế Tôn đã chẳng chế định học giới rồi sao? Làm sao thầy có thể hành dâm với con khỉ này?'
"'Thật vậy, chư hiền, học giới đã được Đức Thế Tôn chế định, nhưng điều đó là đối với nữ nhân, không phải đối với thú cái.'"
Vi phạm đầy đủ của giới này bao gồm bốn yếu tố: hành động, đối tượng, nhận thức và sự đồng ý.
Hành động (Effort)
Thuật ngữ hành dâm (sexual intercourse) ám chỉ sự xâm nhập của dương vật vào một magga (đường/lối), mà — theo mục đích của giới này — Vibhaṅga định nghĩa như sau:
Một phụ nữ hay người lưỡng tính có ba magga: âm đạo, miệng và hậu môn.
Một nam nhân hay người vô căn có hai: miệng và hậu môn.
Vibhaṅga tiếp tục nêu rằng hành dâm được coi là đã thực hiện khi, trong bất kỳ tổ hợp có thể nào được giới này bao quát, dương vật xâm nhập vào một magga dù chỉ "đến mức độ bằng hạt vừng." Dù dương vật là của tỳ-kheo xâm nhập vào magga của người khác, hay dương vật của người đàn ông khác xâm nhập vào một trong các magga của tỳ-kheo, yếu tố hành động đều được thỏa mãn như nhau. Câu hỏi về việc có bao che hay không, chẳng hạn như bao cao su, giữa các bộ phận là không liên quan, cũng như các câu hỏi về:
- tỳ-kheo đóng vai chủ động hay thụ động,
- tỳ-kheo có đang mặc y phục tỳ-kheo hay không, và
- có bất kỳ bên nào đạt đến cực khoái hay không.
Vibhaṅga cũng đề cập đến bốn tình huống mà không giải thích: "Một người đưa vào magga qua magga... đưa vào không phải magga qua magga... đưa vào magga qua không phải magga... đưa vào không phải magga qua không phải magga." Ba tình huống đầu kéo theo một tội pārājika; tình huống cuối, một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Tình huống đầu tiên rõ ràng bao gồm sự xâm nhập thông thường của dương vật vào magga. Còn về không-magga, Chú giải xác định đó là một vết thương. Điều này liên quan đến hai trường hợp trong Vinīta-vatthu. Trong cả hai trường hợp, một tỳ-kheo gặp thi thể của một phụ nữ có vết thương quanh âm đạo. Trong một trường hợp, tỳ-kheo đưa dương vật vào âm đạo và rút ra qua vết thương; trong trường hợp kia, vị ấy đưa vào vết thương và rút ra qua âm đạo. Trong cả hai trường hợp, Đức Phật áp đặt tội pārājika.
Nếu Chú giải đúng trong định nghĩa về không-magga — và không có gì trong Thánh điển gợi ý khác đi — thì tóm tắt của Vibhaṅga về bốn tình huống sẽ bao gồm hai trường hợp này nhưng còn đi xa hơn. Nếu một vị tỳ-kheo đưa dương vật vào magga qua một vết thương gần đó, hay đưa vào vết thương qua magga, thì bất kể rút ra theo cách nào, vị ấy vẫn phạm vi phạm đầy đủ.
Vinīta-vatthu cũng chứa một trường hợp về một vị tỳ-kheo bị lửa dục thiêu đốt, đưa ngón cái vào âm đạo của một cô gái trẻ đang ngủ khỏa thân. Trong trường hợp này, Đức Phật áp đặt một tội saṅghādisesa theo Sg 2.
Đối tượng (Object)
Hình phạt đầy đủ theo giới này áp dụng cho bất kỳ hành dâm tự nguyện nào với một người, một "phi nhân" (a yakkha — dạ-xoa, nāga — long xà, hay peta — ngạ quỷ), hay một súc vật thông thường, dù là nữ, nam, vô căn hay lưỡng tính.
Thực hiện hành dâm với xác chết — thậm chí một cái đầu bị chặt đứt — cũng kéo theo hình phạt đầy đủ nếu phần còn lại của thi thể còn nguyên vẹn đủ để thực hiện hành vi đó.
Ngoài ra, Vinīta-vatthu liệt kê hai ví dụ về "tự hành dâm": một tỳ-kheo có lưng dẻo ngậm dương vật của mình vào miệng, và một tỳ-kheo có dương vật dài bất thường đưa vào hậu môn của mình. Cả hai trường hợp đều mang hình phạt đầy đủ.
Nhận thức và sự đồng ý (Knowledge & Consent)
Để hành dâm được tính là phạm giới, tỳ-kheo phải biết rằng điều đó đang xảy ra và phải đồng ý. Vì vậy, nếu vị ấy bị tấn công tình dục trong khi ngủ hay bất tỉnh, và vẫn không biết gì về điều đang xảy ra, vị ấy không phạm tội. Tuy nhiên, nếu vị ấy tỉnh dậy trong khi bị tấn công hay đã tỉnh táo ngay từ đầu, thì việc vị ấy có phạm tội hay không tuỳ thuộc vào việc vị ấy có đồng ý trong bất kỳ phần nào của hành vi đó hay không.
Thật kỳ lạ, cả Thánh điển lẫn Chú giải đều không thảo luận chi tiết về yếu tố đồng ý, ngoại trừ đề cập thoáng qua rằng nó có thể áp dụng vào giai đoạn đưa vào, đã đưa vào hoàn toàn, ở lại, hay rút ra. Từ các ví dụ trong Vinīta-vatthu, có vẻ như sự đồng ý đề cập đến một trạng thái tâm lý của sự chấp thuận, cùng với biểu hiện thể chất hay ngôn ngữ của nó. Sự tuân theo về mặt thể chất đơn thuần không tính, vì có các trường hợp các tỳ-kheo bị cưỡng ép vào hành dâm tuân theo về mặt thể chất nhưng không đồng ý về mặt tâm lý và do đó được tha tội. Tuy nhiên, cũng có một trường hợp trong đó một phụ nữ mời một tỳ-kheo hành dâm, nói rằng bà ta sẽ làm tất cả mọi việc trong khi vị ấy có thể tránh phạm giới bằng cách không làm gì. Vị tỳ-kheo làm theo lời bà ta, nhưng khi sự việc đến tai Đức Phật, Ngài áp đặt một tội pārājika cho hành vi đó mà không hỏi tỳ-kheo xem vị ấy có đồng ý hay không. Giả định là việc tuân theo một yêu cầu như thế này cho thấy sự đồng ý, bất kể vị ấy có thực hiện bất kỳ cử động thể chất hay ngôn ngữ nào hay không.
Xét chung, các trường hợp này ngụ ý rằng nếu một người bị tấn công tình dục, người đó hoàn toàn được tha tội chỉ khi (1) không đồng ý về mặt tâm lý trong bất kỳ thời điểm nào trong suốt hành vi, hay (2) có cảm giác đồng ý về mặt tâm lý trong ít nhất một phần của hành vi nhưng đã đấu tranh để không biểu lộ sự đồng ý đó ra thể chất hay ngôn ngữ theo bất kỳ cách nào. (Như Chú giải ghi nhận, dựa trên nguyên tắc chung từ Vinīta-vatthu đến [Pr 2], sự đồng ý tâm lý đơn thuần không có biểu hiện thể chất là không đủ để tính là yếu tố phạm giới, vì không có tội lỗi chỉ đơn thuần trong việc khởi sinh của một suy nghĩ hay trạng thái tâm lý.) Nếu người đó không đấu tranh và cảm thấy đồng ý về mặt tâm lý, dù chỉ thoáng qua trong giai đoạn đưa vào, đã đưa vào hoàn toàn, ở lại, hay rút ra, người đó phạm hình phạt đầy đủ. Điều này có vẻ là cơ sở cho cảnh báo của Chú giải trong phần thảo luận về trường hợp trong Vinīta-vatthu khi một tỳ-kheo tỉnh dậy thấy mình đang bị một phụ nữ tấn công tình dục, đá bà ta và đẩy bà ta văng ra. Cảnh báo đó: Đây là cách mà một tỳ-kheo vẫn còn chịu ảnh hưởng của dục vọng nên hành động nếu muốn bảo vệ trạng thái tâm của mình.
Vinīta-vatthu chứa một trường hợp trong đó một tỳ-kheo với "các căn suy yếu" — một người không cảm thấy vui hay khổ trong khi hành dâm — tham gia vào hành dâm với giả định rằng sự suy yếu của vị ấy miễn trừ cho vị ấy khỏi giới này. Sự việc được đem đến Đức Phật, Ngài nói: "Dù tên vô dụng này có cảm thấy [gì] hay không, đây là trường hợp liên quan đến sự bại hoại." Từ phán quyết này, có thể lập luận rằng một tỳ-kheo buông thả trong hành dâm như một phần của nghi thức mật tông phạm hình phạt đầy đủ ngay cả khi vị ấy không cảm thấy lạc thú trong quá trình đó.
Các tội phái sinh (Derived Offenses)
Hai tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya liên quan trực tiếp đến giới này. Tội thứ nhất là cho tình huống thứ tư trong bốn tình huống của Vibhaṅga đã đề cập ở trên: đưa dương vật vào không-magga qua không-magga. Điều này dường như chỉ áp dụng cho vết thương trên xác chết, vì như chúng ta sẽ thấy bên dưới, nếu một tỳ-kheo cố hành dâm với bất kỳ phần nào của cơ thể còn sống ngoài ba magga, trường hợp đó thuộc [Sg 2].
Tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya thứ hai là cho trường hợp tỳ-kheo cố hành dâm với miệng, hậu môn hay âm đạo đã thối rữa của xác chết.
Cố hành dâm với bất kỳ phần nào khác của xác chết hay với bất kỳ phần nào của vật vô tri vô giác, chẳng hạn như búp bê bơm hơi hay hình nộm, phạm tội dukkaṭa. (Tuy nhiên, nếu điều này dẫn đến xuất tinh, trường hợp đó sẽ được xử lý theo [Sg 1].)
Vibhaṅga nêu rằng nếu một tỳ-kheo cố hành dâm với bất kỳ phần nào của cơ thể còn sống ngoài ba magga, trường hợp đó thuộc các giới saṅghādisesa — [Sg 1] cho xuất tinh cố ý hay [Sg 2] cho tiếp xúc thể chất với lòng dục. Như chúng ta sẽ thấy bên dưới, các hình phạt được giao trong trường hợp sau như sau: Nếu đối tác là phụ nữ, một tội saṅghādisesa; nếu là paṇḍaka (xem [Sg 2]), một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya; nếu là đàn ông hay súc vật thông thường, một tội dukkaṭa.
Chú giải không đồng ý với Vibhaṅga về những điểm này, nêu rằng các tội phái sinh theo giới này chỉ có thể bao gồm hình phạt dukkaṭa và pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya. Trong giải thích về [Sg 1], Chú giải đưa ra một hệ thống mười một loại dục vọng trong đó dục vọng cho lạc thú xuất tinh, dục vọng cho lạc thú tiếp xúc thể chất, và dục vọng cho lạc thú hành dâm được xem là những điều hoàn toàn riêng biệt phải được xử lý theo các giới riêng biệt. Vì vậy, Chú giải nói, nếu một tỳ-kheo nhắm đến hành dâm mà nắm lấy cơ thể của một phụ nữ, đó chỉ là chuẩn bị cho hành dâm và do đó chỉ kéo theo một tội dukkaṭa, thay vì một tội saṅghādisesa vì tiếp xúc thể chất với lòng dục. Tương tự, nếu vị ấy xuất tinh sớm trước khi bắt đầu hành dâm, không có tội lỗi nào cả.
Đây là những phân biệt học thuật tinh tế và rõ ràng được thúc đẩy bởi mong muốn vạch ra ranh giới rõ ràng giữa các giới, nhưng chúng dẫn đến các vấn đề thực tế. Như chính Chú giải chỉ ra, nếu một tỳ-kheo thực hiện một hành vi nằm gần ranh giới giữa các giới này nhưng sau đó không thể báo cáo chính xác loại dục vọng nào vị ấy đang cảm thấy vào lúc nóng bỏng, không có cách nào để xét xử trường hợp của vị ấy và giao hình phạt.
Dù sao, không có cơ sở nào trong Thánh điển cho hệ thống của Chú giải, và trên thực tế nó mâu thuẫn không chỉ với phán quyết của Vibhaṅga đã đề cập ở trên, mà còn với định nghĩa của nó về có lòng dục (lustful) theo [Sg 2], [3], và [4], vốn giống hệt nhau cho cả ba giới và không đặt giới hạn nào về loại dục vọng liên quan. Tất cả điều này dẫn đến kết luận rằng hệ thống phân loại dục vọng gọn gàng của Chú giải không hợp lệ, và phán quyết của Vibhaṅga vẫn giữ nguyên: Nếu một tỳ-kheo cố hành dâm với bất kỳ phần nào của cơ thể còn sống ngoài ba magga, trường hợp đó thuộc các giới saṅghādisesa — [Sg 1] cho xuất tinh cố ý hay [Sg 2] cho tiếp xúc thể chất với lòng dục hoặc cả hai — thay vì ở đây.
Miễn trừ toàn diện (Blanket Exemptions)
Ngoài các tỳ-kheo không biết mình đang bị tấn công hay không đồng ý khi biết, Vibhaṅga nêu rằng có bốn loại tỳ-kheo đặc biệt được miễn trừ hình phạt theo giới này: bất kỳ tỳ-kheo nào bị điên loạn, bị quỷ ám, mê sảng vì đau đớn, hay là người vi phạm đầu tiên (trong trường hợp này là Tôn giả Sudinna và vị tỳ-kheo với con khỉ) mà hành động của họ đã thúc đẩy Đức Phật chế định giới.
Chú giải định nghĩa điên loạn là bất kỳ ai "lang thang theo cách không đứng đắn, với nhận thức hỗn loạn, đã vứt bỏ tất cả cảm giác hổ thẹn và lo sợ tội lỗi, không biết liệu mình có vi phạm các học giới lớn hay nhỏ hay không." Chú giải xem đây là một tình trạng y tế, quy cho mật. Một tỳ-kheo dưới ảnh hưởng của một loại thuốc gây tâm thần nặng nề rõ ràng sẽ thuộc miễn trừ này, nhưng người dưới ảnh hưởng của một chất say thông thường hơn thì không. Còn về sự quỷ ám, Chú giải nói rằng điều này có thể xảy ra khi các quỷ dọa nạt người hay khi, bằng cách đánh lạc hướng người bằng các hình ảnh cảm giác, chúng đưa tay vào tim người qua miệng (!). Dù nguyên nhân là gì, Chú giải lưu ý rằng các tỳ-kheo điên loạn và bị quỷ ám được miễn trừ các hình phạt họ phạm phải chỉ khi nhận thức của họ hỗn loạn ("khi chánh niệm của họ bị quên hoàn toàn và họ không biết lửa, vàng, phân và gỗ đàn hương là gì") và không phải từ bất kỳ hình phạt nào họ phạm phải trong các khoảnh khắc tỉnh táo. Còn về tỳ-kheo mê sảng vì đau đớn, vị ấy được miễn trừ hình phạt chỉ trong các giai đoạn khi cơn đau quá lớn đến mức vị ấy không biết mình đang làm gì.
Bốn loại này được miễn trừ hình phạt theo hầu hết tất cả các giới, mặc dù người vi phạm đầu tiên cho mỗi giới chỉ được miễn trừ cho lần duy nhất vị ấy hành động theo cách thức dẫn đến việc Đức Phật chế định giới. Tôi sẽ chỉ đề cập đến các loại này rất hiếm khi nữa, và — ngoại trừ những chỗ được nêu rõ ràng khác — người đọc nên ghi nhớ chúng là được miễn trừ trong mọi trường hợp.
Các trường hợp liên quan (Related Cases)
Vinīta-vatthu của giới này chứa ba trường hợp đã trở thành cơ sở cho các giới bổ sung.
Hai trường hợp đầu là một cặp. Trong một trường hợp, một tỳ-kheo phát hiện rằng mình đã trải qua một sự biến đổi giới tính tự phát (!) và bây giờ là phụ nữ; trong trường hợp thứ hai, một tỳ-kheo-ni (bhikkhunī) tự nhiên trải qua sự biến đổi ngược lại và bây giờ là đàn ông.
Trong trường hợp đầu tiên, Đức Phật nói rằng vị tỳ-kheo bây giờ là tỳ-kheo-ni và nên được đưa đến gia nhập cộng đồng tỳ-kheo-ni. Lễ thọ giới ban đầu của vị ấy vẫn còn hiệu lực, vị ấy có cùng thầy giáo thọ như trước, và thâm niên của vị ấy được tính từ thời điểm thọ giới ban đầu (không phải từ thời điểm biến đổi giới tính). Còn về các tội vi phạm mà vị ấy đã phạm khi còn là tỳ-kheo chưa được giải quyết: Nếu chúng liên quan đến các giới mà các tỳ-kheo có chung với tỳ-kheo-ni, chúng sẽ được giải quyết bởi cộng đồng tỳ-kheo-ni. Nếu chúng liên quan đến các giới mà các tỳ-kheo không có chung với cộng đồng tỳ-kheo-ni, chúng không còn được tính là tội lỗi (§).
Chú giải thêm rằng nếu vị tỳ-kheo-ni mới trải qua một sự biến đổi giới tính khác và trở lại là đàn ông, vị ấy trở lại là tỳ-kheo và phải gia nhập lại các tỳ-kheo, nhưng các tội vi phạm trước đây đã được tuyên bố là không phạm tội vẫn không phải là tội lỗi.
Trong trường hợp thứ hai, các nguyên tắc tương tự áp dụng nhưng theo chiều ngược lại.
Còn về trường hợp thứ ba:
"Bấy giờ, một tỳ-kheo nhất định đã đến Lâu Đài Có Nóc ở Đại Lâm tại Vesālī để nghỉ ngơi ban ngày và đang ngủ, đã để cửa mở. Các chi thể khác nhau của vị ấy cứng đờ vì 'gió lực' (tức là vị ấy bị cương cứng) (§). Bấy giờ, một đoàn đông đảo phụ nữ mang vòng hoa và nước hoa đến công viên, hướng đến trú xứ. Trông thấy vị tỳ-kheo, họ ngồi lên bộ phận nam của vị ấy (§) và, sau khi thỏa mãn dục vọng và nhận xét 'Thật là một người đàn ông mạnh mẽ, người này!', họ thu dọn vòng hoa và nước hoa rồi rời đi."
Vị tỳ-kheo không phạm tội, nhưng Đức Phật cho phép đóng cửa khi nghỉ ngơi ban ngày. Từ sự cho phép này, Chú giải đặt ra một điều cấm — rằng tỳ-kheo phạm tội dukkaṭa nếu không đóng cửa khi ngủ ban ngày — nhưng nếu Đức Phật có ý định một điều cấm, Ngài chắc chắn đã nêu ra giới đó theo hình thức đó. Nói cách khác, người ta có thể ngủ ban ngày mà không bị phạt vì việc cửa có mở hay không, nhưng như câu chuyện nguồn gốc cho thấy, sẽ khôn ngoan hơn nếu giữ cửa đóng.
Tóm tắt: Hành dâm tự nguyện — qua bộ phận sinh dục, hậu môn hay miệng — với một người, phi nhân, hay súc vật thông thường là một tội pārājika (ba-la-di).
\ \ \*
#Pārājika 2
Điều học: Nếu bất kỳ tỳ-kheo nào, trong điều được xem là hành vi trộm cắp, lấy thứ không được cho từ khu vực có người cư trú hay từ nơi hoang dã — cũng như khi, trong hành vi lấy thứ không được cho, các vua chúa bắt tội phạm sẽ đánh đòn, bỏ tù hay đày ải vị ấy, nói rằng "Ngươi là kẻ trộm, ngươi là kẻ ngu, ngươi là kẻ mù quáng, ngươi là kẻ cướp" — một tỳ-kheo theo cách đó lấy thứ không được cho cũng bại hoại và không còn trong sự cộng trú.
Giới cấm trộm cắp này, trong việc trình bày chi tiết của nó, là giới phức tạp nhất trong Pāṭimokkha và đòi hỏi nhiều giải thích nhất — không phải vì trộm cắp là một khái niệm đặc biệt khó hiểu, mà vì nó có thể mang nhiều hình thức. Thánh điển xử lý vấn đề này theo từng trường hợp, theo cách chống lại việc tóm tắt dễ dàng. Để làm cho vấn đề phức tạp hơn nữa, phần thảo luận của Chú giải về giới này cực kỳ dài dòng và thường xuyên lệch khỏi Thánh điển cả về những điểm quan trọng lẫn nhỏ nhặt. Vì sự lệch lạc quá nhiều, chúng ta sẽ chỉ tập trung vào những điểm quan trọng.
Vibhaṅga định nghĩa hành vi trộm cắp theo bốn yếu tố.
1) Đối tượng: bất cứ thứ gì thuộc về một người khác hay một nhóm người khác.
2) Nhận thức: Người ta nhận thức đối tượng là thuộc về một người khác hay một nhóm người khác.
3) Chủ tâm: Người ta quyết định trộm cắp nó.
4) Nỗ lực: Người ta lấy nó.
Trộm cắp trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng luôn là một tội. Tuy nhiên, mức độ nghiêm trọng của tội tuỳ thuộc vào một yếu tố khác, đó là —
5) Giá trị của đối tượng.
Đối tượng
Để một đối tượng đủ tiêu chuẩn là thứ không được cho — thuật ngữ của giới này chỉ bất cứ thứ gì có thể là đối tượng của một vụ trộm — nó phải thuộc về người khác: "không được cho, không bị tịch thu, không bị buông bỏ/vứt bỏ; được canh giữ, được bảo vệ, được xem là của mình (§ — theo nghĩa đen là 'được nhìn nhận là "của ta"'), được sở hữu bởi người khác." Trong tất cả các trường hợp của Vibhaṅga theo giới này, "người khác" đó hoặc là một cá nhân con người, hoặc là một nhóm người. Vấn đề tài sản thuộc về Saṅgha (Tăng đoàn) về mặt logic phù hợp ở đây, nhưng vì chủ đề khá phức tạp, chúng ta sẽ thảo luận nó như một trường hợp đặc biệt bên dưới.
Vì những vật đã được cho đi hay đã bị vứt bỏ không thoả mãn yếu tố đối tượng ở đây, nên không có tội đối với một tỳ-kheo lấy một vật bị vứt bỏ — chẳng hạn như giẻ rách từ một đống rác — hay những vật vô chủ ở nơi hoang dã. Chú giải, trong một số ví dụ của mình, xếp cả những vật đã bị coi là mất vào loại "bị từ bỏ," nhưng cách hiểu này phải được giới hạn rất nhiều. Nếu người chủ vẫn giữ ý thức sở hữu đối với vật bị mất, thì nó sẽ thuộc thuật ngữ được xem là của mình, và do đó vẫn được tính là không được cho. Chỉ khi người chủ từ bỏ hoàn toàn mọi ý thức sở hữu thì nó mới thực sự được tính là bị từ bỏ.
Vinīta-vatthu đề cập một trường hợp thú vị trong đó người coi vườn của một vườn cây ăn trái cho phép các tỳ-kheo lấy trái cây từ vườn, mặc dù ông ta không được ủy quyền làm vậy. Các tỳ-kheo không phạm tội.
Chú giải nói thêm rằng nếu người ta canh giữ một vật như tài sản của một địa điểm — ví dụ, một vật cúng dường cho một tôn tượng Phật, một cetiya, hay một nơi linh thiêng khác — thì vật đó cũng đủ tiêu chuẩn là "không được cho" theo giới này. Mặc dù Vibhaṅga có đề cập đến tài sản loại này ở [NP 30] và [Pc 82], nhưng vì lý do nào đó nó không đề cập ở đây. Dù vậy, phán định của Chú giải về điểm này phản ánh một phong tục đã trở nên phổ biến vào thời của nó, đó là việc dâng những vật quý giá cho một cetiya (bao gồm cả các tôn tượng Phật) và hiến chúng không phải cho Saṅgha mà cho cetiya. Một số bi ký Phật giáo Ấn Độ thời trung đại diễn tả ý rằng chính cetiya hay xá-lợi Phật (nếu có) bên trong cetiya thực sự sở hữu những vật ấy, nhưng Chú giải nêu rằng những vật này có chủ chỉ theo nghĩa là có những con người đang trông coi chúng vì mục đích của cetiya. Chẳng hạn, những viên ngọc trang trí cho hộp đựng Xá-lợi Răng thiêng ở Kandy hay những vật cúng dường cho tượng Phật Ngọc ở Bangkok sẽ thuộc loại này. Theo Chú giải, Saṅgha có bổn phận chăm sóc những vật như thế nhưng không có quyền sở hữu chúng. Trong phần thảo luận về cả giới này lẫn Pv.XIX, Chú giải nêu rằng những vật được dâng cho Saṅgha có thể được dùng vào mục đích của cetiya — ví dụ, để đóng góp vào việc trang trí hay bảo dưỡng nó — nhưng những vật được dâng cho cetiya thì không được dùng vào mục đích của Saṅgha.
Từ phần thảo luận của Chú giải về loại quyền sở hữu này, có vẻ như nếu không còn con người nào trông coi một cetiya nữa, thì những vật được dâng cúng cho nó sẽ không còn được tính là có chủ và do đó có thể được đem đi cất giữ an toàn, tốt nhất là chuyển sang một cetiya khác. Tuy nhiên, bất kỳ tỳ-kheo nào lấy những vật ấy cho riêng mình sẽ liều chuốc lấy cơn thịnh nộ của chư thiên (deva) có thể đang canh giữ cetiya. Đây là lý do vì sao trong những trường hợp như vậy, theo truyền thống người ta cử hành một nghi thức chính thức thỉnh cầu sự cho phép của bất kỳ chư thiên hộ trì nào, đồng thời hứa sẽ không lấy những vật ấy để dùng cho riêng mình.
Vibhaṅga nêu rằng những vật thuộc về súc vật thông thường hay các peta (ngạ quỷ) không thuộc phạm vi của giới này. Về điểm này, xem phần thảo luận ở mục Không phạm tội, bên dưới.
Nhận thức
Để hành vi lấy thứ không được cho được tính là trộm cắp, người ta cũng phải nhận thức đối tượng là không được cho. Vì vậy, không có tội nếu người ta lấy một vật, dù nó không được cho, nếu người ta thành thật tin rằng nó vô chủ hay đã bị vứt bỏ. Tương tự, nếu một tỳ-kheo lấy một vật vì nhầm tưởng nó là của mình, hay là của một người bạn đã cho phép vị ấy lấy đồ đạc của người đó theo sự tin tưởng, thì không có tội ngay cả khi giả định về sự tin tưởng đó hoá ra là một nhận thức sai. Cũng vậy, một tỳ-kheo lấy đồ vật từ kho chung của Cộng đồng, với giả định rằng vị ấy có quyền tự lấy, thì không phạm tội ngay cả khi giả định đó hoá ra là sai.
Vinīta-vatthu có một trường hợp trong đó một tỳ-kheo, để mắt đến một số vật vào ban ngày, ban đêm quay lại để trộm chúng. Tuy nhiên, thay vì lấy những vật mình đã để mắt, vị ấy rốt cuộc lại lấy nhầm một số đồ đạc của chính mình. Vị ấy chuốc lấy một tội dukkaṭa cho những nỗ lực của mình.
Không văn bản nào thảo luận trường hợp có thể xảy ra khi người ta còn nghi ngờ liệu vật đang xét có phải là không được cho hay không, có lẽ vì những người biên soạn cảm thấy rằng yếu tố chủ tâm, được thảo luận tiếp theo, sẽ không áp dụng trong những trường hợp như vậy. Do đó nó sẽ không phải là một tội theo giới này. Tuy nhiên, cách hành xử khôn ngoan khi người ta còn nghi ngờ về quyền sở hữu của một vật là đừng lấy vật đó làm của riêng, hoặc nhiều lắm là lấy nó theo dạng mượn, như được giải thích bên dưới.
Chủ tâm
Hành vi lấy thứ không được cho, ngay cả khi người ta nhận thức nó là không được cho, chỉ được tính là trộm cắp nếu chủ tâm của người ta là trộm nó. Vì vậy, như các điều khoản không phạm tội nêu rõ, một tỳ-kheo không phạm tội nếu vị ấy lấy một vật một cách tạm thời hay theo sự tin tưởng. Về những điểm này, xem phần thảo luận ở mục Không phạm tội, bên dưới. Cũng vậy, Vinīta-vatthu phán định rằng một tỳ-kheo, khi thấy một vật bị bỏ lại ở nơi nó có thể bị hư hại, đem cất giữ an toàn giúp người chủ, thì không phạm tội.
Chú giải thảo luận hai trường hợp lấy một vật với chủ tâm có điều kiện (parikappāvahāra): đặt điều kiện vào món vật, và đặt điều kiện vào nơi chốn. Chú giải minh hoạ trường hợp đầu bằng ví dụ về một tỳ-kheo đi vào một kho tối và lấy một cái bao đầy đồ vật, nghĩ rằng: "Nếu bao đựng vải, tôi sẽ trộm nó; nếu nó chỉ đựng chỉ, tôi sẽ không." Trong trường hợp này, nếu bao quả thật đựng vải, thì nó đã bị trộm ngay khoảnh khắc tỳ-kheo dịch chuyển bao khỏi chỗ của nó (xem bên dưới). Nếu nó chỉ đựng chỉ, và vị ấy trả nó về chỗ cũ, thì vị ấy không phạm tội. Tuy nhiên, nếu tỳ-kheo lấy cái bao mà nghĩ rằng, "Tôi sẽ trộm bất cứ thứ gì trong bao," thì Chú giải cho rằng vị ấy chưa phạm tội trộm cho đến khi vị ấy biết được trong bao đựng gì rồi lại nhấc nó lên lần nữa; nhưng trường hợp này thực ra không thuộc loại này, vì tỳ-kheo thật sự đã không đặt điều kiện nào lên món vật và do đó đã trộm nó ngay khi vị ấy nhấc nó lên lần đầu.
Đặt điều kiện vào nơi chốn nghĩa là nghĩ rằng, "Nếu tôi có thể đưa vật này qua khỏi nơi như-vậy-như-vậy (chẳng hạn một cái cổng), tôi sẽ trộm nó; nếu có ai thấy tôi trước đó, tôi sẽ giả vờ chỉ đang ngắm nó và sẽ trả nó về chỗ cũ." Vì người ta chưa dứt khoát quyết định trộm nó khi lần đầu nhấc nó lên, nên vụ trộm chỉ được hoàn thành khi người ta đưa vật qua khỏi nơi đã định.
Nỗ lực
Giả sử tất cả các điều kiện trên đều được đáp ứng — vật thuộc về người khác, người ta nhận thức nó là thuộc về người khác, và người ta có chủ tâm trộm nó — thì nếu sau đó người ta lấy nó, điều đó cấu thành hành vi trộm cắp. Khi ấy nảy sinh câu hỏi chính xác thì những hành vi nào cấu thành việc lấy.
Vibhaṅga, thay vì đưa ra câu trả lời có hệ thống cho câu hỏi này, lại cung cấp một danh sách dài các tình huống có thể xảy ra rồi định nghĩa cách lấy được xác định trong mỗi trường hợp. Chỉ riêng việc đọc hết danh sách cũng có thể đòi hỏi đôi chút kiên nhẫn, và ta dễ đồng cảm với các tỳ-kheo thời xưa từng phải học thuộc lòng nó. Ở đây, để rút ngắn phần thảo luận, chúng ta sẽ đảo ngược thứ tự của nó, liệt kê trước các hành động đủ tiêu chuẩn là lấy rồi sau đó là các tình huống mà những hành động ấy áp dụng. Những hành động chỉ cần làm rõ đôi chút sẽ được giải thích ngay trong danh sách; những hành động cần thảo luận mở rộng sẽ được giải thích bên dưới.
Dịch chuyển vật khỏi chỗ của nó: những vật chôn dưới đất; đặt trên mặt đất; đặt trên một vật khác đang đặt trên mặt đất; treo ở một chỗ trên cao, chẳng hạn như một cái móc hay dây phơi quần áo; đang nổi, đang bay, hay đang rơi giữa không trung; đặt trong một chiếc thuyền; đặt trong một chiếc xe; một vật mà người ta đã khiến người khác đánh rơi; những con vật không chân, những con vật mà người ta có thể nhấc lên hay đẩy khỏi chỗ của chúng (theo Chú giải, điều này cũng bao gồm những con vật có chân lớn hơn đang nằm); những vật mà người ta được nhờ canh giữ. Vibhaṅga nói rõ rằng những vật trong một chiếc xe cũng được tính là đã bị lấy khi chiếc xe bị dịch chuyển khỏi chỗ của nó.
"Cắt lấy" một nắm tay: những vật bên trong một vật chứa. Theo Chú giải, điều này nghĩa là thò tay vào vật chứa và nắm lấy, chẳng hạn, một nắm đồng xu theo cách mà những đồng xu trong nắm tay không chạm vào bất kỳ đồng xu nào khác trong vật chứa. Trong trường hợp này, việc lấy được hoàn thành trước khi vật được đưa ra khỏi vật chứa.
Cắm một vật đựng vào một vũng chất lỏng hay một đống đồ vật và khiến một phần vũng hay đống ấy đi vào vật đựng: những vật bên trong một vật chứa; nước hay bất kỳ chất lỏng nào, dù trong vật chứa hay không. Một lần nữa, Chú giải nêu rằng những vật hay chất lỏng trong vật đựng của người ta không được chạm vào những vật hay chất lỏng còn lại bên ngoài vật đựng. Và cũng một lần nữa, trong trường hợp lấy các vật hay chất lỏng nằm trong một vật chứa theo cách này, việc lấy được hoàn thành trước khi các vật hay chất lỏng được đưa ra khỏi vật chứa.
Lấy ra hoàn toàn khỏi miệng của một vật chứa: những vật quá dài hay quá lớn để có thể lấy ra khỏi một vật chứa bằng một vật đựng hay bằng một nắm tay.
Uống chất lỏng từ một vật chứa: Điều này áp dụng cho việc uống từ vật chứa mà không dịch chuyển vật chứa khỏi chỗ của nó. Nếu vật chứa bị dịch chuyển khỏi chỗ của nó, thì điều đó sẽ cấu thành việc lấy. Cũng như với trường hợp nắm tay, Chú giải lập luận rằng chất lỏng chỉ được xem là đã lấy khi chất lỏng đã nuốt vào không còn tiếp xúc với chất lỏng chưa nuốt. Điều này có thể được thực hiện bằng cách nuốt, bằng cách khép môi lại, hay bằng cách rời miệng khỏi vật chứa.
Di chuyển vật từ phần này sang phần khác trên thân thể mình: một vật mà người ta vốn đã đang mang trước khi quyết định trộm nó. Vibhaṅga nhìn nhận năm phần thân thể ở đây: đầu, phần thân trên, hông, và mỗi bàn tay. Chú giải định nghĩa đầu là bất cứ phần nào trên cổ; phần thân trên là bất cứ phần nào từ đầu trở xuống, trên thân, tới ngang xương ức, và trên cánh tay, tới khuỷu tay; hông là phần còn lại của thân thể bên dưới phần thân trên; và bàn tay là cánh tay từ khuỷu trở xuống. Chú giải lưu ý rằng định nghĩa này chỉ áp dụng cho những trường hợp mà người chủ chưa nhờ người ta mang giúp món vật cho họ. Cả Chú giải lẫn Phụ-chú giải đều không giải thích điều kiện này, nhưng một lý do có thể là: nếu họ đã nhờ một tỳ-kheo mang giúp món vật cho họ, mà không có ý định để vị ấy trao nó cho một người nào khác, thì nó sẽ được tính là do vị ấy canh giữ, hoặc được ký gửi nơi vị ấy để cất giữ an toàn, và do đó sẽ thuộc một loại khác. Ngược lại, nếu họ nhờ vị ấy mang vật đi để trao cho một người khác mà vị ấy lại quyết định lấy nó cho riêng mình, thì trường hợp đó sẽ thuộc mục Lừa dối, được thảo luận bên dưới.
Để rơi vật: một vật mà người ta vốn đã đang mang trước khi quyết định trộm nó.
Khiến vật di chuyển một sợi tóc về phía thượng lưu, hạ lưu, hay ngang qua một vùng nước: một chiếc thuyền hay bất kỳ phương tiện tương tự nào đang nổi trên nước.
Phá một con đê để nước chảy ra: nước trong một cái hồ, con kênh, hay hồ chứa.
Khiến một con vật di chuyển tất cả các chân của nó: những con vật hai chân (điều này bao gồm cả con người, tức là nô lệ), bốn chân, nhiều chân. Theo Chú giải, điều này áp dụng dù người ta có chạm vào con vật hay chỉ dụ dỗ hay đe doạ nó mà không chạm vào. Nếu con vật đang nằm, thì chỉ cần khiến nó đứng dậy trên các chân của nó cũng được tính là đã lấy nó. Trong trường hợp giúp một nô lệ trốn thoát khỏi cảnh nô lệ, nếu người nô lệ làm theo mệnh lệnh hay lời khuyên của người ta để trốn thoát, thì người ta phạm tội lấy; nhưng nếu người ta chỉ đơn giản cho người nô lệ biết những cách hay để đạt tự do, hoặc cung cấp thức ăn hay sự che chở dọc đường, thì người ta không phạm tội.
Chặt xuống: những cây cối mọc tại chỗ, dù trên đất khô hay trong một vùng nước. Chú giải nêu rằng một khi cây đã bị chặt đứt hoàn toàn, thì dù nó chưa đổ xuống — như khi một cái cây bị vướng vào cành của những cây bên cạnh — nó vẫn được xem là đã lấy.
Khiến người chủ từ bỏ những nỗ lực (§) để giành lại quyền sở hữu: những mảnh đất (ruộng, vườn cây, nền xây dựng), các toà nhà, những vật được ký gửi nơi một tỳ-kheo để cất giữ an toàn. (Theo Chú giải, những vật cho một tỳ-kheo mượn cũng thuộc loại này.) Theo Vibhaṅga, nếu một trường hợp thuộc loại này đưa ra toà, thì kiểu lấy này được hoàn thành khi người chủ rốt cuộc thua kiện. Vinaya-mukha nói thêm rằng nếu người chủ kháng cáo vụ kiện sau phiên xử đầu tiên, thì việc lấy được hoàn thành khi người chủ thua ở toà cao nhất mà người ấy kháng cáo lên.
Phần thảo luận trong Chú giải và Phụ-chú giải cho thấy hai loại "những vật mà một tỳ-kheo được nhờ canh giữ" và "những vật được ký gửi nơi một tỳ-kheo để cất giữ an toàn" khác nhau ở chỗ, trong trường hợp sau, vật đã được trao tận tay tỳ-kheo, còn trong trường hợp trước thì không. Tuy nhiên, điều này không khớp với Vibhaṅga, vốn khi định nghĩa "ký gửi" đã dùng từ upanikkhitaṁ, mà ở [NP 18] có nghĩa là "đặt xuống bên cạnh." Một cách phân biệt hai loại này sát với Vibhaṅga hơn là nói rằng, trong trường hợp sau, vật ở một vị trí mà người chủ, muốn lấy lại, sẽ phải xin phép tỳ-kheo để làm vậy, còn trong trường hợp trước thì không cần. Ví dụ, một vật đặt trong cốc của tỳ-kheo hay trong kho của tu viện sẽ được tính là ký gửi nơi tỳ-kheo — bất kể nó có được trao tận tay vị ấy hay không — trong khi một vật để bên lề một con đường công cộng — mà tỳ-kheo chỉ được nhờ trông chừng trong một khoảng thời gian ngắn — sẽ được tính là một vật mà vị ấy được nhờ canh giữ.
Dịch chuyển một cột mốc ranh giới: những mảnh đất. Vinaya-mukha lưu ý rằng điều này mâu thuẫn với định nghĩa vừa nêu về cách người ta lấy một mảnh đất, vì người chủ thậm chí có thể không biết rằng cột mốc đã bị dời, và không nhất thiết sẽ từ bỏ quyền sở hữu ngay cả khi người ấy thấy một tỳ-kheo đang dời nó. Phụ-chú giải cố giải thích sự bất nhất này bằng cách chủ trương rằng việc dịch chuyển một cột mốc ranh giới chỉ thoả mãn yếu tố nỗ lực ở đây nếu bản thân hành động dời cột mốc, tự nó, khiến người chủ từ bỏ mọi nỗ lực đòi lại đất; nhưng như thế sẽ làm cho loại này thành thừa. Một cách giải thích hay hơn là định nghĩa "lấy" này áp dụng cho những mưu toan đòi chiếm đất của Saṅgha, vì nếu không — nếu đất chỉ có thể bị trộm khi người chủ từ bỏ quyền sở hữu — thì đất của Saṅgha sẽ không thể bị trộm, bởi không có ai hành động thay cho Saṅgha của Bốn Phương có thể một lần dứt khoát từ bỏ mọi nỗ lực đòi lại đất.
Đổi vé rút thăm: Xem mục Gian lận, bên dưới.
Đưa một vật phải chịu thuế qua khu vực hải quan mà không nộp thuế: Xem mục Buôn lậu, bên dưới.
Trong số các cách lấy khác nhau này, Chú giải dành nhiều chỗ nhất cho cách thứ nhất, "dịch chuyển vật khỏi chỗ của nó." Phần thảo luận của nó trái với Thánh điển ở nhiều điểm, đáng chú ý nhất là việc xoá bỏ các loại riêng biệt dành cho việc lấy những vật lớn ra khỏi một vật chứa (lấy ra hoàn toàn khỏi miệng của một vật chứa) và cho thuyền (khiến chúng di chuyển một sợi tóc về phía thượng lưu, hạ lưu, hay ngang qua một vùng nước), rồi gộp chúng chung vào loại này. Mặc dù Chú giải có thể đã coi các loại riêng biệt ấy là tuỳ tiện, nhưng chính nó lại đưa ra nhiều phân biệt và bất nhất tuỳ tiện của riêng mình. Có vẻ các phân biệt của nó đến từ các chú giải cổ, vì ngay cả Buddhaghosa cũng bày tỏ nỗi tuyệt vọng khi cố ghi hết chúng ra giấy. Ở đây chúng ta sẽ theo sát sơ đồ của Thánh điển để định nghĩa hành vi lấy, và tập trung vào những phần trong thảo luận của Chú giải phù hợp với Thánh điển. Còn về những phần lệch khỏi Thánh điển, chỉ những chỗ lệch quan trọng mới được ghi nhận.
Nói chung, Chú giải định nghĩa chỗ của một vật theo các hướng mà nó có thể được di chuyển: lên, xuống (như khi một vật đặt trên cát có thể bị ấn xuống cát), sang trái, sang phải, về phía trước (về phía người đang lấy nó), và ra xa. Đối với năm hành động sau trong số này, chỗ của vật được định nghĩa theo ba chiều: khoảng không mà nó chiếm. Vì vậy, để lấy một vật theo bất kỳ hướng nào trong số đó, người ta phải đẩy hay kéo nó hoàn toàn ra khỏi các toạ độ của khoảng không mà ban đầu nó chiếm. Tuy nhiên, đối với việc nhấc vật lên, chỗ của nó được định nghĩa theo hai chiều: diện tích tiếp xúc giữa vật và giá đỡ của nó, dù giá đỡ ấy là một vật khác hay là mặt đất. Vì vậy, để lấy một vật bằng cách nhấc nó lên, người ta chỉ cần nhấc nó lên khỏi giá đỡ một sợi tóc.
Ví dụ, một chiếc máy truyền hình trên một cái kệ được xem là đã lấy khi nó được trượt sang trái dọc theo kệ đến điểm mà cạnh phải của nó vừa vặn nằm bên trái vị trí cũ của cạnh trái, hoặc trượt sang phải đến điểm mà cạnh trái của nó vừa vặn nằm bên phải vị trí cũ của cạnh phải, hoặc được nhấc lên khỏi kệ một sợi tóc.
Vì những vật ở trên không thì không có giá đỡ, nên Chú giải định nghĩa khoảng không của chúng theo ba chiều bất kể chúng bị di chuyển theo hướng nào. Chẳng hạn, nếu người ta chụp lấy một mảnh vải đang bị gió thổi, thì chỗ của nó là khoảng không ba chiều mà nó chiếm vào lúc người ta chụp lấy nó. Nếu người ta chặn một con công đang bay mà không chạm vào nó, thì chỗ của nó là khoảng không ba chiều mà nó chiếm vào lúc nó dừng lại để lượn giữa không trung. Trong cả hai trường hợp, vật được xem là đã lấy khi bị dời đi theo bất kỳ hướng nào ra ngoài các toạ độ của khoảng không đó. Trong trường hợp mảnh vải, điều này có thể được thực hiện chỉ bằng cách buông nó ra. Trong trường hợp con công, điều này có thể được thực hiện bằng cách khua tay và khiến nó bay theo hướng mong muốn. Nếu con công tình cờ đậu xuống cánh tay người ta, thì nó được xem là đã lấy khi người ta di chuyển nó sang một phần khác trên thân thể mình hoặc đặt nó xuống.
Đối với những con vật bơi trong nước, thì việc định nghĩa chỗ theo cùng cách như đối với chim bay trên không sẽ là hợp lý, nhưng Chú giải cứ khăng khăng rằng toàn bộ vùng nước nơi chúng được giữ mới cấu thành chỗ của chúng.
Những vật ở trên một người đang sống — chẳng hạn một chiếc vòng đeo trên cánh tay người ấy — thì lấy thân thể của người ấy làm chỗ của chúng. Vì vậy, nếu trong khi cố tháo chiếc vòng, người ta kéo nó lên xuống dọc theo cánh tay, thì nó chưa bị lấy. Nó chỉ được xem là đã lấy khi người ta tháo hẳn nó ra khỏi bàn tay. Nếu người ta đang trộm quần áo của người ấy, thì chúng chỉ được xem là đã lấy khi được cởi ra khỏi thân thể người ấy. Nếu người ấy, sau khi bị lột quần áo, vẫn còn nắm giữ chúng, thì chúng chỉ được xem là đã lấy khi bị giật ra khỏi tay người ấy.
Đối với một số vật, Chú giải định nghĩa chỗ theo những cách có vẻ khá tuỳ tiện. Chẳng hạn, một chiếc y trên một sợi dây phơi được xem là đã lấy khi nó được nhấc lên khỏi dây một sợi tóc, nhưng vì lý do nào đó, nếu nó được dịch chuyển dọc theo dây thì nó chưa được xem là đã lấy cho đến khi nó cách xa mười hay mười hai bề ngang ngón tay khỏi vùng mà ban đầu nó chiếm trên dây. Một vật dựa vào một bức tường thì có hai chỗ: điểm nó đặt trên mặt đất và điểm nó chạm vào tường. Chỗ của một chiếc xe được định nghĩa theo hai chiều: những điểm mà bánh xe của nó chạm mặt đất (có lẽ điều này được định nghĩa theo lối loại suy với chân của một con vật). Một vật buộc vào một cây cột thì có mối nối ấy như một phần thêm vào chỗ của nó. Vì vậy, một cái nồi buộc bằng dây xích vào một cây cột chưa được xem là đã lấy cho đến khi nó được dời khỏi vùng mà nó chiếm theo định nghĩa chung ở trên và hoặc là dây xích bị cắt, hoặc là cây cột bị nhổ lên. Mặc dù mỗi trường hợp này đều có một logic nhất định, nhưng những phân biệt thêm vào ấy có vẻ là những rắc rối không cần thiết chồng thêm vào một vấn đề vốn đã phức tạp. Vì lẽ đơn giản, dường như có đủ mọi lý do để cứ theo định nghĩa chung về chỗ ngay cả trong những trường hợp đặc biệt này, mặc dù không có gì trong Vibhaṅga để chứng minh hay bác bỏ Chú giải ở đây.
Tuy nhiên, như đã lưu ý ở trên, một số định nghĩa của Chú giải về chỗ rõ ràng mâu thuẫn với Vibhaṅga. Trong một số trường hợp, mâu thuẫn ấy đơn giản, như khi Chú giải khăng khăng rằng một con vật được giữ trong một khu quây — một con bò trong chuồng, một con công trong một khu vườn — thì không được xem là đã lấy khi các chân của nó bị di chuyển, mà chỉ khi bị đưa ra khỏi khu quây. Trong những trường hợp khác, mâu thuẫn phức tạp hơn, ở chỗ Chú giải cố định nghĩa lấy là "dịch chuyển vật khỏi chỗ của nó" trong những trường hợp mà Vibhaṅga định nghĩa hành vi lấy theo cách khác. Ví dụ, với một vật nằm dưới đáy một vật chứa, Chú giải nói rằng vật được xem là đã lấy khi được nhấc lên khỏi đáy một sợi tóc, không cần phải đưa vật ra khỏi vật chứa thì mới được coi là đã lấy. Trong trường hợp một chiếc thuyền, Chú giải định nghĩa chỗ của chiếc thuyền theo ba chiều đã được điều chỉnh: toàn bộ khoảng không nơi chiếc thuyền chiếm chỗ của nước. Để lấy nó bằng cách ấn nó xuống nước, đỉnh của chiếc thuyền phải chìm thấp hơn mức mà ban đầu sống thuyền ở đó; để lấy nó bằng cách nhấc nó lên, người ta chỉ cần nhấc nó lên khỏi mặt nước một sợi tóc, không cần phải nhấc sống thuyền lên đến một điểm cao hơn nơi điểm cao nhất của chiếc thuyền từng ở đó. Tuy nhiên, vì Vibhaṅga không định nghĩa việc lấy thuyền hay các vật trong vật chứa theo lối "dịch chuyển vật khỏi chỗ của nó," nên sự phân tích của Chú giải về những khả năng này là chuyện lạc đề.
Những trường hợp đặc biệt khác trong Vibhaṅga bao gồm những điều sau:
a. Gian lận: Các đồ vật đang được phân phối bằng cách rút thăm cho Cộng đồng, và một tỳ-kheo lấy phần đúng ra thuộc về một tỳ-kheo khác. Vibhaṅga không giải thích thêm, nhưng Chú giải nêu rằng việc lấy có thể được thực hiện theo nhiều cách. Nếu, sau khi rút thăm, X đặt thăm của mình vào chỗ thăm của Y trước khi nhặt thăm của Y lên, thì việc lấy được hoàn thành khi X nhặt thăm của Y lên. Nếu X nhặt thăm của Y lên trước khi đặt thăm của mình vào chỗ đó, thì việc lấy được hoàn thành khi X buông thăm của mình ra. Nếu cả hai thăm đều không xuất hiện (chúng đã bị giấu đi chăng?) và X khiến Y nhận phần của X, thì việc lấy được hoàn thành khi sau đó X nhặt phần của Y lên. Giả định nền tảng trong tất cả những điều này là phần của Y thuộc về Y ngay khi Y đã rút thăm cho phần đó. Chú giải nói thêm rằng cuộc đổi chác này được tính là trộm cắp bất kể phần của X có giá trị hơn phần của Y, kém hơn phần của Y, hay hai phần có giá trị ngang nhau.
Chú giải về [Mv.I.62] nói thêm rằng nếu một tỳ-kheo nhận vơ thâm niên cao hơn thực tế của mình nhằm nhận được những phần cúng dường tốt hơn, thì vị ấy nên bị xử theo giới này khi, qua mưu mẹo ấy, vị ấy nhận được những phần cúng dường lẽ ra thuộc về một tỳ-kheo khác. Tuy nhiên, loại hành động này có vẻ thuộc mục Lừa dối, được thảo luận bên dưới.
b. Buôn lậu: Một tỳ-kheo mang những vật phải chịu thuế nhập khẩu giấu chúng khi đi qua hải quan. Việc lấy được hoàn thành khi vật rời khỏi khu vực hải quan. Vibhaṅga tính giá trị của vật ở đây, nhằm xác định mức độ nghiêm trọng của tội, bằng khoản thuế phải nộp cho nó, chứ không phải giá bán thực tế của nó.
Vinīta-vatthu nêu rằng không có hình phạt nếu tỳ-kheo đi qua hải quan mà không biết rằng trong hành lý của mình có một vật phải chịu thuế nhập khẩu. Các trường hợp liên quan cho thấy điều này có thể mang một trong hai nghĩa: Hoặc vị ấy biết mình có mang vật đó nhưng không biết rằng nó phải chịu thuế nhập khẩu; hoặc vị ấy hoàn toàn không biết mình có mang vật đó. Chú giải nói thêm rằng nếu một tỳ-kheo báo cho nhân viên hải quan biết rằng mình có một vật phải chịu thuế nhập khẩu, ấy vậy mà nhân viên lại quyết định không thu thuế, thì tỳ-kheo không phạm tội. Chú giải cũng nêu rằng nếu một tỳ-kheo đi qua hải quan với một chủ tâm có điều kiện — "Nếu họ đòi xem đồ đạc của tôi, tôi sẽ nộp phí, nhưng nếu họ vẫy tay cho tôi qua thì tôi sẽ không" — thì nếu các nhân viên quả thật vẫy tay cho vị ấy qua mà không đòi xem đồ đạc, vị ấy không phạm tội. Ngày nay, khi người nhập cảnh một quốc gia được yêu cầu chọn những lối đi khác nhau qua khu vực hải quan, ghi là "Hàng phải khai báo" và "Không có gì khai báo," thì một tỳ-kheo có hàng phải khai báo mà lại đi vào lối "Không có gì khai báo" không thể tận dụng sự cho phép dành cho chủ tâm có điều kiện này, vì vị ấy đã bày tỏ một chủ tâm vô điều kiện qua việc chọn lối đi của mình.
Vibhaṅga nêu rằng nếu, để tránh nộp thuế nhập khẩu ở một biên giới, người ta vượt qua biên giới theo cách né khu vực hải quan (§), thì người ta chỉ phạm một tội dukkaṭa. Ngày nay, luật dân sự xét loại hành vi này là đáng khiển trách hơn so với việc luồn một vật qua hải quan, nhưng theo quan điểm của Vinaya thì hình phạt nhẹ hơn vẫn có hiệu lực. Chú giải nói rằng sự cho phép này chỉ áp dụng trong những trường hợp mà người ta né khu vực hải quan với một khoảng cách hơn hai leḍḍupāta — xấp xỉ 36 mét. (Một leḍḍupāta là một đơn vị đo lường xuất hiện thường xuyên trong Thánh điển và được định nghĩa là khoảng cách mà một người tầm vóc trung bình có thể ném một cục đất bằng cách hất tay từ dưới lên.)
Lập trường của Vibhaṅga ở đây rất quan trọng cần hiểu, vì nó có những hàm ý liên quan đến mức độ mà việc trốn các loại phí và thuế khác của nhà nước sẽ thuộc giới này. Giả định nền tảng ở đây dường như là một vật phải chịu thuế được mang vào một khu vực hải quan thì bị nhà vua (hay chính quyền) tạm giữ. Việc nộp thuế do đó là một hành động thu hồi quyền sở hữu trọn vẹn đối với vật ấy. Một vật được mang qua biên giới mà không vào khu vực hải quan sẽ không được tính là bị tạm giữ, mặc dù nhà vua hẳn sẽ đòi quyền tạm giữ hay thậm chí tịch thu nó nếu các thuộc hạ của ngài bắt được kẻ buôn lậu. Diễn giải sang ngôn ngữ hiện đại, điều này cho thấy rằng việc trốn các loại thuế khác mà chính quyền đòi hỏi — chẳng hạn thuế thừa kế — sẽ chỉ phạm hình phạt đầy đủ ở đây nếu vật bị đánh thuế đã bị tạm giữ trên tài sản của chính quyền, và người ta trốn thuế bằng cách đưa vật ra khỏi nơi tạm giữ mà không nộp khoản phí đòi hỏi. Bằng không, hình phạt cho việc trốn thuế sẽ là một tội dukkaṭa.
Không văn bản nào thảo luận vấn đề hàng cấm, tức là những vật mà một nhân viên hải quan sẽ tịch thu thẳng thay vì cho phép vào một quốc gia sau khi nộp phí. Có vẻ những hàng như thế được buôn lậu qua một trạm hải quan sẽ thuộc loại này, mặc dù — vì ngay cả việc nộp phí cũng không hợp pháp đưa được chúng qua hải quan — giá trị bán của chúng sẽ là yếu tố quyết định trong việc tính mức độ nghiêm trọng của tội.
c. Lạm quyền: Vinīta-vatthu bao gồm một trường hợp khác thường trong đó một người giàu có với hai người thừa kế — một người con trai và một người cháu — nói với Tôn giả Ajjuka: "Khi ta ra đi, hãy chỉ chỗ (nơi kho báu của ta được chôn) (§) cho người nào trong số những người thừa kế của ta có lòng tin lớn hơn." Sau khi người đàn ông qua đời, Tôn giả Ajjuka thấy người cháu có lòng tin lớn hơn nên chỉ chỗ kho báu cho người cháu. Người cháu tặng Saṅgha một khoản cúng dường lớn; người con trai buộc tội Tôn giả Ajjuka đã tước đoạt trái phép quyền thừa kế chính đáng của mình. Nghe vậy, Tôn giả Ānanda thoạt tiên buộc tội Tôn giả Ajjuka phạm một tội pārājika, nhưng khi ý nguyện của người đàn ông giàu có được tiết lộ, Tôn giả Upāli thuyết phục Tôn giả Ānanda rằng Tôn giả Ajjuka không phạm tội.
Không văn bản nào thảo luận các chi tiết của trường hợp này, mà dường như xảy ra sau khi Đức Phật parinibbāna. Giả định hiển nhiên nằm dưới phán định này là khi X chết, di sản mà X để lại cho Y thuộc về Y kể từ khoảnh khắc X chết. Bằng không, những vật đang xét sẽ vô chủ cho đến khi được chia ra giữa các người thừa kế, và do đó sẽ không thoả mãn yếu tố đối tượng theo giới này. Ngoài ra, việc lấy trong trường hợp này sẽ được hoàn thành theo định nghĩa chuẩn của Vibhaṅga về lấy đối với các vật liên quan — chứ không nhất thiết là khi người thừa kế bị lừa từ bỏ nỗ lực đòi lại di sản — vì trong trường hợp của Tôn giả Ajjuka, Tôn giả Ānanda đã sẵn sàng áp một tội pārājika mặc dù người con trai chưa từ bỏ đòi hỏi của mình.
d. Phá hoại tài sản: Vibhaṅga nêu rằng nếu một tỳ-kheo đập vỡ, làm vung vãi, đốt cháy, hay bằng cách nào khác làm cho tài sản của người khác không dùng được nữa, thì vị ấy phạm một tội dukkaṭa. Vì vậy, việc phá hoại tài sản đơn thuần không thoả mãn yếu tố nỗ lực theo giới này. Vinīta-vatthu có một trường hợp trong đó một tỳ-kheo có ý định trộm một ít cỏ thuộc về Cộng đồng nhưng rốt cuộc lại châm lửa đốt nó, do đó phạm một tội dukkaṭa. Chú giải lưu ý rằng phán định này chỉ áp dụng vì tỳ-kheo đã không dịch chuyển cỏ khỏi chỗ của nó. Điều này có nghĩa là nếu trước đó vị ấy đã lấy cỏ khỏi chỗ của nó rồi mới phá huỷ nó theo bất kỳ cách nào, thì yếu tố nỗ lực theo giới này hẳn đã được thoả mãn và — với tất cả các yếu tố khác của một tội pārājika hiện diện — vị ấy hẳn đã phạm tội đầy đủ.
Những trường hợp đặc biệt được Chú giải trích dẫn bao gồm những điều sau:
a. Giao dịch gian trá: Một tỳ-kheo làm tiền giả hay dùng quả cân giả. Việc lấy được hoàn thành khi vật giả được chấp nhận. Tuy nhiên, trường hợp này có vẻ thuộc loại Lừa dối (xem bên dưới), ở chỗ vật giả là một hình thức của lời nói dối. Nếu người chủ của một vật chấp nhận vật giả và trao lại một vật đổi lại, thì vật ấy không thể được mô tả là bị trộm. Tuy nhiên, vật thu được qua giao dịch theo cách này sẽ phải bị xả bỏ theo [NP 20], và Cộng đồng, nếu thấy muốn như vậy, có thể áp một tăng-sự kỷ luật lên người phạm tội (xem [BMC2, Chương 20]).
b. Cướp đoạt: Dùng đe doạ, một tỳ-kheo ép người chủ của một vật phải giao nó cho mình. Việc lấy được hoàn thành khi người chủ tuân theo. Điều này sẽ không được tính là "cho" vì người chủ không trao vật ấy một cách tự nguyện.
c. Che giấu: Một tỳ-kheo tìm thấy một vật bị bỏ lại trên mặt đất và, để đánh lừa người chủ, phủ nó bằng đất hay lá với ý định trộm nó về sau. Nếu người chủ, sau khi tìm kiếm vật, tạm thời bỏ cuộc tìm kiếm và tỳ-kheo bấy giờ nhặt nó lên, thì nó bị trộm khi được dời khỏi nền của nó. Nếu người chủ, cho rằng vật đã mất, từ bỏ nó hẳn trước khi tỳ-kheo nhặt nó lên, thì Chú giải nói rằng tỳ-kheo không phạm tội trộm nhưng nợ người chủ một khoản bồi thường. Chúng ta đã thảo luận chủ đề về những vật bị mất ở trên, trong mục Đối tượng, và sẽ thảo luận chủ đề bồi thường bên dưới.
Giá trị của đối tượng
Như đã nêu ở trên, bất kỳ trường hợp trộm cắp nào cũng được tính là một tội, nhưng mức độ nặng nhẹ của tội được xác định bởi giá trị của đối tượng. Đây là ý nghĩa của cụm từ trong giới đọc là, "cũng như khi có việc lấy thứ không được cho, các vua chúa… sẽ đày ải vị ấy, nói rằng… 'Ngươi là kẻ trộm.'" Nói cách khác, để một vụ trộm kéo theo một tội pārājika thì nó phải là một vụ án hình sự, mà vào thời Đức Phật có nghĩa là hàng hoá liên quan trị giá ít nhất năm māsaka, một đơn vị tiền tệ được dùng vào thời đó. Hàng hoá tính gộp lại trị giá hơn một māsaka nhưng dưới năm là căn cứ cho một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya; hàng hoá tính gộp lại trị giá một māsaka hay ít hơn, là căn cứ cho một tội dukkaṭa. Như Chú giải lưu ý, giá trị của các món hàng được xác định theo giá mà chúng có thể bán được vào thời điểm và tại nơi xảy ra vụ trộm. Như đã nêu ở trên, trong trường hợp buôn lậu, Vibhaṅga đo giá trị của vật, nhằm mục đích của giới này, bằng khoản thuế phải nộp cho nó, chứ không phải giá trị của bản thân vật ấy.
Điều này để lại cho chúng ta câu hỏi làm sao một māsaka sẽ quy đổi sang các mức tiền tệ hiện nay. Không ai có thể trả lời câu hỏi này một cách chắc chắn, vì nỗ lực cổ xưa nhất nhằm neo māsaka vào bản vị vàng có niên đại từ V/Phụ-chú giải, vốn đặt một māsaka bằng trọng lượng 4 hạt gạo vàng. Theo tỷ lệ này, việc trộm một vật trị giá bằng 20 hạt gạo (1/24 troy ounce) trọng lượng vàng trở lên sẽ là một tội pārājika.
Một phản bác đối với phương pháp tính toán này là một số món được nhắc trong Vinīta-vatthu như là căn cứ cho một tội pārājika khi bị trộm — ví dụ, một cái gối, một bó đồ giặt, một chiếc bè, một nắm gạo trong thời đói kém — có vẻ trị giá thấp hơn nhiều so với 1/24 troy ounce vàng. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng nhiều món ngày nay được coi là tầm thường thì vào thời ấy có thể đã được xem là những thứ xa xỉ đắt tiền.
Ngoài ra, có một lý do rất chính đáng để chấp nhận tiêu chuẩn do V/Phụ-chú giải đặt ra: Nó đặt một giá trị cao cho món hàng nhỏ nhất mà việc trộm nó sẽ dẫn đến một tội pārājika. Vì vậy, khi một tỳ-kheo trộm một vật trị giá 1/24 troy ounce vàng trở lên, thì không thể nghi ngờ rằng vị ấy đã phạm tội đầy đủ. Khi vật có giá trị thấp hơn, sẽ có sự nghi ngờ không thể tránh khỏi — và khi có bất kỳ nghi ngờ nào liên quan đến một tội pārājika, truyền thống của Vinaya nhất quán dành cho tỳ-kheo sự suy diễn có lợi khi còn nghi ngờ: Vị ấy không bị trục xuất. Một nguyên tắc căn bản vận hành xuyên suốt các văn bản là thà chịu rủi ro để một người phạm tội không bị trừng phạt còn hơn là chịu rủi ro trừng phạt một tỳ-kheo vô tội.
Có một lợi thế thứ hai của phương pháp tính toán của V/Phụ-chú giải: sự chính xác và rõ ràng của nó. Một số người đã khuyến nghị chấp nhận tiêu chuẩn được diễn đạt trong chính giới — rằng nếu vụ trộm sẽ dẫn đến việc bị nhà chức trách đánh đòn, bỏ tù, hay đày ải vào thời ấy và tại nơi ấy, thì vụ trộm sẽ cấu thành một tội pārājika — nhưng tiêu chuẩn này tạo ra nhiều vấn đề hơn là nó giải quyết được. Ở hầu hết các quốc gia, bản án phần lớn tuỳ thuộc vào quyền định đoạt của thẩm phán hay quan toà, và yếu tố giá trị chỉ là một trong nhiều yếu tố được cân nhắc khi định hình phạt. Điều này mở ra cả một cái hộp Pandora đầy vấn đề, nhiều vấn đề trong đó chẳng liên quan gì đến tỳ-kheo hay vật mà vị ấy đã lấy — tâm trạng của thẩm phán, triết lý xã hội của ông ta, xuất thân tôn giáo của ông ta, v.v. — những vấn đề mà Đức Phật không bao giờ cho phép đưa vào việc cân nhắc cách xác định hình phạt cho một vụ trộm.
Vì vậy, phương pháp tính toán của V/Phụ-chú giải có những lợi ích là: nó là một phương pháp nhanh chóng và dễ dàng để xác định ranh giới giữa các mức độ tội khác nhau trong bất kỳ đồng tiền hiện đại nào; nó không liên quan đến yếu tố nào xa lạ với truyền thống của Vinaya; và — như đã lưu ý ở trên — nó vạch ranh giới ở một giá trị mà trên mức đó thì không thể nghi ngờ rằng hình phạt là một tội pārājika.
Chú giải, lập luận từ hai trường hợp trong Vinīta-vatthu, nêu rằng nếu một tỳ-kheo trộm nhiều món vào những dịp khác nhau, thì giá trị của các món khác nhau được cộng lại để xác định mức độ nghiêm trọng của tội chỉ khi chúng bị trộm như một phần của một kế hoạch hay chủ tâm duy nhất. Nếu chúng bị trộm do những chủ tâm riêng biệt, thì mỗi hành vi trộm được xử như một tội riêng biệt mà mức độ nghiêm trọng của nó tuỳ thuộc vào giá trị của (những) món riêng lẻ bị trộm trong hành vi đó. Điểm này được giải thích rõ nhất bằng các ví dụ:
Trong một trong các trường hợp Vinīta-vatthu, một tỳ-kheo trộm bơ lỏng (ghee) từ một cái vò "từng chút một." Theo Chú giải, điều này có nghĩa là trước hết vị ấy quyết định trộm một muỗng bơ lỏng từ cái vò. Sau khi nuốt muỗng ấy, vị ấy quyết định trộm thêm một muỗng nữa. Sau đó vị ấy quyết định trộm một muỗng khác, và cứ thế cho đến khi vị ấy dùng hết cái vò. Vì mỗi muỗng bơ lỏng bị trộm là hệ quả của một kế hoạch hay chủ tâm riêng biệt, nên vị ấy phạm nhiều tội dukkaṭa, mỗi tội cho việc trộm một muỗng bơ lỏng.
Tuy nhiên, nếu vào một thời điểm vị ấy quyết định trộm đủ gỗ để tự dựng cho mình một cái cốc rồi trộm một tấm ván ở chỗ này và một cây xà ở chỗ kia, lấy gỗ trong nhiều ngày tại những nơi khác nhau từ nhiều người chủ khác nhau, thì vị ấy phạm một tội duy nhất tương ứng với tổng giá trị của toàn bộ số gỗ bị trộm, bởi vì vị ấy đã lấy tất cả các mảnh gỗ như là hệ quả của một kế hoạch có trước duy nhất.
Các tội phái sinh
Ngoài các tội nhẹ hơn liên quan đến giá trị của đối tượng, Vibhaṅga cũng liệt kê các tội nhẹ hơn liên quan đến hai yếu tố của tội đầy đủ theo giới này: nỗ lực và nhận thức.
Đối với nỗ lực, Vibhaṅga nêu rằng các tội phái sinh bắt đầu khi người ta bước về phía vật với ý định trộm nó, với mỗi hành vi riêng biệt — và trong trường hợp bước về phía vật, thì mỗi bước chân — phạm một tội dukkaṭa, cho đến một điểm ngay trước khi thực sự trộm, nơi các tội chuyển thành pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya. Điểm này xảy ra ở đâu tuỳ thuộc vào hành vi cấu thành việc lấy thực sự, như sau:
Dịch chuyển vật khỏi chỗ của nó: tất cả các bước cho tới lúc chạm vào vật: các tội dukkaṭa. Khiến vật nhúc nhích mà chưa dời hẳn nó khỏi chỗ của nó: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
"Cắt lấy" một nắm tay: tất cả các bước cho tới lúc chạm vào vật: các tội dukkaṭa. Khiến vật nhúc nhích mà chưa cắt lấy trọn một nắm tay: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Cắm một vật đựng vào một vũng chất lỏng hay một đống đồ vật và khiến một phần vũng hay đống ấy đi vào vật đựng: tất cả các bước cho tới lúc chạm vào vũng hay đống: các tội dukkaṭa. Khiến vũng hay đống nhúc nhích mà chưa tách được trọn phần trị giá năm māsaka ra khỏi vũng hay đống và vào trong vật đựng: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Lấy ra hoàn toàn khỏi miệng của một vật chứa: tất cả các bước cho tới lúc chạm vào vật: các tội dukkaṭa. Nhấc vật lên: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya. Đưa nó lên tới ngang miệng của vật chứa: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya khác.
Uống chất lỏng từ một vật chứa: tất cả các bước cho tới lúc uống được lượng chất lỏng trị giá một māsaka như một phần của một kế hoạch có trước (§): các tội dukkaṭa. Uống lượng chất lỏng trị giá từ một đến năm māsaka: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Di chuyển vật từ phần này sang phần khác trên thân thể mình hay để rơi nó: tất cả các bước cho tới lúc chạm vào vật với ý định di chuyển hay để rơi nó: các tội dukkaṭa. Di chuyển nó nhưng chưa đến mức đặt nó lên một phần khác của thân thể hay để rơi nó: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Khiến một chiếc thuyền di chuyển một sợi tóc về phía thượng lưu, hạ lưu, hay ngang qua một vùng nước: tất cả các bước cho tới lúc tháo dây neo và/hay chạm vào nó: các tội dukkaṭa. Khiến thuyền lắc lư mà chưa khiến nó di chuyển một sợi tóc về phía thượng lưu, hạ lưu, hay ngang qua một vùng nước: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Phá một con đê để nước chảy ra: tất cả các bước cho tới lúc phá con đê và để cho lượng nước trị giá đến một māsaka chảy ra: các tội dukkaṭa. Để cho lượng nước trị giá từ một đến năm māsaka chảy ra: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Khiến một con vật di chuyển tất cả các chân của nó: tất cả các bước cho tới lúc chạm vào con vật: các tội dukkaṭa. Khiến nó di chuyển bất kỳ chân nào trước khi nó di chuyển chân cuối cùng: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya cho mỗi bước.
Chặt xuống: tất cả các bước trước nhát chặt áp chót cần thiết để chặt đứt cây: các tội dukkaṭa. Nhát chặt áp chót: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Khiến người chủ từ bỏ những nỗ lực (§) để giành lại quyền sở hữu những vật đã được trao cho mình để cất giữ an toàn: tất cả các bước cho tới lúc nói với người chủ, "Tôi không nhận (§) nó": các tội dukkaṭa. Gieo nghi ngờ trong tâm người chủ về việc liệu người ấy có lấy lại được vật hay không: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya. Nếu vụ việc ra toà và tỳ-kheo thua kiện, vị ấy phạm thêm một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Khiến người chủ từ bỏ những nỗ lực (§) để giành lại quyền sở hữu đất đai: tất cả các bước cho tới lúc đòi chiếm mảnh đất: các tội dukkaṭa. Gieo nghi ngờ trong tâm người chủ về việc liệu người ấy có mất đất hay không: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya. Một lần nữa, nếu vụ việc ra toà và tỳ-kheo thua kiện, vị ấy phạm thêm một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Dịch chuyển một cột mốc ranh giới: tất cả các bước cho tới lúc lấy cột mốc ranh giới ra khỏi chỗ ban đầu của nó: các tội dukkaṭa. Bất kỳ bước nào giữa lúc đó và lúc đặt cột mốc ranh giới vào một chỗ mới: các tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Đưa một vật phải chịu thuế qua khu vực hải quan mà không nộp thuế: tất cả các bước cho tới lúc chạm vào vật với ý định đưa nó ra khỏi khu vực hải quan: các tội dukkaṭa. Khiến vật di chuyển mà chưa dời hẳn nó ra khỏi khu vực hải quan: một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Các chú giải nêu rằng khi một hình phạt nặng hơn bị phạm trong các tội thuộc loại này, thì chỉ hình phạt đó được tính, và các hình phạt nhẹ hơn đi trước bị vô hiệu. Họ rút ra nguyên tắc này từ một đoạn trong Vibhaṅga đối với [Sg 10-13] và, dùng Đại Tiêu Chuẩn, áp dụng nó cho tất cả các giới. Vì vậy, ví dụ, nếu một tỳ-kheo đang cố trộm một cuốn sách chỉ mới chạm vào nó, thì vị ấy phạm một chuỗi các tội dukkaṭa cho mỗi bước trong việc bước tới cuốn sách và cầm lấy nó. Nếu vị ấy làm cuốn sách nhúc nhích chút ít nhưng chưa đến mức dời hẳn nó khỏi chỗ của nó, thì các tội dukkaṭa bị vô hiệu và được thay bằng một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya. Nếu vị ấy thực sự lấy cuốn sách, thì điều đó vô hiệu tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya và thay nó bằng một tội pārājika.
Tuy nhiên, có đôi chút nghi vấn về việc liệu những người biên soạn Thánh điển có ý định để đoạn văn thuộc [Sg 10-13] được hiểu như một nguyên tắc chung hay không. Họ không nhắc đến nó ở bất kỳ giới saṅghādisesa nào khác hay trong đoạn văn song song tương ứng trong Vibhaṅga đối với [Pc 68]. Vì vậy, nguyên tắc này dường như chỉ nhằm cho bốn giới đó. Để thiên về phía nghiêm ngặt, có vẻ tốt nhất là nói rằng, trừ khi có ghi chú khác, một tỳ-kheo hoàn thành một hành vi phải sám hối tất cả các tội đã phạm trong quá trình dẫn đến hành vi đó. Đối với các giới pārājika thì đây là một điểm không còn ý nghĩa thực tiễn, vì một khi tội pārājika đã phạm thì người phạm không còn là tỳ-kheo nữa. Nhưng đối với các giới nhẹ hơn thì nguyên tắc này vẫn còn liên quan.
Còn về các tội phái sinh liên quan đến yếu tố nhận thức, chúng xử lý tình huống trong đó một món không đủ tiêu chuẩn là "không được cho" theo giới này — ví dụ, nó không có chủ, hoặc người chủ đã từ bỏ nó hay vứt bỏ nó — ấy vậy mà tỳ-kheo lại nhận thức nó là không được cho. Nếu vị ấy lấy nó với ý định trộm, thì vị ấy phạm một tội dukkaṭa cho mỗi giai đoạn trong ba giai đoạn của nỗ lực. Trong trường hợp một vật có thể bị trộm bằng cách dịch chuyển nó khỏi chỗ của nó, thì đó sẽ là: chạm vào vật, khiến nó nhúc nhích, dời nó khỏi chỗ của nó. Một tập hợp tội tương tự sẽ áp dụng trong các giai đoạn thích hợp cho việc lấy bất kỳ loại vật nào khác được liệt kê ở trên.
Các đồng phạm
Một tỳ-kheo có thể phạm tội không chỉ khi chính vị ấy trộm một vật, mà còn khi vị ấy xúi giục người khác trộm. Các tội liên quan đến những hành vi dẫn đến vụ trộm như sau:
Nếu một tỳ-kheo bảo một đồng phạm lấy một vật vốn là căn cứ cho một tội pārājika, thì vị ấy phạm một tội dukkaṭa. Khi đồng phạm đồng ý làm vậy, người xúi giục phạm một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya. Một khi đồng phạm thành công lấy được vật theo lời chỉ dẫn — bất kể vị ấy có thoát trót lọt hay không, và bất kể vị ấy có chia phần cho người xúi giục hay không — người xúi giục phạm một tội pārājika. Nếu đồng phạm là một tỳ-kheo, thì vị ấy cũng phạm một tội pārājika. Nếu vật là căn cứ cho một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya hay một tội dukkaṭa, thì các hình phạt duy nhất phải chịu trước khi thực sự trộm sẽ là các tội dukkaṭa.
Chú giải khăng khăng rằng nếu đồng phạm chắc chắn sẽ lấy món ấy, thì tỳ-kheo phạm một tội pārājika ngay khi đồng phạm đồng ý lấy nó. Tuy nhiên, như Vinaya-mukha lưu ý, điều này mâu thuẫn với Thánh điển, và không có cách nào đo lường liệu một vụ trộm được đề xuất có phải là điều chắc chắn hay không.
Nếu có bất kỳ sự lẫn lộn nào trong việc thực hiện các chỉ dẫn — ví dụ, nếu đồng phạm, thay vì lấy vật do người xúi giục chỉ định, lại lấy một thứ khác; hoặc nếu vị ấy được bảo lấy nó vào buổi chiều nhưng lại lấy nó vào buổi sáng — thì người xúi giục chỉ phạm các hình phạt cho việc đề xuất vụ trộm và thuyết phục đồng phạm, chứ không phạm hình phạt cho chính vụ trộm. Điều tương tự cũng đúng nếu người xúi giục thu hồi mệnh lệnh của mình trước khi vụ trộm diễn ra, nhưng đồng phạm vẫn cứ tiến hành lấy vật.
Theo Vibhaṅga, một người xúi giục muốn huỷ vụ trộm trước khi nó được thực hiện nhưng vì lý do này hay lý do khác không thể truyền lời nhắn của mình đến đồng phạm kịp thời, thì phạm hình phạt đầy đủ cho vụ trộm đã hoàn thành.
Chú giải cũng nói thêm rằng yếu tố nhận thức của kẻ trộm không ảnh hưởng đến các hình phạt. Nói cách khác, nếu Tỳ-kheo A bảo Tỳ-kheo B trộm vật X, mà B lại lấy Y, tưởng nó là X, thì A được miễn mọi trách nhiệm về vụ trộm. Ngược lại, nếu B lấy X, tưởng nó là Y, thì A có tội về vụ trộm.
Vibhaṅga cũng lưu ý rằng nếu một người xúi giục bảo đồng phạm của mình lấy một món khi vị ấy (người xúi giục) ra một dấu hiệu — chẳng hạn nháy (§) mắt, nhướn mày, hay hất đầu — thì vị ấy phạm một tội dukkaṭa khi ra lệnh này, một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya nếu đồng phạm đồng ý làm theo lời, và tội đầy đủ khi đồng phạm thực sự lấy món ấy vào lúc ra dấu hiệu. Tuy nhiên, nếu đồng phạm lấy món ấy trước hay sau dấu hiệu, thì người xúi giục không phạm tội. Phụ-chú giải, khi lưu ý rằng các dấu hiệu được nhắc trong Vibhaṅga thoáng qua đến mức không thể nào lấy được món ấy đúng vào khoảnh khắc ra dấu hiệu, giải thích câu cuối này như sau: Nếu đồng phạm bắt đầu cố lấy món ấy ngay sau dấu hiệu, thì bất kể việc đó mất bao nhiêu thời gian, nó vẫn được tính là "vào lúc ra dấu hiệu." Chỉ khi vị ấy chần chừ một khoảng đáng kể trước khi mưu toan trộm thì mới được tính là "sau dấu hiệu."
Chúng ta có thể ngoại suy từ phần thảo luận này và nói rằng bất kỳ cử chỉ thân thể nào mà, xét theo bối cảnh của các sự việc, được chủ ý và được hiểu như một mệnh lệnh lấy một món, thì sẽ được tính vào yếu tố nỗ lực ở đây. Sự ngoại suy này sẽ hữu ích khi xử lý việc sử dụng trái phép thẻ tín dụng, bên dưới.
Vibhaṅga nêu rằng nếu có một chuỗi mệnh lệnh liên quan đến hai hay nhiều tỳ-kheo (không tính người xúi giục) — ví dụ, Tỳ-kheo A bảo Tỳ-kheo B bảo Tỳ-kheo C bảo Tỳ-kheo D thực hiện vụ trộm — thì khi D đồng ý thực hiện vụ trộm, người xúi giục phạm một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya. Một khi D lấy vật theo lời chỉ dẫn, cả bốn đều phạm hình phạt phát sinh từ vụ trộm. Nếu có bất kỳ sự lẫn lộn nào trong chuỗi mệnh lệnh — ví dụ, Tỳ-kheo B thay vì bảo C lại bảo thẳng D — thì cả A lẫn C đều không phạm hình phạt cho chính vụ trộm. Tỳ-kheo A sẽ phạm một tội dukkaṭa vì đã bảo B, còn C thì không phạm hình phạt nào cả.
Chú giải lưu ý rằng người xúi giục trong bất kỳ trường hợp nào trong số này chỉ phạm hình phạt nếu vị ấy đưa ra một mệnh lệnh rõ ràng để lấy món ấy (mặc dù câu này phải được giới hạn lại để bao gồm cả các dấu hiệu mang ý nghĩa mệnh lệnh, như đã nói ở trên). Nếu vị ấy chỉ đơn giản nói với đồng phạm rằng món như-vậy-như-vậy nằm ở nơi như-vậy-như-vậy và sẽ dễ trộm, thì vị ấy không phạm tội ngay cả khi đồng phạm thực sự thực hiện vụ trộm. Điểm này áp dụng cho nhiều giới trong đó việc ra lệnh làm một hành động phạm giới cũng thoả mãn yếu tố nỗ lực: Một lời nói được tính là một mệnh lệnh chỉ khi nó là một mệnh lệnh thức rõ ràng bảo làm hành động đó. Đối với vài giới mà điều này không đúng, chúng ta sẽ ghi chú ngoại lệ.
Không văn bản nào nhắc đến tình huống trong đó Tỳ-kheo A bảo một đồng phạm trộm một món kéo theo một tội pārājika nhưng rồi hoàn tục trước khi đồng phạm lấy món ấy theo yêu cầu. Nếu đồng phạm thực sự lấy món ấy đúng theo yêu cầu, thì các yếu tố cho tội đầy đủ sẽ được thoả mãn. Điều đó có nghĩa là A không thể thọ giới lại trong đời này.
Một tình huống khác không được nhắc trong các văn bản là tình huống trong đó Tỳ-kheo A bảo Tỳ-kheo B lấy giúp mình một món mà không cho B biết rằng mình đang phạm một vụ trộm — chẳng hạn, nói với B rằng món ấy thuộc về mình (A), rằng nó vô chủ, hoặc để B tự đi đến một trong hai kết luận đó. Dù vậy, có vẻ như nếu B sau đó thực sự lấy món ấy theo lời bảo, thì tất cả các yếu tố cho một tội sẽ được thoả mãn đối với A: Vị ấy đưa ra mệnh lệnh lấy (mệnh lệnh thức mà Vibhaṅga dùng khi minh hoạ các lệnh "trộm" — avahara — cũng có thể chỉ đơn giản nghĩa là "lấy"), vị ấy biết rằng món ấy thuộc về người khác, vị ấy có ý định để nó bị lấy, và nó bị lấy như là kết quả của mệnh lệnh của vị ấy. Còn về B, vị ấy sẽ không phạm tội, vì trạng thái tâm của vị ấy không thoả mãn các yếu tố nhận thức và chủ tâm cho một vụ trộm.
Những trường hợp thuộc loại này sẽ không thuộc mục Lừa dối, được thảo luận bên dưới, vì loại đó chỉ bao gồm những trường hợp mà người ta lừa người chủ của món ấy, hay người đại diện của người chủ, để họ trao món ấy, và do đó về mặt kỹ thuật món ấy được tính là đã cho. Ở đây món ấy không được cho, vì người bị lừa để lấy nó hoàn toàn không có trách nhiệm gì đối với nó.
Cũng như với sự ngoại suy từ phần thảo luận về các dấu hiệu, việc áp dụng Đại Tiêu Chuẩn này cũng sẽ hữu ích khi chúng ta thảo luận việc sử dụng trái phép thẻ tín dụng, bên dưới. Nó cũng sẽ tỏ ra hữu ích trong phần thảo luận của chúng ta về giới kế tiếp.
Trách nhiệm chung
Nếu các tỳ-kheo đi thành một nhóm để thực hiện một vụ trộm nhưng chỉ một người trong họ thực sự làm việc lấy, thì tất cả vẫn phạm hình phạt phát sinh từ vụ trộm. Tương tự, nếu họ trộm những vật quý tính gộp lại trị giá hơn năm māsaka nhưng khi chia ra giữa họ thì mỗi phần trị giá dưới năm māsaka, thì tất cả đều phạm một tội pārājika. Theo Chú giải, bất kỳ tỳ-kheo nào trợ giúp một tỳ-kheo trong một vụ kiện gian trá cũng phạm cùng tội mà vị kia phạm: một tội pārājika nếu vị kia thắng, một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya nếu vị kia thua. Tuy nhiên, phán định này phải được giới hạn lại bằng cách lưu ý rằng người trợ giúp chỉ phạm các hình phạt này nếu vị ấy nhận thức được rằng vụ kiện là gian trá.
Các trường hợp đặc biệt
Như đã nói ở trên, khái niệm trộm cắp bao trùm một dải rộng các hành động. Để phác định dải này, các văn bản thảo luận nhiều hành động giáp ranh với trộm cắp, một số thuộc giới này, một số thì không.
Tài sản của Saṅgha. Theo Chú giải về [NP 30], một món thuộc về Saṅgha khi các thí chủ, với ý định để nó là tài sản của Saṅgha, dâng nó cho một hay nhiều tỳ-kheo đại diện cho Saṅgha, và các tỳ-kheo ấy thọ nhận nó, mặc dù không nhất thiết là vào tận tay họ. Tài sản của Saṅgha do đó được tính là "thứ không được cho" đối với các tỳ-kheo cá nhân, vì nó có một người chủ — Saṅgha của mọi thời và mọi nơi — và được canh giữ bởi Cộng đồng tỳ-kheo cụ thể tại đó.
Thánh điển chia tài sản của Saṅgha thành hai loại: nhẹ/rẻ tiền (lahu-bhaṇḍa) và nặng/đắt tiền (garu-bhaṇḍa). Tài sản nhẹ bao gồm những thứ như y, bát, thuốc men, và thực phẩm; tài sản nặng gồm những thứ như đất tu viện, các toà nhà, và đồ đạc bày biện (xem [BMC2, Chương 7]). Đức Phật cho phép các Cộng đồng cụ thể chỉ định những vị chức sự chịu trách nhiệm về việc sử dụng đúng đắn tài sản của Saṅgha. Các vị chức sự chịu trách nhiệm về tài sản nhẹ có nhiệm vụ phân phối nó giữa các thành viên của Cộng đồng, theo những thủ tục đã định để bảo đảm việc phân phối được công bằng (xem [BMC2, Chương 18]). Một khi một thành viên đã nhận được tài sản như thế, vị ấy có thể xem nó là của mình và dùng nó theo ý mình thấy phù hợp.
Tuy nhiên, trong trường hợp tài sản nặng, các vị chức sự có trách nhiệm trông coi để nó được cấp phát cho việc sử dụng đúng đắn trong Cộng đồng, nhưng các tỳ-kheo cá nhân được phép dùng nó thì không được xem nó là tài sản riêng của mình. Đây là một điểm quan trọng. Nhiều lắm thì những món như thế có thể được lấy theo dạng mượn, hoặc được trao đổi — với sự chấp thuận của Cộng đồng — lấy tài sản nặng khác có giá trị ngang bằng. Một tỳ-kheo đem cho ai đó những món như thế — dù người thọ giới hay không — mà xem nó là của mình để cho, thì phạm một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya bất kể giá trị của vật là bao nhiêu ([Cv.VI.15.2] — xem [BMC2, Chương 7]). Dĩ nhiên, nếu vị ấy biết rằng nó không phải của mình để cho hay để lấy, thì trong việc chiếm nó làm của riêng, vị ấy phạm hình phạt trộm cắp.
Đức Phật phê phán gay gắt bất kỳ tỳ-kheo nào đem cho đi tài sản nặng của Saṅgha. Trong câu chuyện duyên khởi của Pr 4, Ngài dẫn trường hợp một tỳ-kheo, vì mong được lòng một người tại gia, đem cho người ấy một phần tài sản nặng của Saṅgha. Một tỳ-kheo như thế, Ngài nói, là một trong năm tên đại đạo tặc của thế gian.
Tuy nhiên, Vinīta-vatthu bao gồm một trường hợp trong đó các tỳ-kheo đến thăm một tu viện thu xếp để một người tại gia hái và cho họ một ít trái cây mọc trong tu viện. Đức Phật, khi phán xử trường hợp này, nêu rằng họ không phạm tội vì họ lấy trái cây chỉ để tự mình dùng. Điều này hàm ý rằng nếu họ lấy trái cây vì những mục đích khác — chẳng hạn để đem bán — thì họ sẽ phạm tội. Chú giải nói thêm rằng các tỳ-kheo khách chỉ có quyền này nếu các tỳ-kheo thường trú không chăm sóc các cây ăn trái, nếu các cây ấy không được cúng dường để cung cấp ngân quỹ cho một mục đích cụ thể trong tu viện, hoặc nếu các tỳ-kheo thường trú ăn trái từ các cây ấy như thể chỉ riêng họ là chủ và không sẵn lòng chia sẻ. Nói cách khác, các tỳ-kheo khách, vì phép lịch sự, nên hỏi các vị thường trú trước. Nếu các vị thường trú chia sẻ, thì người ta có thể lấy những gì họ dâng cho. Nếu họ không chia, và các cây không được dành cho một mục đích khác, thì người ta có thể lấy vừa đủ để tự mình dùng. Chú giải cũng nói thêm rằng nếu tu viện bỏ trống, thì người ta cứ việc lấy trái cây, vì nó vốn dành cho tất cả các tỳ-kheo đến.
Vinīta-vatthu cũng lưu ý rằng một tỳ-kheo lấy tài sản nặng của Saṅgha được cúng dường để dùng trong một tu viện cụ thể mà đem dùng ở nơi khác thì phạm một tội dukkaṭa. Nếu vị ấy lấy nó theo dạng mượn, thì vị ấy không phạm tội.
Lừa dối. Nếu một tỳ-kheo dùng một lời nói dối có chủ ý để lừa người khác trao một món cho mình, thì sự vi phạm được xử không phải như một trường hợp trộm cắp — vì rốt cuộc món ấy được cho vị ấy — mà đúng hơn là một trường hợp nói dối. Nếu lời nói dối liên quan đến việc tuyên bố sai về những chứng đắc thiền định thượng nhân, thì nó được xử theo Pr 4. Nếu không, thì nó được xử theo [Pc 1]. Vinīta-vatthu đưa ra bảy ví dụ: năm trường hợp trong đó, trong một cuộc phân phối vật dụng trong Cộng đồng, một tỳ-kheo xin và được cho một phần dôi ra cho một tỳ-kheo không có thật; và hai trường hợp trong đó một tỳ-kheo-ni đến gặp người hộ trợ tại gia của thầy mình và xin thuốc men, nói rằng chúng sẽ dành cho thầy của cô, mặc dù thực ra cô rốt cuộc lại tự mình dùng chúng. Trong tất cả các trường hợp này, hình phạt là một tội pācittiya vì nói dối theo [Pc 1].
Chú giải, trong phần thảo luận về việc các tỳ-kheo lấy một phần dôi ra cho một tỳ-kheo không có thật, khăng khăng rằng hình phạt cho việc nói dối chỉ áp dụng cho những trường hợp mà các thí chủ đã cúng dường vật dụng cho Cộng đồng rồi. Nếu, trước khi họ cúng dường vật dụng cho Cộng đồng, một tỳ-kheo xin thẳng họ một phần cho một tỳ-kheo không có thật, thì Chú giải nói rằng vị ấy đã phạm một tội trộm cắp theo giới này. Tuy nhiên, điều này mâu thuẫn với phán định trong hai trường hợp liên quan đến vị tỳ-kheo-ni, người xin thẳng từ thí chủ. Vì vậy, có vẻ như trong bất kỳ trường hợp nào mà một tỳ-kheo có được một món từ một thí chủ qua sự lừa dối, thì hình phạt sẽ là tội pācittiya vì nói dối.
Nảy sinh câu hỏi, thế còn một tỳ-kheo được trao một món để đem đến cho người khác, ban đầu định đem nó đến cho người nhận đã định nhưng về sau đổi ý thì sao? Có vẻ không đúng khi áp một hình phạt nặng hơn lên vị ấy so với một người ngay từ đầu dùng lừa dối để có được món ấy, nên có vẻ tốt nhất là áp lên vị ấy tội dukkaṭa vì thất hứa ([Mv.III.14.1-14] — xem phần thảo luận ở [Pc 1]). Về các nguyên tắc xoay quanh quyền của người đưa tin lấy một món theo sự tin tưởng nơi thí chủ hay nơi người nhận, xem phần thảo luận về sự tin tưởng trong các điều khoản không phạm tội.
Nhận hàng ăn trộm. Việc nhận một tặng phẩm là hàng hoá hay mua chúng với giá rất rẻ, dù biết rằng chúng là hàng ăn trộm, thì trong luật hình sự phương Tây sẽ dẫn đến một hình phạt tương tự như chính việc trộm cắp. Tuy nhiên, cả Thánh điển lẫn các chú giải đều không nhắc đến trường hợp này. Điều gần nhất mà chúng đề cập là trong Vinīta-vatthu, nơi một người coi vườn cho các tỳ-kheo trái cây từ vườn cây mà ông ta trông coi, mặc dù nó không phải của ông ta để cho, và các tỳ-kheo không phạm tội. Từ đó có thể suy ra rằng không có tội đối với việc nhận hàng ăn trộm, ngay cả khi biết rõ, mặc dù một tỳ-kheo làm vậy sẽ không được miễn trừ khỏi luật dân sự và các thủ tục tố tụng kèm theo, mà trong quá trình đó Cộng đồng hẳn sẽ thúc giục vị ấy hoàn tục.
Bồi thường phải trả. Chú giải giới thiệu khái niệm bhaṇḍadeyya, hay khoản bồi thường phải trả, để bao quát những trường hợp mà một tỳ-kheo chịu trách nhiệm về việc mất mát hay phá huỷ tài sản của người khác. Chú giải định nghĩa khái niệm này bằng cách nói rằng tỳ-kheo phải trả giá của vật cho người chủ hoặc đưa cho người chủ một vật khác có giá trị ngang bằng với vật đã mất hay bị phá huỷ; nếu tỳ-kheo không đưa bồi thường, và người chủ từ bỏ những nỗ lực nhận bồi thường của mình, thì tỳ-kheo phạm một tội pārājika. Chú giải áp dụng khái niệm này không chỉ cho những trường hợp mà tỳ-kheo cố ý và có chủ ý phá huỷ vật, mà còn cho những trường hợp mà vị ấy mượn hay nhận trông coi một thứ gì đó rồi thứ ấy bị mất, bị trộm, hay bị phá huỷ do sự lơ đễnh của vị ấy; hoặc khi vị ấy lấy một món vì nhầm tưởng rằng nó đã bị vứt bỏ hay rằng mình ở vị thế có thể lấy nó theo sự tin tưởng.
Nêu vài ví dụ: Một tỳ-kheo đập vỡ vò dầu của người khác hay bỏ phân vào dầu để làm hỏng nó. Một tỳ-kheo được giao canh giữ kho của Cộng đồng cho một nhóm tỳ-kheo khác vào kho để lấy đồ đạc họ đã để lại ở đó; họ quên đóng cửa và, trước khi vị ấy nhớ ra để kiểm tra, những kẻ trộm lẻn vào lấy đồ. Một nhóm trộm cướp một bó xoài nhưng, bị các chủ đuổi theo, bèn buông nó xuống và chạy; một tỳ-kheo thấy những trái xoài, nghĩ rằng chúng đã bị vứt bỏ, nên ăn chúng sau khi nhờ ai đó dâng chúng cho mình. Một tỳ-kheo thấy một con heo rừng mắc bẫy và, vì lòng bi mẫn, thả nó ra nhưng không thể làm cho chủ của cái bẫy nguôi lòng về điều mình đã làm. Trong mỗi trường hợp này, Chú giải nói, vị tỳ-kheo đang xét nợ khoản bồi thường cho chủ của hàng hoá. (Trong trường hợp những trái xoài, vị ấy phải bồi thường không chỉ cho các chủ mà còn cho những tên trộm nếu hoá ra chúng đã dự định quay lại lấy trái cây.) Nếu vị ấy bỏ mặc trách nhiệm của mình đối với (những) người chủ, thì vị ấy phạm một tội pārājika.
Khi đưa ra những phán định này, Chú giải có lẽ đang theo luật dân sự của thời nó, vì Thánh điển hoàn toàn không có tham chiếu nào đến khái niệm bhaṇḍadeyya, và một số phán định của nó mâu thuẫn với phán định của Chú giải. Như chúng ta đã lưu ý ở trên, Vibhaṅga nêu rằng nếu một tỳ-kheo đập vỡ, làm vung vãi, đốt cháy, hay bằng cách nào khác làm cho tài sản của người khác không dùng được nữa, thì vị ấy phạm một tội dukkaṭa. Khi Vinīta-vatthu thảo luận những trường hợp mà một tỳ-kheo lấy một món dựa trên những giả định sai lầm, hay khi vị ấy cảm thấy bi mẫn với một con vật mắc bẫy nên thả nó ra, nó nói rằng không có tội. Vì vậy có vẻ lạ khi Chú giải gán một tội pārājika cho một hành động mà, theo Thánh điển, mang một tội dukkaṭa hay không tội gì cả. Dĩ nhiên, sẽ là một cách hành xử rộng lượng nếu đề nghị người chủ một khoản bồi thường hợp lý, nhưng hoàn toàn không chắc rằng một tỳ-kheo sẽ có phương tiện hay sự tự do để làm vậy. Vì Thánh điển không cho phép một tỳ-kheo xin những người hộ trợ của mình những khoản cúng dường để trả cho một người tại gia khác — trừ cha mẹ của vị ấy ([Mv.VIII.22]; xem [BMC2, Chương 10]) — nên không có cách nào một tỳ-kheo có thể quyên đủ số tiền cần thiết. Thánh điển chỉ đặt một trách nhiệm duy nhất lên một tỳ-kheo gây thiệt hại vật chất cho một người tại gia: Cộng đồng, nếu thấy phù hợp, có thể buộc vị ấy xin lỗi người chủ ([Cv.I.20]; xem [BMC2, Chương 20]). Ngoài điều đó ra, Thánh điển không đòi hỏi vị ấy phải bồi thường vật chất dưới bất kỳ hình thức nào. Vì vậy, do khái niệm bhaṇḍadeyya của Chú giải rõ ràng xa lạ với Thánh điển, nên dường như không có lý do gì để chấp nhận nó.
Thực thi các giới. Có một lĩnh vực quan trọng mà ngay cả Chú giải cũng không đòi hỏi bồi thường, đó là khi một tỳ-kheo thấy một tỳ-kheo khác đang dùng một vật không thích hợp và thu xếp để nó bị phá bỏ. Ở đây Chú giải rút lập luận của mình từ câu chuyện duyên khởi của giới này, trong đó Đức Phật ra lệnh cho các tỳ-kheo phá bỏ một cái cốc được làm không thích hợp — một "cái cốc của thợ gốm," được làm từ đất rồi nung như một cái nồi. Từ ví dụ này, Chú giải rút ra phán định sau: Nếu một tỳ-kheo bắt đầu xây một cái cốc không thích hợp trong một địa hạt nào đó, thì các "chủ" của địa hạt ấy (tức là các tỳ-kheo trưởng lão thường trú) nên bảo vị ấy dừng lại. Nếu vị ấy không nghe theo quyết định của họ mà thực sự xây cái cốc ở đó, thì khi họ có thể tập hợp đủ số tỳ-kheo chân chính, các tỳ-kheo trưởng lão thường trú có thể gửi cho vị ấy một mệnh lệnh dỡ bỏ nó. Nếu, sau khi mệnh lệnh đã được gửi ba lần, cái cốc vẫn chưa bị dỡ bỏ, thì các tỳ-kheo phải tháo dỡ nó theo cách sao cho các vật liệu có thể được dùng lại. Người xây dựng ban đầu sau đó được bảo hãy dọn các vật liệu đi. Nếu vị ấy không dọn, thì các tỳ-kheo thường trú không chịu trách nhiệm về bất kỳ mất mát hay hư hại nào mà họ có thể phải chịu.
Chú giải sau đó rút ra một nguyên tắc xa hơn từ ví dụ này để nói rằng nếu Tỳ-kheo X, người thông thạo Vinaya, thấy Tỳ-kheo Y đang dùng những vật dụng không thích hợp thuộc bất kỳ loại nào, thì vị ấy có quyền cho phá bỏ chúng hoặc rút chúng về một hình thức thích hợp. Vị ấy cũng không có nghĩa vụ bồi thường cho Y về bất kỳ mất mát hay bất tiện nào phải chịu.
Kiện tụng ra toà. Như đã nêu ở trên, nếu một tỳ-kheo cố tình khởi một vụ kiện bất công chống lại người khác rồi thắng nó ở toà chung thẩm mà bị cáo kháng cáo lên, thì vị ấy phạm một tội pārājika. Tuy nhiên, Chú giải về [Sg 1] của các tỳ-kheo-ni nêu rằng ngay cả khi một tỳ-kheo thực sự bị ai đó đối xử tệ — bị phỉ báng, bị thương tổn thân thể, bị cướp, v.v. — rồi cố khởi một vụ kiện chính đáng chống lại bên có lỗi, thì vị ấy phạm một tội pārājika nếu thắng. Một lần nữa, đây là một trường hợp mà Chú giải không có sự hậu thuẫn từ Thánh điển và, như Vinaya-mukha chỉ ra, khẳng định của nó không thể đứng vững. Tuy nhiên, sự tu học của một tỳ-kheo đòi hỏi vị ấy nhìn mọi mất mát dưới ánh sáng của kamma (nghiệp) và tập trung vào việc chăm sóc trạng thái tâm của mình hơn là tìm kiếm sự bồi thường về mặt xã hội hay vật chất.
Không có nghi vấn nào trong bất kỳ văn bản nào rằng nếu một tỳ-kheo được yêu cầu đưa ra chứng cứ trong một phòng xử án và làm vậy, nói đúng theo sự thật, thì vị ấy không phạm tội bất kể kết cục ra sao đối với những người khác có liên quan. Tuy nhiên, [Pc 9] sẽ đòi hỏi rằng trước hết vị ấy phải được Cộng đồng cho phép làm vậy nếu lời chứng của vị ấy liên quan đến việc trình báo hành vi sai trái của người khác. Xem giới đó để biết thêm chi tiết.
Các trường hợp hiện đại
Thế giới hiện đại chứa nhiều hình thức sở hữu và trao đổi tiền tệ vốn không tồn tại vào thời Đức Phật, và do đó cũng chứa nhiều hình thức trộm cắp vốn không tồn tại vào thời ấy. Sau đây là một số ít trường hợp chợt nghĩ đến như những ví dụ về các cách mà những tiêu chuẩn của giới này có thể được áp dụng vào các tình huống hiện đại.
Vi phạm bản quyền. Các tiêu chuẩn quốc tế về bản quyền do UNESCO cổ xuý nêu rằng vi phạm bản quyền chẳng khác nào trộm cắp. Tuy nhiên, trên thực tế, một lời cáo buộc vi phạm bản quyền được xét không phải như một vụ trộm cắp mà như một vụ "sử dụng hợp lý" (fair use), vấn đề ở đây là mức độ mà một người đang sở hữu một món có thể sao chép món ấy một cách hợp lý cho việc sử dụng riêng của mình, hoặc để cho hay bán cho một người khác, mà không phải bồi thường cho chủ bản quyền. Vì vậy, ngay cả một vụ "sử dụng không hợp lý" cũng sẽ không thoả mãn các yếu tố nỗ lực và đối tượng theo giới này, ở chỗ — khi tạo ra một bản sao — người ta không chiếm hữu một món không thuộc về mình, và người ta không tước đoạt khỏi các chủ một thứ vốn đã là của họ. Nhiều lắm thì các chủ bản quyền có thể tuyên bố rằng họ đang bị tước đoạt khoản bồi thường mà họ đáng được, nhưng như chúng ta đã lập luận ở trên, nguyên tắc bồi thường phải trả không thực sự thuộc giới này. Theo thuật ngữ của Thánh điển, một vụ sử dụng không hợp lý sẽ thuộc một trong hai loại — hành động gây thiệt hại vật chất cho các chủ bản quyền, hoặc tà mạng — những loại kéo theo một tội dukkaṭa theo giới chung chống lại hành vi sai trái ([Cv.V.36]). Chúng cũng sẽ khiến người ta đủ điều kiện để bị một tăng-sự kỷ luật, chẳng hạn hoà giải hay trục xuất (xem [BMC2, Chương 20]), mà Cộng đồng có thể áp đặt nếu thấy sự vi phạm đủ nghiêm trọng để đáng chịu một hình phạt như thế.
Sao chép phần mềm máy tính. Thoả thuận được lập khi cài đặt phần mềm trên một máy tính, theo đó người ta đồng ý không đưa phần mềm cho bất kỳ ai khác, thuộc luật hợp đồng. Như thế, một sự vi phạm hợp đồng đó sẽ được xử theo loại "lừa dối" đã mô tả ở trên, nghĩa là một tỳ-kheo đưa phần mềm cho một người bạn bất chấp hợp đồng này sẽ phạm hình phạt vì thất hứa. Còn về người bạn — giả sử vị ấy là một tỳ-kheo — hành vi nhận phần mềm và đưa nó vào máy tính của mình sẽ được xử theo tiền lệ, đã nhắc ở trên, về việc các tỳ-kheo nhận trái cây từ một người coi vườn không được phép cho nó đi: Vị ấy sẽ không phạm tội. Tuy nhiên, vì vị ấy phải đồng ý với hợp đồng trước khi cài đặt phần mềm vào máy tính của mình, nên vị ấy sẽ phạm một hình phạt vì thất hứa nếu sau đó vị ấy đưa phần mềm cho một người khác bất chấp hợp đồng.
Thẻ tín dụng. Việc trộm một thẻ tín dụng dĩ nhiên sẽ là một tội. Vì chủ của thẻ, trong hầu hết các trường hợp, sẽ không bị buộc phải trả cho chiếc thẻ bị trộm, nên mức độ nghiêm trọng của một vụ trộm loại này sẽ được xác định bởi cách kẻ trộm dùng chiếc thẻ. [NP 20] sẽ cấm một tỳ-kheo dùng một thẻ tín dụng để mua bất cứ thứ gì ngay cả khi chiếc thẻ là của chính mình để dùng, mặc dù một tỳ-kheo đã đi xa đến mức trộm một chiếc thẻ thì hẳn sẽ không bị giới đó ngăn cản khỏi việc dùng nó hay nhờ người khác dùng nó giúp mình. Dù thế nào đi nữa, việc dùng chiếc thẻ cũng tương đương với việc dùng một chiếc chìa khoá ăn trộm để mở một két sắt. Nếu kẻ trộm trao chiếc thẻ tín dụng cho một nhân viên cửa hàng để mua hàng, thì điều đó được tính là một cử chỉ bảo người nhân viên chuyển tiền từ tài khoản của công ty thẻ tín dụng. Vì những thao tác như thế được tự động hoá, nên nỗ lực của người nhân viên nhằm chuyển tiền sẽ được tính không phải như một hành vi lừa dối mà như một hành vi lấy. Nếu các máy của công ty thẻ tín dụng cho phép giao dịch, thì vụ trộm xảy ra ngay khi tiền được chuyển từ tài khoản này sang tài khoản khác. Mức độ nghiêm trọng của vụ trộm sẽ được tính theo nguyên tắc "kế hoạch có trước" đã nhắc ở trên.
Trong một tình huống mà số tiền, nếu được chuyển, sẽ kéo theo một tội pārājika, thì nếu các máy không cho phép giao dịch, tỳ-kheo đang cố dùng chiếc thẻ sẽ phạm một tội pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya vì đã khiến người nhân viên mưu toan chuyển tiền. Nếu người nhân viên, vì nghi ngờ quyền dùng thẻ của tỳ-kheo, từ chối mưu toan chuyển tiền, thì tỳ-kheo sẽ phạm một tội dukkaṭa khi làm cử chỉ ra lệnh.
Những cân nhắc tương tự sẽ áp dụng cho việc sử dụng trái phép thẻ ghi nợ, thẻ ATM, thẻ điện thoại, số nhận dạng cá nhân, hay bất kỳ phương tiện nào khác mà qua đó tiền được chuyển khỏi tài khoản của người chủ bằng phương tiện tự động.
Một tấm séc giả rút từ một ngân hàng nơi việc quét và phê duyệt séc được tự động hoá hoàn toàn sẽ thuộc loại này. Nếu rút từ một ngân hàng nơi một nhân viên chịu trách nhiệm phê duyệt tấm séc, thì toàn bộ trường hợp sẽ thuộc mục giao dịch gian trá, đã thảo luận ở trên.
Việc sử dụng điện thoại hay Internet trái phép sẽ chỉ được tính là trộm cắp nếu các khoản phí được tự động chuyển khỏi tài khoản của người chủ. Nếu người chủ chỉ đơn giản bị lập hoá đơn tính các khoản phí, thì người ấy có thể từ chối trả, và như vậy sẽ không có vụ trộm nào xảy ra. Điều này sẽ được tính không phải như một vụ trộm, mà như một lời hứa được đưa ra với ác ý, và sẽ kéo theo một tội pācittiya. Tuy nhiên, nếu trường hợp có vẻ đủ nghiêm trọng, và tội pācittiya là một hình phạt quá nhẹ, thì Cộng đồng có thể áp một tăng-sự kỷ luật lên người phạm tội.
Những vật bị tạm giữ — chẳng hạn một chiếc ô tô đã sửa xong được giữ trong tiệm của một thợ máy — có vẻ sẽ được xử theo cách tương tự như hàng buôn lậu.
Không phạm tội
Ngoài các miễn trừ toàn diện đã nhắc ở giới trước, các điều khoản không phạm tội của Vibhaṅga ở đây liệt kê sáu trường hợp miễn trừ đối với giới này. Hai liên quan đến tình trạng của đối tượng, hai liên quan đến yếu tố nhận thức, và hai liên quan đến yếu tố chủ tâm.
Đối tượng
Không có tội nếu một tỳ-kheo lấy một vật thuộc về (1) một peta (ngạ quỷ) (§) hay (2) một con vật (§). Vì vậy, không có tội trong việc lấy phần còn lại của con mồi mà một con sư tử đã giết, bất kể con sư tử có thể cảm thấy nó là của mình đến mức nào, mặc dù Chú giải khôn ngoan khuyên nên đợi cho đến khi con sư tử đã ăn đủ con mồi của nó để không còn đói nữa, vì bằng không tỳ-kheo có thể tự mình trở thành con mồi của sư tử.
Thuật ngữ peta, như được dùng trong Thánh điển, bao gồm không chỉ các ngạ quỷ, mà còn cả các thi thể người. Vào những ngày đầu của tôn giáo, các tỳ-kheo được kỳ vọng làm y của mình từ vải bị vứt bỏ, một nguồn là những mảnh vải dùng để quấn các thi thể đặt ở các bãi tha ma. (Các tỳ-kheo sẽ giặt và luộc vải trước khi tự mình dùng nó.) Tuy nhiên, họ không được lấy vải từ những thi thể chưa phân huỷ, và đây là lý do vì sao:
"Bấy giờ, một tỳ-kheo nọ đi đến bãi tha ma và cầm lấy một mảnh vải bị vứt bỏ trên một thi thể chưa phân huỷ. Nhưng linh hồn của người chết (vẫn) còn trú trong thi thể ấy. Rồi nó nói với tỳ-kheo, 'Thưa ngài, đừng cầm lấy chiếc áo choàng của tôi.' Tỳ-kheo, chẳng đếm xỉa đến nó, bỏ đi (với chiếc áo choàng). Rồi thi thể, đứng dậy, đi theo ngay sát sau tỳ-kheo. Rồi tỳ-kheo, vào chỗ ở của mình, đóng cửa lại. Rồi thi thể ngã xuống ngay tại đó."
Câu chuyện không cho thêm chi tiết nào, và chúng ta được để tự mình hình dung cả trạng thái tâm của tỳ-kheo trong khi bị thi thể đuổi theo lẫn phản ứng của các bạn đồng tu của vị ấy trước sự việc. Như thường thấy với các câu chuyện trong Vibhaṅga, sự việc càng khác thường thì cách kể càng thản nhiên, và cái hài hước của nó càng nằm ở lối nói giảm nhẹ.
Dù sao đi nữa, do sự việc này, Đức Phật chế định một tội dukkaṭa cho việc lấy vải từ một thi thể chưa phân huỷ — mà, theo Chú giải, nghĩa là một thi thể vẫn còn ấm.
Chú giải cũng xếp chư thiên (deva) vào loại peta ở đây và nêu rằng một tỳ-kheo có thể lấy đồ đạc của một deva mà không phạm hình phạt. Chú giải minh hoạ điểm này bằng hai ví dụ. Trong ví dụ thứ nhất, một tỳ-kheo lấy một mảnh vải được để treo trên một cái cây như một vật cúng dường cho một deva. Trong ví dụ thứ hai, một tỳ-kheo có năng lực thiên nhãn có được một linh ảnh về Sakka, vua của chư thiên, đang mặc một tấm vải đắt tiền. Tỳ-kheo lấy tấm vải với ý định làm một chiếc y cho mình, mặc dù Sakka cứ la lên, "Đừng lấy nó! Đừng lấy nó!" Ví dụ sau này có lẽ đã được đưa vào Chú giải chỉ vì giá trị gây sốc của nó nhằm đánh thức những học trò buồn ngủ ở cuối phòng. Ngay cả khi Chú giải đúng khi nói rằng vị tỳ-kheo đang xét không phạm tội, thì cũng không thể phủ nhận rằng vị ấy là một kẻ ngu.
Nhận thức
Không có tội nếu một tỳ-kheo lấy một vật mà nhận thức nó (1) là của mình hay (2) đã bị vứt bỏ (§). Chú giải nêu rằng nếu tỳ-kheo phát hiện ra rằng vật quả thật có một người chủ, thì vị ấy nợ người chủ khoản bồi thường và sẽ phạm tội khi người chủ từ bỏ những nỗ lực nhận khoản bồi thường ấy. Như chúng ta đã lưu ý, khái niệm bồi thường phải trả không có cơ sở trong Thánh điển, nhưng nếu vật vẫn còn nằm trong sự sở hữu của tỳ-kheo và vị ấy quyết định không trả lại nó, thì quyết định đó sẽ được tính là một chủ tâm trộm cắp. Vụ trộm vật khi ấy có thể được xử theo loại một vật mượn, mà trên thực tế có cùng hiệu quả như khái niệm bồi thường phải trả của Chú giải: Vụ trộm sẽ được hoàn thành khi người chủ từ bỏ những nỗ lực giành lại quyền sở hữu của mình. Tuy nhiên, nếu vật không còn tồn tại nữa (nó đã bị tỳ-kheo dùng hết hay bị phá huỷ) hay không còn nằm trong sự sở hữu của tỳ-kheo nữa (vị ấy đã đánh mất nó hay đem cho nó đi), thì việc giải quyết vấn đề thuần tuý là chuyện riêng giữa tỳ-kheo và người chủ, mặc dù như chúng ta đã lưu ý ở trên, Cộng đồng, nếu thấy phù hợp, có thể buộc tỳ-kheo xin lỗi người chủ.
Chủ tâm
Không có tội nếu một tỳ-kheo lấy một vật (1) theo sự tin tưởng hay (2) một cách tạm thời.
Để lấy một vật theo sự tin tưởng một cách đúng đắn, [Mv.VIII.19.1] nêu rằng năm điều kiện phải được đáp ứng:
a. Người chủ là một người quen.
b. Người ấy là một người thân thiết.
c. Người ấy đã nói về việc này. (Theo Chú giải, điều này nghĩa là người ấy đã nói, "Ông có thể lấy bất kỳ tài sản nào của tôi mà ông muốn.")
d. Người ấy vẫn còn sống.
e. Người ta biết rằng người ấy sẽ hài lòng về việc mình lấy nó.
Chú giải về giới này nêu rằng trên thực tế chỉ cần đáp ứng ba trong số các điều kiện này: điều kiện thứ tư, thứ năm, và bất kỳ một trong ba điều kiện đầu. Như Vinaya-mukha lưu ý, có những lý do thực tiễn chính đáng để chấp nhận cách giải thích của Chú giải ở đây. Cũng còn có lý do hình thức là bằng không thì hai điều kiện đầu sẽ thành thừa.
[Mv.VIII.31.2-3] thảo luận cách một món có thể được lấy theo sự tin tưởng một cách đúng đắn nếu một tỳ-kheo, với tư cách người đưa tin, đang chuyển nó từ một thí chủ đến một người nhận đã định. Yếu tố quyết định là điều mà thí chủ nói khi trao món ấy, mà có vẻ xác định ai thực thi quyền sở hữu đối với món ấy trong khi nó đang trên đường chuyển. Nếu thí chủ nói, "Hãy đưa cái này cho người-nọ-người-kia" (nghĩa là quyền sở hữu chưa được chuyển sang người nhận), thì người ta có thể lấy món ấy theo sự tin tưởng một cách đúng đắn nơi thí chủ nhưng không phải nơi người nhận. Nếu người ấy nói, "Tôi cho cái này cho người-nọ-người-kia" (điều này chuyển quyền sở hữu sang người nhận), thì người ta có thể lấy món ấy theo sự tin tưởng một cách đúng đắn nơi người nhận nhưng không phải nơi thí chủ. Nếu, trước khi người đưa tin có thể chuyển món ấy đến người nhận đã định, vị ấy biết được rằng người chủ — như được xác định bởi lời của thí chủ — tình cờ qua đời, thì vị ấy có thể xác định món ấy như một di sản từ người chủ.
Trong cả hai trường hợp mà món ấy có thể được lấy theo sự tin tưởng một cách hợp lệ, không văn bản nào thảo luận liệu các yếu tố được liệt kê trong [Mv.VIII.19.1] cũng phải được đáp ứng hay liệu các sự cho phép ở đây là một miễn trừ đặc biệt đối với các yếu tố đó được ban riêng cho những người đưa tin. Tuy nhiên, vì các sự cho phép rất chi li về việc ai duy trì quyền sở hữu đối với món hàng trong khi nó đang trên đường chuyển, nên có vẻ như người chủ sẽ có quyền bày tỏ sự hài lòng hay không hài lòng về việc người đưa tin lấy món ấy theo sự tin tưởng. Điều này còn gợi ý thêm rằng người đưa tin sẽ phải cân nhắc đến những ý nguyện được nhận biết của người chủ, mà điều đó hàm ý rằng các yếu tố được liệt kê trong [Mv.VIII.19.1] vẫn có hiệu lực ở đây.
Vinīta-vatthu xử lý trường hợp một tỳ-kheo lấy một món vì nhầm tưởng rằng mình có quyền lấy nó theo sự tin tưởng; Đức Phật gọi đây là một "sự hiểu lầm về sự tin tưởng" và không áp hình phạt nào. Chú giải về giới này nói thêm rằng nếu người chủ ban đầu cho người ta biết rằng ông ấy không hài lòng vì ông ấy thành thật muốn giữ món ấy cho một công dụng khác, thì người ta nên trả nó lại cho ông; nhưng, phù hợp với Vinīta-vatthu, nó không nêu ra một hình phạt nào cho việc không trả lại nó. Nếu người chủ không hài lòng với người ta vì những lý do khác, thì Chú giải nói, không cần phải trả lại món ấy.
Còn về việc lấy một món một cách tạm thời, Chú giải nói điều này nghĩa là lấy nó với ý định rằng (a) "Tôi sẽ trả lại nó" hay (b) "Tôi sẽ bồi thường." Có sự hậu thuẫn trong Vibhaṅga cho việc bao gồm (a) ở đây, nhưng không có cho (b). Nếu Chú giải bao gồm (b) để bao quát những trường hợp mà một tỳ-kheo mượn một vật nhưng rồi tình cờ đánh mất hay phá huỷ nó, thì không cần phải bao gồm nó, vì như chúng ta đã giải thích, một tỳ-kheo không bị bắt buộc phải bồi thường cho người ta về những món bị mất hay bị phá huỷ. Nếu Chú giải có ý để nó bao quát những trường hợp mà một tỳ-kheo chiếm quyền sở hữu một vật thuộc về một người mà mình chưa thiết lập sự tin tưởng và với người ấy mình dự định bàn về bồi thường sau, thì nó không thực sự phù hợp với miễn trừ này, vì người ta đang chiếm hữu vĩnh viễn món ấy. Xét những điều kiện nghiêm ngặt mà Thánh điển đặt lên miễn trừ đối với việc lấy một món theo sự tin tưởng, có vẻ không chắc rằng những người biên soạn nó lại chấp thuận một miễn trừ cho phép một tỳ-kheo đi khắp nơi áp đặt những cuộc đổi chác đơn phương, chiếm hữu các món dựa trên giả định vô căn cứ rằng các người chủ sẽ vui vẻ chấp nhận bồi thường vào một lúc sau. Nếu có bất kỳ chỗ nào cho loại miễn trừ này trong khuôn khổ của Vibhaṅga, thì nó sẽ là như một biến thể của việc lấy theo sự tin tưởng. Vì vậy, nó sẽ phải đáp ứng các yếu tố sau: Người chủ là một người quen hay một người thân thiết hay đã nói về việc này; người ấy vẫn còn sống; và người ta biết rằng người ấy sẽ hài lòng nếu người ta lấy món ấy và đưa bồi thường sau.
Ngoài các miễn trừ được liệt kê trong các điều khoản không phạm tội, Vinīta-vatthu còn chứa mười loại trường hợp khác không dính tội theo giới này. Một số trong những trường hợp này đã được nhắc trong các phần thảo luận ở trên, nhưng gom chúng lại một chỗ thì tiện lợi.
—Một tỳ-kheo, thấy một y phục đắt tiền, cảm thấy một ham muốn trộm nó nhưng không hành động theo ham muốn ấy. Các chú giải xem đây là một nguyên tắc chung cho tất cả các giới, rằng sự khởi sinh đơn thuần của một trạng thái tâm không cấu thành một tội.
—Một tỳ-kheo, thấy một chiếc áo choàng bị một cơn gió lốc thổi bay lên, chụp lấy nó để trả lại cho các người chủ.
—Một tỳ-kheo lấy một món theo sự tin tưởng nhưng về sau phát hiện ra rằng sự tin tưởng ấy là hiểu lầm.
—Một tỳ-kheo đi qua một trạm hải quan, không biết rằng có một vật phải chịu thuế trong số đồ đạc của mình.
—Các tỳ-kheo khách, vì thực phẩm, lấy trái cây từ một cái cây thuộc về Saṅgha.
—Các tỳ-kheo nhận trái cây từ người trông coi một vườn cây, mặc dù người trông coi không có quyền cho trái cây đi.
—Một tỳ-kheo, thấy một món bị để bừa, cất nó đi để nó không bị mất. Người chủ đến tìm món ấy và hỏi, "Ai đã trộm nó?" Tỳ-kheo, có lẽ với ý mỉa mai, đáp, "Tôi đã trộm nó." Người chủ bèn buộc tội vị ấy một vụ trộm. Trường hợp được đưa lên Đức Phật, Ngài nói rằng tỳ-kheo không phạm tội, ở chỗ câu trả lời của vị ấy chỉ là một lối nói chứ không phải một sự thừa nhận thực sự về một vụ trộm.
—Một tỳ-kheo, vì lòng bi mẫn, thả một con vật mắc trong bẫy của một người thợ săn.
—Tôn giả Ajjuka chỉ ra một di sản cho một người thừa kế phù hợp với ý nguyện của người chủ ban đầu.
—Tôn giả Pilindavaccha dùng các năng lực thần thông của mình để lấy lại một cặp trẻ em bị bắt cóc. Đức Phật nêu rằng điều này không kéo theo hình phạt nào vì một việc như thế nằm trong phạm vi của những người có thần thông. Vinaya-mukha, khi thảo luận trường hợp này, lấy nó làm tiền lệ để nói rằng nếu một tỳ-kheo trả lại một món bị trộm cho người chủ hợp pháp của nó, thì không có tội. Tuy nhiên, lời của Đức Phật có lẽ nhằm ngăn cản những tỳ-kheo không có thần thông khỏi việc trực tiếp dính líu vào việc sửa chữa những điều sai trái loại này. Nếu một tỳ-kheo không có thần thông tình cờ biết được nơi cất giấu hàng bị trộm, trẻ em bị bắt cóc, v.v., thì vị ấy có thể báo cho nhà chức trách, nếu thấy phù hợp, và để họ tự xử lý tình huống. Tuy nhiên, vì sự an toàn, một tỳ-kheo sống ở một nơi hoang dã có nhiều trộm cướp lui tới sẽ khôn ngoan nếu không bị nhìn nhận là đứng về phía những kẻ trộm hay về phía nhà chức trách.
Tóm tắt: Việc trộm bất cứ thứ gì trị giá 1/24 ounce troy vàng trở lên là một tội pārājika.
\ \ \*
Nếu bất kỳ tỳ-kheo (bhikkhu) nào cố ý tước đoạt sinh mạng của một người, hoặc tìm kiếm kẻ ám sát cho người đó, hoặc ca ngợi những lợi ích của cái chết, hoặc xúi giục người đó chết (nói rằng): "Này bạn hiền, cuộc sống tội lỗi, khốn khổ này có ích gì cho bạn? Chết sẽ tốt hơn cho bạn là sống," hoặc với ý tưởng như vậy trong tâm, với mục đích như vậy trong tâm, mà bằng nhiều cách khác nhau ca ngợi những lợi ích của cái chết hoặc xúi giục người đó chết, thì vị đó cũng bị thất bại và không còn hiệp thông nữa.
Giới luật chống lại việc cố ý gây ra cái chết của một con người này được hiểu rõ nhất qua năm yếu tố, tất cả đều phải hiện diện để có đủ tội vi phạm.
1) Đối tượng: một con người, mà theo Vibhaṅga (Phân Tích Giới) cũng bao gồm thai nhi, tính từ thời điểm thức đầu tiên khởi sinh trong bào thai ngay sau khi thụ thai cho đến thời điểm chết.
2) Ý định: một cách hiểu biết, có ý thức, cố tình và có chủ đích muốn gây ra cái chết của người đó. "Một cách hiểu biết" cũng bao gồm yếu tố—
3) Nhận thức: nhận biết người đó là một chúng sinh đang sống.
4) Nỗ lực: bất cứ điều gì người ta làm với mục đích khiến người đó chết.
5) Kết quả: Mạng căn của người đó bị cắt đứt do hành động của mình.
Đối tượng
Vibhaṅga định nghĩa một con người là "từ thời điểm thức lần đầu tiên biểu hiện trong bào thai của người mẹ, cho đến lúc chết." Như [DN 15] làm rõ, sự hiện diện của thức của chúng sinh mới là cần thiết để phôi thai tồn tại trong bào thai. Do đó, sự sống sót của phôi thai trong bào thai là dấu hiệu rõ ràng rằng thức đang hiện diện. Điều này có nghĩa là thức đã biểu hiện từ thời điểm thụ thai.
Từ đây suy ra rằng một tỳ-kheo cố ý gây ra việc phá thai—bằng cách thu xếp ca phẫu thuật, cung cấp thuốc, hoặc khuyên một người phụ nữ phá thai và cô ta làm theo—phạm pārājika (ba-la-di). Một tỳ-kheo khuyến khích một người phụ nữ sử dụng biện pháp tránh thai có tác dụng sau điểm thụ thai sẽ phạm pārājika nếu cô ta làm theo lời khuyên của vị đó.
Có một loạt trường hợp trong Vinīta-vatthu (Các Trường Hợp Được Phân Xét) trong đó các tỳ-kheo cung cấp thuốc cho phụ nữ muốn phá thai, tiếp theo là hai trường hợp trong đó một tỳ-kheo cung cấp thuốc cho một phụ nữ vô sinh muốn có khả năng sinh sản và cho một phụ nữ có khả năng sinh sản muốn trở nên vô sinh. Trong cả hai trường hợp sau này, không ai chết hay đau đớn, nhưng trong cả hai trường hợp tỳ-kheo đều phạm dukkaṭa (đột-kiết-la). Từ đây, Chú Giải suy ra rằng các tỳ-kheo không được đóng vai trò bác sĩ cho cư sĩ, một suy luận được ủng hộ bởi Vibhaṅga của [Sg 13]. (Tuy nhiên, Chú Giải đưa ra một số ngoại lệ cho nguyên tắc này. Xem thảo luận trong [BMC2, Chương 5].)
Câu hỏi đặt ra là liệu sinh mạng của chính mình có đủ điều kiện là "đối tượng" theo giới luật này hay không—nói cách khác, mức độ mà các hành vi tự tử bất thành được bao gồm ở đây. Vibhaṅga của giới luật này đề cập đến ba loại tự tử, xử lý mỗi loại theo cách khác nhau.
a) Trong câu chuyện nguồn gốc, các tỳ-kheo tìm kiếm kẻ ám sát, tức là nhờ người khác lấy mạng họ. Hành động đó được đề cập trực tiếp trong giới luật và được giải thích trong Vibhaṅga, do đó nó có nằm trong phạm vi giới luật này.
b) Vinīta-vatthu bao gồm một trường hợp trong đó một tỳ-kheo cố gắng tự tử bằng cách nhảy xuống từ vách đá, và Đức Phật đặt ra một giới luật riêng để xử lý trường hợp đó. Tuy nhiên, hình phạt được giao bởi giới luật không phù hợp với mô hình các tội phái sinh theo giới luật này, điều đó cho thấy hành vi tự tử bất thành loại đó sẽ không được xử lý ở đây.
c) Câu chuyện nguồn gốc cũng kể về các tỳ-kheo tự lấy mạng mình, nhưng giới luật chính ở đây không đề cập đến hành động đó, cũng như Vibhaṅga không thảo luận về nó. Chú Giải mở rộng từ giới luật trong trường hợp (b) để bao gồm hầu hết mọi hành vi tự tử, nhưng có những lý do để nghi ngờ lập luận của Chú Giải về vấn đề này. Để thảo luận, xem "Các trường hợp đặc biệt," bên dưới.
Vibhaṅga nêu rằng một tỳ-kheo giết một "chúng sinh phi nhân"—một dạ-xoa (yakkha), rồng (nāga), hay ngạ quỷ (peta)—phạm pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya (thâu-lan-giá). Chú Giải thêm một devatā vào danh sách này, và tiếp tục nói rằng một linh hồn nhập vào người hay động vật có thể được trục xuất bằng một trong hai cách. Cách thứ nhất là ra lệnh cho nó rời đi: Điều này không gây tổn thương cho linh hồn và không phạm giới. Cách thứ hai là làm một con búp bê bằng bột nhào hoặc đất sét rồi cắt đứt các bộ phận của nó (!). Nếu cắt đứt tay chân, linh hồn mất tay chân. Nếu cắt đứt đầu, linh hồn chết, điều này là căn cứ để phạm pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Một tỳ-kheo cố ý giết một con vật thông thường được xử lý theo [Pc 61].
Ý định và nhận thức
Vibhaṅga định nghĩa yếu tố ý định trong ba bối cảnh—phân tích từ ngữ, các điều khoản không phạm giới, và Vinīta-vatthu—phân tích nó với một bộ thuật ngữ trong bối cảnh đầu tiên, và một bộ khác trong hai bối cảnh sau. Có hai cách diễn giải sự khác biệt này: Hoặc là hai bộ thuật ngữ chỉ khác về ngôn ngữ mà không khác về thực chất, hoặc là chúng thực sự khác nhau về thực chất. Chú Giải, mà dường như không nhận ra mình đang làm gì, chấp nhận cách giải thích thứ hai. Nói cách khác, nó định nghĩa các yếu tố ý định theo những cách rất khác nhau trong các bối cảnh khác nhau, nhưng không khẳng định rằng bộ thuật ngữ nào có thẩm quyền hơn, thậm chí không ghi chú sự khác biệt giữa chúng. Thực ra, nó lấy một trong các thuật ngữ chung của các điều khoản không phạm giới và Vinīta-vatthu và định nghĩa nó theo một cách trong một bối cảnh và theo cách khác trong bối cảnh kia. Tất cả điều này tạo ra rất nhiều nhầm lẫn.
Một cách phân tích hiệu quả hơn đối với hai bộ thuật ngữ, mà chúng ta sẽ áp dụng ở đây, là giả định rằng chúng chỉ khác về ngôn ngữ mà không khác về thực chất. Chúng ta sẽ lấy làm khung bộ thuật ngữ được sử dụng trong các điều khoản không phạm giới và Vinīta-vatthu, vì nó rõ ràng hơn và được minh họa phong phú hơn bộ kia, rồi tham chiếu bộ kia, cùng với một số giải thích từ Chú Giải, khi những điều này giúp hiểu rõ hơn những gì các điều khoản không phạm giới và Vinīta-vatthu đang nói.
Các điều khoản không phạm giới nêu rằng không có tội vi phạm đối với tỳ-kheo hành động không cố ý, không biết, hoặc không nhắm đến cái chết. Trong Vinīta-vatthu, "không cố ý" được dùng để mô tả các trường hợp trong đó tỳ-kheo hành động vô tình, chẳng hạn như đánh rơi một viên đá, viên gạch, hay cái rìu cầm không chắc; lấy cối giã xuống khỏi kệ và vô tình làm rơi cái khác. "Không biết" được dùng trong các trường hợp trong đó tỳ-kheo cố tình thực hiện một hành động nhưng không biết rằng hành động của mình có thể gây ra cái chết. Một ví dụ là đưa thức ăn cho một người bạn mà không biết rằng nó có chứa chất độc. "Không nhắm đến cái chết" được dùng trong các trường hợp tỳ-kheo cố tình thực hiện một hành động nhưng không có ý định hành động đó dẫn đến cái chết thông qua việc cắt đứt mạng căn. Các ví dụ liên quan bao gồm: cố gắng giúp một tỳ-kheo đang bị nghẹn thức ăn bằng cách vỗ lưng và vô tình gây ra cái chết của vị đó; bảo một tỳ-kheo đứng trên một miếng giàn giáo khi đang giúp công trình xây dựng, chỉ để thấy giàn giáo sụp đổ; mô tả những niềm vui trên thiên đàng cho một người nghe, chỉ để người nghe tự nguyện chết với hy vọng được lên đó.
Ở đây điều quan trọng cần lưu ý là việc nói với một bệnh nhân đang hấp hối đừng chống lại cái chết, với hy vọng rằng bệnh nhân sẽ đơn giản để mạng căn tự kết thúc, sẽ không tính là "nhắm đến cái chết" trong bối cảnh của giới luật này. Tuy nhiên, trong các trường hợp như thế này, thường khó có thể chắc chắn về ý định của mình, vì vậy chính sách sáng suốt sẽ là tránh lời khuyên loại này càng nhiều càng tốt và thay vào đó tập trung vào việc khuyến khích bệnh nhân phát triển trạng thái tâm thiện lành.
Tóm lại thảo luận cho đến đây: Để đáp ứng yếu tố ý định ở đây, một tỳ-kheo phải hành động có chủ tâm, có hiểu biết, và nhắm đến cái chết.
Phân tích từ ngữ bao gồm tất cả các điểm giống nhau—mặc dù nó sắp xếp lại các thuật ngữ—khi nó định nghĩa "có chủ tâm" là "đã khởi ý, đã đưa ra quyết định một cách hiểu biết và có ý thức." Không cần phân tích sự khác biệt về thuật ngữ, chúng ta có thể ghi nhận điểm quan trọng được thêm vào trong phân tích của nó, đó là một hành vi ngộ sát chỉ tính là có chủ tâm ở đây khi tỳ-kheo đã đưa ra quyết định rõ ràng để giết. Do đó, nếu vị đó đánh một người một cách vô suy nghĩ trong cơn thịnh nộ bất ngờ, mà không rõ ràng về ý định của mình là gì, điều đó sẽ không đủ điều kiện là "có chủ tâm" ở đây. Chú Giải ủng hộ điểm này khi nó định nghĩa "đã đưa ra quyết định" là "đã triệu tập một trạng thái tâm bất cẩn, 'nghiền nát' thông qua sức mạnh của một cuộc tấn công." Phụ Chú Giải không giải thích "nghiền nát" hay "tấn công" ở đây, nhưng rõ ràng chúng có nghĩa là vượt qua một cách hung hăng, thông qua một hành động ý chí thô bạo, bất kỳ suy nghĩ trái chiều hay do dự nào trong tâm.
Vinīta-vatthu chứa một vài trường hợp trong đó các tỳ-kheo giết người trong các tình huống mà họ thậm chí không biết rằng có một người ở đó: ném đá qua vách đá, không biết rằng có người đứng bên dưới; ngồi xuống trên một đống vải trên ghế, không biết rằng có đứa trẻ bên dưới tấm vải; và đốt lửa trong một khu rừng, không biết rằng có người trong rừng. Đức Phật bác bỏ hai trường hợp đầu mà không giải thích là không thuộc giới luật này. Trường hợp cuối ngài phân loại là ví dụ của "không nhắm đến cái chết." Chúng ta có thể kết luận từ ví dụ này rằng nhắm đến cái chết phải bao gồm nhận thức rằng có ai đó ở đó có thể chết. Chú Giải ủng hộ kết luận này trong phân tích của nó về cụm từ "một cách hiểu biết và có ý thức" trong định nghĩa "có chủ tâm" của phân tích từ ngữ. Mặc dù nó lại sắp xếp lại các thuật ngữ—dùng "có ý thức" để mô tả những gì Vinīta-vatthu mô tả là "một cách hiểu biết"—điểm quan trọng trong kết luận của nó là một yếu tố thiết yếu trong yếu tố ý định là yếu tố nhận thức: Theo lời nó, người ta phải nhận biết rằng, "Đây là một chúng sinh đang sống."
Lưu ý rằng, với định nghĩa này, người ta không cần biết rằng chúng sinh đó là con người để yếu tố nhận thức được đáp ứng. Chú Giải minh họa điểm này bằng một ví dụ trong đó một tỳ-kheo, nhìn thấy một con dê nằm xuống ở một chỗ nhất định vào ban ngày, quyết định quay lại chỗ đó vào ban đêm để giết con dê. Trong thời gian đó, con dê đứng dậy và một người đàn ông đến nằm xuống ở chỗ đó. Tỳ-kheo tiếp cận người đàn ông trong bóng tối, vẫn nghĩ đó là con dê, và giết người đó. Phán quyết: phạm pārājika.
Mặc dù phán xét này có vẻ kỳ lạ, không có gì trong Kinh Tạng để mâu thuẫn với nó. Trường hợp gần nhất trong Vinīta-vatthu liên quan đến một tỳ-kheo đào một cái bẫy với ý định bất cứ chúng sinh nào rơi vào đó sẽ chết. Hình phạt, nếu một con vật chết do đó, là pācittiya (ba-dật-đề); nếu là người, là pārājika. Trong trường hợp này, ý định/nhận thức giết một chúng sinh đủ rộng để bao gồm cả con người, và do đó đáp ứng các yếu tố liên quan ở đây.
Trong khi thảo luận về trường hợp cuối này, Chú Giải lưu ý rằng nếu người ta đào cái bẫy nhưng sau đó từ bỏ ý định gây ra cái chết, người ta phải lấp đầy hoàn toàn cái bẫy theo cách mà nó không thể gây thương tích—thậm chí đến mức khiến ai đó vấp ngã—nếu muốn tránh hình phạt đến từ bất kỳ thương tích nào mà cái bẫy có thể gây ra. Nếu cái bẫy chỉ được lấp một phần và một người vấp vào và sau đó chết vì thương tích, tỳ-kheo phạm tội đầy đủ theo giới luật này. Phán xét tương tự áp dụng cho bất kỳ nỗ lực giết người nào không nhắm vào một nạn nhân cụ thể. Ví dụ, nếu một tỳ-kheo mang ý định chung kiểu này dựng lên một cái bẫy nhưng sau đó thay đổi ý định, vị đó phải phá hủy cái bẫy hoàn toàn đến mức không thể lắp lại. Tương tự, khi một tỳ-kheo viết một đoạn văn mô tả những lợi ích của cái chết (xem bên dưới) với suy nghĩ rằng bất kỳ ai đọc nó có thể quyết định tự tử, nếu vị đó sau đó thay đổi ý định, vị đó phải phá hủy bài viết hoàn toàn đến mức không thể ghép lại. Nếu, thay vì tự viết đoạn văn, vị đó chỉ lấy một đoạn văn viết sẵn loại này và sau đó—với ý định tương tự—đặt nó ở nơi có thể dễ dàng nhìn thấy, vị đó có thể tránh bất kỳ hình phạt nào đơn giản bằng cách trả đoạn văn về nơi tìm thấy nó.
Trong khi thảo luận về chủ đề cái bẫy, Chú Giải cũng đề cập đến vấn đề mức độ ý định tính đến khi thiết lập một tình huống có thể gây ra cái chết. Cụ thể, nó hỏi liệu—trong khi đào một cái hố với mục đích khác—một suy nghĩ thoáng qua rằng "cái hố này có thể giết bất kỳ ai rơi vào đó" có đáp ứng yếu tố ý định theo giới luật này hay không, hay yếu tố này chỉ được đáp ứng nếu mục đích ban đầu khi đào hố là để gây ra cái chết. Chú Giải lưu ý rằng các ý kiến bị chia rẽ về điểm này, nhưng nó đứng về phía sau.
Vinīta-vatthu chứa một trường hợp bất thường về một tỳ-kheo dùng một người bạn làm chuột thí nghiệm để thử chất độc. Người bạn chết, và tỳ-kheo chỉ phạm pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya. Chú Giải giải thích điều này bằng cách phân biệt hai loại thử nghiệm: một là để xem một chất độc cụ thể có đủ mạnh để giết người không; cái kia là để xem một người cụ thể có đủ mạnh để sống sót khi tiếp xúc chất độc không. Trong cả hai trường hợp này, tỳ-kheo phạm pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya bất kể nạn nhân có chết hay không. Tuy nhiên, nếu tỳ-kheo cho người khác uống chất độc với mong muốn rằng nó sẽ gây ra cái chết của người đó, vị đó phạm pārājika nếu nạn nhân chết, và pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya nếu không.
Vinīta-vatthu cũng bao gồm một trường hợp trong đó các tỳ-kheo, vì lòng từ bi đối với một người bạn bệnh nặng, đẩy nhanh cái chết của người đó và do đó phạm tội đầy đủ theo giới luật này. Điều này cho thấy xung động và động cơ không liên quan trong việc xác định yếu tố ý định ở đây.
Nỗ lực
Yếu tố này bao gồm bốn loại hành động: tước đoạt sinh mạng, thu xếp kẻ ám sát, mô tả những lợi ích của cái chết, và xúi giục một người chết.
a) Tước đoạt sinh mạng
Vibhaṅga định nghĩa tước đoạt sinh mạng là "việc cắt đứt, kết thúc, mạng căn; gián đoạn sự liên tục." Vibhaṅga liệt kê nhiều phương tiện mà người ta có thể cố gắng làm điều này, mà Chú Giải chia thành bốn loại:
—Thân xác của mình: đánh bằng tay hoặc chân; sử dụng vũ khí như dao, gậy, gộc, v.v.; đưa chất độc cho người; cho một phụ nữ có thai thuốc sẽ gây ra phá thai; di chuyển một người bệnh.
—Ném: ném đá, bắn tên. Hiện nay, bắn súng hay ném lựu đạn sẽ thuộc loại này.
—Thiết bị cố định: đặt bẫy, đào hố, đặt vũ khí ở nơi nạn nhân có thể ngã, ngồi, hay nằm lên; đặt chất độc vào thức ăn, v.v. Hiện nay, gài mìn đất sẽ thuộc loại này.
—Ra lệnh: bảo người khác thực hiện một vụ giết người. Loại này bao gồm các khuyến nghị được diễn đạt theo lối mệnh lệnh cũng như các mệnh lệnh rõ ràng. Một vài ví dụ:
Bảo B giết C. Cách mà một tỳ-kheo bị phạt vì khiến người khác thực hiện một vụ giết người—thông qua dấu hiệu hay mệnh lệnh bằng lời—có thể được suy ra từ cuộc thảo luận về đồng phạm theo giới luật trước. Vibhaṅga ở đây, như trong giới luật đó, nêu rằng nếu đồng phạm không tuân thủ chính xác các chỉ thị của mình, người ta được tha thứ tội vi phạm. Trong khi thảo luận về điểm này, Chú Giải đi vào chi tiết sáu cách mà mệnh lệnh giết có thể được chỉ định: đối tượng [người bị giết], thời gian, địa điểm, vũ khí sử dụng, hành động mà vũ khí phải được sử dụng [ví dụ: "Đâm vào cổ hắn"], và tư thế nạn nhân phải ở [ngồi, đứng, nằm] khi hành động được thực hiện. Nếu người chủ mưu chỉ định bất kỳ điều nào trong số này và đồng phạm không thực hiện chính xác đến từng chữ, người chủ mưu không phạm hình phạt cho vụ giết thực sự. Ví dụ, Tỳ-kheo A bảo học trò B giết C trong khi C đang ngồi thiền vào nửa đêm. Người học trò vào phòng của C vào nửa đêm, chỉ để thấy C đang ngủ trên giường, đó là nơi hắn giết C. Tỳ-kheo A do đó chỉ phạm pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya vì đã thuyết phục học trò chấp nhận mệnh lệnh.
Như trong giới luật trước, Chú Giải cố gắng lập luận rằng nếu B chắc chắn sẽ thành công trong việc giết C theo mệnh lệnh của A, A phạm pārājika khi đưa ra mệnh lệnh, nhưng một lần nữa, ý kiến này không phù hợp với Vibhaṅga.
Trường hợp đồng phạm vô tội—người không biết rằng hành động được bảo làm sẽ dẫn đến cái chết—cũng có vẻ liên quan ở đây, như trong trường hợp một tỳ-kheo chuẩn bị ống tiêm chứa chất độc và bảo đồng phạm, người nghĩ rằng ống tiêm chứa thuốc, tiêm vào bệnh nhân. Có mọi lý do để áp đặt pārājika cho tỳ-kheo nếu bệnh nhân sau đó chết, nhưng đồng phạm sẽ không phạm tội.
Khuyến nghị biện pháp phá thai.
Khuyến nghị biện pháp an tử. Vinīta-vatthu bao gồm một trường hợp về một tên tội phạm vừa bị trừng phạt bằng cách cắt tay chân. Một tỳ-kheo hỏi người thân của người đó, "Bạn có muốn anh ta chết không? Thì hãy cho anh ta uống bơ sữa (§) (!)." Những người thân làm theo khuyến nghị của tỳ-kheo, người đó chết, và tỳ-kheo phạm pārājika.
Khuyến nghị biện pháp tử hình. Cũng từ Vinīta-vatthu: Một tỳ-kheo bảo một đao phủ hãy giết các nạn nhân của mình một cách nhân từ bằng một nhát chém duy nhất, thay vì tra tấn họ. Người đao phủ làm theo lời khuyên của vị đó và tỳ-kheo phạm pārājika, vì lời khuyên giết một cách nhân từ vẫn là lời khuyên giết. Theo Vinīta-vatthu, nếu đao phủ nói rằng hắn sẽ không làm theo lời khuyên của tỳ-kheo và sau đó giết các nạn nhân theo ý hắn, tỳ-kheo không phạm tội. Chú Giải thêm rằng nếu đao phủ cố gắng làm theo lời khuyên của tỳ-kheo nhưng cần nhiều hơn một nhát chém để hoàn thành công việc, tỳ-kheo phạm pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Các phát biểu gián tiếp. Kinh điển và Chú Giải bất đồng về việc liệu các phát biểu gián tiếp không phải lối mệnh lệnh có đủ điều kiện là mệnh lệnh hay khuyến nghị theo giới luật này hay không. Chú Giải khẳng định rằng một tỳ-kheo không thể tránh khỏi hình phạt bằng cách diễn đạt mong muốn giết người theo những cách vòng vo hơn, và đưa ra ví dụ trong đó một tỳ-kheo nói với mọi người, "Ở chỗ như vậy có tên cướp đang ở. Ai cắt đầu hắn sẽ được Vua ban thưởng lớn." Nếu bất kỳ người nghe nào của tỳ-kheo giết tên cướp do sự xúi giục của vị đó, Chú Giải nói, tỳ-kheo phạm pārājika.
Tuy nhiên, các ví dụ về mệnh lệnh và khuyến nghị trong Kinh Tạng đều được diễn đạt theo lối mệnh lệnh: "Hãy làm thế này!" "Nếu bạn muốn anh ta chết, hãy làm thế này." Các ví dụ duy nhất về phát biểu gián tiếp là những trường hợp tỳ-kheo bày tỏ mong muốn, "Ôi, giá như người đó bị giết." Theo Vibhaṅga, phát biểu này phạm dukkaṭa bất kể được nói công khai hay riêng tư, và bất kể người ta có biết rằng có ai khác đang nghe lỏm hay không. Tuy nhiên, không có thảo luận về ý định của người đưa ra phát biểu có thể là gì, cũng như về hậu quả cho người nói nếu bất kỳ ai, được truyền cảm hứng bởi lời nói của vị đó, thực sự giết người được đề cập. Điều này ngụ ý rằng các tác giả của Vibhaṅga không coi các phát biểu loại này là đáp ứng yếu tố nỗ lực theo giới luật này. Điều này có vẻ quá khoan dung, nhưng vì một tỳ-kheo có mệnh lệnh giết rõ ràng được thực hiện nhưng không đúng theo từng chữ cũng chỉ phạm pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya, phán xét này có vẻ nhất quán với mô hình giao hình phạt của Vibhaṅga.
Ngoài bốn loại phương tiện giết người trên, Chú Giải bổ sung thêm hai loại của riêng nó:
—Chú thuật phép thuật: đọc những đoạn kêu gọi các linh hồn ác gây ra cái chết của người nào đó, sử dụng bùa ngải, v.v.
—Thần thông: sử dụng "mắt ác" hay các năng lực bẩm sinh tương tự khác.
Kinh Tạng chứa nhiều đoạn—MN 56 là một ví dụ—mô tả những người "đã phát triển về tâm," dùng sức mạnh của mình để giết. Chú Giải ghi nhận sự tồn tại của những đoạn này và của "một số giáo viên" trích dẫn chúng như bằng chứng rằng sức mạnh thiền định có thể được sử dụng theo cách này, nhưng nó bác bỏ ý tưởng này với lý do rằng sức mạnh thiền định là thiện lành và dựa trên các trạng thái tâm dễ chịu, trong khi hành động giết người là bất thiện và dựa trên các trạng thái tâm khó chịu. Phụ Chú Giải thêm rằng sức mạnh được mô tả trong Kinh Tạng thực ra dựa trên các chú thuật phép thuật. Tuy nhiên, vì sự thành công của những chú thuật này phụ thuộc vào một mức độ định tâm nhất định, có vẻ như việc sử dụng sức mạnh định tâm của mình để giết sẽ đáp ứng yếu tố nỗ lực ở đây.
b) Thu xếp kẻ ám sát
Như giới luật chỉ ra, một tỳ-kheo có thể phạm tội theo giới luật này không chỉ bằng cách sử dụng bất kỳ sáu phương tiện tước đoạt sinh mạng được đề cập trên đây mà còn bằng cách "tìm kiếm kẻ ám sát." Vibhaṅga giải thích cụm từ này trong giới luật đơn giản bằng danh sách các vũ khí: một thanh kiếm, một ngọn giáo, một cái đinh ba (§—BD bỏ mục này), một cái xiên/cọc, một cái gậy, một viên đá, một con dao, chất độc, hay một sợi dây. Có hai cách để hiểu danh sách này. Một là vì từ Pali chỉ kẻ ám sát theo nghĩa đen là "người mang dao" (satthahāraka), Vibhaṅga đang cẩn thận giải thích rằng kẻ ám sát cũng có thể sử dụng các vũ khí khác ngoài dao. Cách khác để giải thích danh sách này, được Chú Giải ủng hộ, là xem danh sách của Vibhaṅga như một nỗ lực định nghĩa từ satthahāraka—mà theo Chú Giải là thuật ngữ chung cho vũ khí sát nhân. Chú Giải sau đó tiếp tục nói rằng toàn bộ cụm từ "tìm kiếm kẻ ám sát" có nghĩa là thiết lập một thiết bị cố định, như được mô tả trên đây. Có hai vấn đề với cách giải thích này, thứ nhất là từ satthahāraka rõ ràng có nghĩa là "kẻ ám sát" ở các phần khác của Kinh Tạng (xem, ví dụ, MN 145); thứ hai là cách giải thích này làm cho cụm từ hoàn toàn thừa: thiết lập một thiết bị cố định đã được bao gồm bởi một phần khác của giới luật. Do đó chúng ta sẽ theo cách giải thích đầu tiên của Vibhaṅga về cụm từ: Nó đang chỉ ra rằng kẻ ám sát có thể sử dụng bất kỳ vũ khí nào.
Câu hỏi còn lại là cách giải thích này không thừa so với "ra lệnh" trong giải thích các cách tước đoạt sinh mạng như thế nào. Câu trả lời có vẻ là thế này: Từ satthahāraka thường được dùng nhất trong Kinh Tạng trong bối cảnh hỗ trợ tự tử, trong đó một người muốn chết nhưng không thể tự tử lại thu xếp để người khác, một satthahāraka, giết mình. Vì vậy, việc bao gồm cụm từ này trong giới luật có nghĩa là một tỳ-kheo có ý định chết, người thu xếp cho người khác làm việc đó cho mình, sẽ phạm tất cả các tội phái sinh dẫn đến cái chết thực sự. Hiện nay, điều này sẽ loại bỏ việc cố gắng nhờ bác sĩ thu xếp hỗ trợ tự tử cho mình. Nếu người ta giúp thu xếp hỗ trợ tự tử cho người khác, trường hợp đó sẽ thuộc loại ra lệnh, như trên, cũng như trường hợp thu xếp kẻ ám sát cho người khác không theo yêu cầu của người đó.
Như chúng ta sẽ thấy bên dưới, các trường hợp cố gắng tự tử mà không thu xếp cho người khác làm việc đó sẽ không thuộc giới luật này. Lý do rõ ràng để tạo ra sự phân biệt và đưa hành vi "tìm kiếm kẻ ám sát" để giết chính mình vào giới luật này là trong khi làm như vậy, người ta sẽ đang yêu cầu người khác gánh lấy nghiệp bất thiện nghiêm trọng của việc tước đoạt sinh mạng người.
Nhận xét hữu ích nhất của Chú Giải trong bối cảnh này là khẳng định rằng "tìm kiếm" ở đây phải có nghĩa là thực sự thu xếp, vì hành động đơn giản tìm kiếm kẻ ám sát mà không thực sự tìm được sẽ không phạm bất kỳ tội nào theo giới luật này.
c) Mô tả những lợi ích của cái chết
Loại hành động thứ ba được bao gồm trong giới luật này bao gồm các trường hợp tỳ-kheo mô tả những niềm vui trên thiên đàng cho một người có hành động thiện lành để người đó đẩy nhanh cái chết của mình với hy vọng được lên thiên đàng. Trong trường hợp được đề cập trong câu chuyện nguồn gốc, người đó ăn thức ăn và uống đồ uống có hại cho sức khỏe và chết vì căn bệnh do đó gây ra. Trong một trường hợp trong Vinīta-vatthu, người đó đẩy nhanh cái chết, cắt đứt mạng căn của mình đơn giản thông qua một hành động ý chí. Trong cả hai trường hợp, yếu tố nỗ lực đã được đáp ứng.
Vinīta-vatthu cũng chứa một trường hợp trong đó tỳ-kheo mô tả những niềm vui trên thiên đàng cho một người có hành động thiện lành nhưng không nhắm đến cái chết của người đó. Trong trường hợp đó, không có tội vi phạm ngay cả khi người đó tự nguyện chết. Và trong [SN 55.54], Đức Phật đặc biệt khuyên người anh em họ của ngài là Mahānāma, khi tư vấn cho một cư sĩ sáng suốt—tức là một vị nhập lưu—khi người đó đang hấp hối, hãy khuyến nghị người đó hướng tâm đến những niềm vui trên thiên đàng để không bị ràng buộc vào các dục lạc thế gian.
Điều này có nghĩa là có những trường hợp mô tả những niềm vui trên thiên đàng thực sự là thiện lành, ngay cả khi người nghe đang tiếp cận cái chết. Tuy nhiên, như đã lưu ý trên đây, thường khó chắc chắn về ý định của mình trong các trường hợp như thế này. Vì lý do này, Chú Giải lưu ý rằng một tỳ-kheo nói chuyện với bệnh nhân đang hấp hối nên rất thận trọng trong cách chọn lời, tập trung không phải vào cách cắt đứt mạng căn của bệnh nhân trước khi nó kết thúc tự nhiên mà là vào cách truyền cảm hứng cho bệnh nhân với những suy nghĩ sau: "Việc chứng đắc các đạo và quả không phải là điều bất thường đối với người có giới hạnh. Vì vậy, sau khi không hình thành sự ràng buộc đối với những thứ như nơi ở của bạn, và thiết lập chánh niệm trong Đức Phật, Giáo Pháp, Tăng đoàn (Saṅgha), hay thân xác, bạn nên chú tâm cẩn thận."
Vinīta-vatthu của [Pr 4] chứa một số câu chuyện trong đó các tỳ-kheo an ủi một tỳ-kheo đang hấp hối bằng cách yêu cầu vị đó suy ngẫm về những gì vị đó đã đạt được qua việc tu hành, đây rõ ràng là một cách phổ biến để khuyến khích một tỳ-kheo đang hấp hối hướng tư duy đến đối tượng tốt nhất có thể. Các bài kinh cũng chứa thêm lời khuyên về cách khuyến khích bệnh nhân đang đối mặt với cái chết. Xem, ví dụ, [MN 143], [SN 36.7], và [AN 6.16]. Trong tất cả các trường hợp này, lời khuyên không nhằm mục đích đẩy nhanh cái chết mà là để xoa dịu những lo lắng của người đang chết, và truyền cảm hứng cho sự bình an và tuệ giác.
Vibhaṅga lưu ý rằng một phát biểu mô tả những lợi ích của cái chết sẽ đáp ứng yếu tố nỗ lực bất kể được truyền đạt bằng cử chỉ, bằng lời nói, bằng văn bản, hay thông qua sứ giả. Điều tương tự cũng đúng với bất kỳ phát biểu nào thuộc loại hành động tiếp theo.
d) Xúi giục một người chết
Xúi giục một người chết, loại hành động thứ tư, bao gồm:
—Khuyến nghị tự tử. Điều này bao gồm không chỉ bảo người ta tự tử mà còn đưa ra lời khuyên—dù được yêu cầu hay không—về những cách tốt nhất để thực hiện hành động đó.
—Bảo người đó đến một nơi nguy hiểm nơi họ có thể chết vì những nguy hiểm.
—Bảo người được định sẵn xuống địa ngục—chẳng hạn, vì đã giết cha mẹ—về những nỗi kinh hoàng của địa ngục với hy vọng làm họ chết vì sợ hãi.
—Thu xếp một cảnh tượng khủng khiếp, âm thanh, v.v., để làm người chết vì sợ hãi, hoặc một cảnh đẹp đẽ, "xúc động lòng" để thu hút người sẽ tàn phai đến chết khi nó biến mất.
Bốn vấn đề nảy sinh liên quan đến các cách giết người trên đây:
Ra lệnh. Đưa ra mệnh lệnh hay khuyến nghị để khiến người khác thực hiện bất kỳ ba loại hành động cuối nào trong số này—thu xếp kẻ ám sát, mô tả những lợi ích của cái chết, hoặc xúi giục người khác chết—cũng sẽ đáp ứng yếu tố nỗ lực theo giới luật này.
Không hành động. Với định nghĩa của Vibhaṅga về tước đoạt sinh mạng, chúng ta có thể suy ra rằng không hành động không đáp ứng yếu tố nỗ lực ở đây, vì nó không cắt đứt mạng căn. Do đó, nếu tỳ-kheo ngồi thụ động khi thấy lũ cuốn một người xuống dòng, vị đó không phạm tội—bất kể cảm xúc của vị đó về cái chết của người đó là gì—ngay cả khi người đó sau đó chết đuối. Khuyến nghị người khác ngồi thụ động cũng sẽ không đáp ứng yếu tố nỗ lực ở đây, vì loại mệnh lệnh chỉ bao gồm hành động xúi giục người nghe thực hiện bất kỳ bốn hành động nào sẽ đáp ứng yếu tố nỗ lực theo giới luật này.
Chăm sóc y tế và hỗ trợ sự sống. Điều tương tự cũng đúng nếu tỳ-kheo quyết định không điều trị cho bệnh nhân—hoặc ngừng điều trị—có thể kéo dài sinh mạng của bệnh nhân: Nó không đáp ứng yếu tố nỗ lực, vì những hành động như vậy không cắt đứt mạng căn. Nhiều nhất chúng chỉ đơn giản để mạng căn tự kết thúc. Kinh Tạng ủng hộ suy luận này bằng cách xử lý những hành động như vậy không theo giới luật này mà theo [Mv.VIII.26.3-4], nơi nó chỉ áp đặt dukkaṭa cho hành động từ chối điều trị hoàn toàn cho tỳ-kheo bệnh, hoặc ngừng toàn bộ chăm sóc cho tỳ-kheo bệnh trước khi vị đó bình phục hay chết. Điều này cho thấy các biên soạn viên của Kinh Tạng không coi những hành động này là cắt đứt mạng căn. ([Mv.VIII.26.8] liệt kê các đặc điểm lý tưởng của tỳ-kheo chăm sóc người bệnh, nhưng không áp đặt hình phạt cho tỳ-kheo chăm sóc người bệnh nhưng thiếu các phẩm chất lý tưởng; không ở đâu trong Kinh Tạng áp đặt mức độ chăm sóc bắt buộc cho người bệnh. Sự từ chối của các biên soạn viên trong việc quy định mức độ chăm sóc là sáng suốt. Nếu có trường hợp các tỳ-kheo không cảm thấy mức độ chăm sóc đó phù hợp với bệnh nhân của họ, họ sẽ chỉ có một lựa chọn: bỏ bệnh nhân, để chỉ phạm dukkaṭa và không phạm hình phạt tiềm tàng cao hơn vì không đáp ứng mức chăm sóc bắt buộc. Do đó, thay vì bảo vệ bệnh nhân, mức chăm sóc bắt buộc cao hơn sẽ khiến bệnh nhân bị bỏ rơi.) Vì lý do này, quyết định giữ lại hoặc ngừng một điều trị cụ thể—trong khi vẫn tiếp tục chăm sóc bệnh nhân—sẽ không là căn cứ cho tội vi phạm.
Tuy nhiên, nếu tỳ-kheo chăm sóc bệnh nhân hành động theo cách cắt đứt mạng căn của bệnh nhân, điều đó sẽ đáp ứng yếu tố nỗ lực ở đây. Vinīta-vatthu đưa ra điểm này với một loạt trường hợp trong đó các tỳ-kheo cho bệnh nhân các phương pháp điều trị thực sự có hại cho bệnh nhân. Trong các trường hợp mà các yếu tố khác để phạm giới hiện diện—các tỳ-kheo có ý định giết bệnh nhân, và bệnh nhân chết—các tỳ-kheo phạm tội đầy đủ. Trong một loạt trường hợp khác, tỳ-kheo cảm thấy thương xót bạn đang đau đớn nghiêm trọng ca ngợi những niềm vui đang chờ đợi vị đó sau cái chết. Một lần nữa, trong các trường hợp tỳ-kheo có ý định gây ra cái chết của bệnh nhân và bệnh nhân chết, tỳ-kheo phạm pārājika.
Để biết thêm về chủ đề chăm sóc y tế, xem [BMC2, Chương 5].
Trách nhiệm chung. Không giống như Vibhaṅga của giới luật trước, Vibhaṅga ở đây không thảo luận rõ ràng về vấn đề phân bổ hình phạt khi một nhóm tỳ-kheo hành động cùng nhau để thực hiện một vụ giết người nhưng chỉ một trong số họ ra đòn chí mạng. Tuy nhiên, Vinīta-vatthu chứa một loạt trường hợp trong đó các tỳ-kheo hành động như một nhóm để điều trị cho một tỳ-kheo bệnh với mục đích kết thúc sinh mạng của vị đó. Khi tỳ-kheo đó chết, tất cả họ đều phạm pārājika. Trong một trong các trường hợp, tỳ-kheo đó chết vì điều trị thuốc vào mũi, trong trường hợp khác vị đó chết vì ăn thức ăn. Không có văn bản nào thảo luận liệu tất cả các tỳ-kheo có luân phiên đưa ra liều lượng chí mạng hay không, hay chỉ một trong số các tỳ-kheo làm điều đó trong khi những người khác giúp chuẩn bị. Vì thu xếp kẻ ám sát sẽ đáp ứng yếu tố nỗ lực theo giới luật này, có vẻ hợp lý khi suy ra rằng hỗ trợ tích cực trong một vụ giết người cũng sẽ đáp ứng yếu tố đó, ngay cả khi người ta không ra đòn chí mạng. Từ suy luận này chúng ta có thể kết luận rằng thảo luận về trách nhiệm chung theo giới luật trước cũng sẽ áp dụng ở đây.
Kết quả
Yếu tố này được đáp ứng nếu, do hành động của tỳ-kheo, nạn nhân chết thông qua việc cắt đứt mạng căn của họ. Vì mạng căn là thứ chắc chắn kết thúc, cần xác định rõ ràng phạm vi ảnh hưởng từ hành động của tỳ-kheo nên được truy tìm đến mức nào để coi vị đó là có trách nhiệm về một cái chết.
Chú Giải xử lý vấn đề này bằng cách đặt ra hai kịch bản trong phần thảo luận về bẫy hầm của nó. Trong kịch bản đầu tiên, một nạn nhân dự định sống sót sau khi rơi vào bẫy hầm, trèo ra được, nhưng sau đó chết vì bệnh phát sinh từ vụ ngã. Trong trường hợp này, Chú Giải nói, yếu tố kết quả được đáp ứng. Điều tương tự cũng đúng nếu bệnh thuyên giảm chỉ để quay lại và lấy đi sinh mạng của nạn nhân nhiều năm sau đó. Tuy nhiên, nếu các biến chứng phát sinh từ bệnh, và nạn nhân chết vì kết hợp cả bệnh và biến chứng, thì nếu bệnh ban đầu là yếu tố chủ yếu trong cái chết, tỳ-kheo sẽ có trách nhiệm về cái chết của nạn nhân; nếu các biến chứng là yếu tố chủ yếu, vị đó sẽ không có trách nhiệm.
Trong kịch bản thứ hai, một nạn nhân dự định rơi vào bẫy hầm trong khi bị bọn cướp đuổi nhưng không chết trong vụ ngã. Thay vào đó, bọn cướp đuổi kịp, kéo người đó ra khỏi bẫy hầm, và giết người đó. Trong trường hợp này, tỳ-kheo vẫn có trách nhiệm về cái chết của nạn nhân vì bẫy hầm của vị đó đóng vai trò then chốt trong việc tạo điều kiện cho bọn cướp bắt và giết nạn nhân.
Chú Giải cũng xem xét một loại trường hợp khác liên quan đến yếu tố kết quả: Nếu tỳ-kheo có ý định gây ra cái chết của một nhóm người, thì khi bất kỳ thành viên nào của nhóm chết do nỗ lực của vị đó, Chú Giải nói rằng vị đó phạm pārājika. Nói cách khác, vị đó không phải hoàn thành ý định giết toàn bộ nhóm để đáp ứng yếu tố kết quả ở đây.
Các hình phạt phái sinh
Kinh Tạng giao hình phạt nhẹ hơn trong các trường hợp tỳ-kheo cố gắng gây ra cái chết của người bằng bất kỳ bốn phương tiện nào được đề cập trong giới luật này nhưng người đó không chết. Nếu người đó đau đớn hay bị thương do nỗ lực của tỳ-kheo, hình phạt là pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya. Nếu nỗ lực của tỳ-kheo không dẫn đến đau đớn hay cái chết, hình phạt là dukkaṭa cho mỗi hành động riêng lẻ liên quan trong nỗ lực đó.
Nếu tỳ-kheo chỉ có ý định làm thương nạn nhân hoặc gây đau đớn cho người đó, nhưng nạn nhân chết do hành động của tỳ-kheo, trường hợp được xử lý theo [Pc 74].
Có một mâu thuẫn rõ ràng trong Vinīta-vatthu liên quan đến hình phạt cho tỳ-kheo cố gắng giết một người nhưng lại giết một người khác. Trong một trường hợp, nó nói rằng tỳ-kheo có ý định giết X nhưng lại giết Y phạm pārājika. Trong trường hợp khác, nó kể về tỳ-kheo cho thuốc cho một phụ nữ muốn phá thai gần cuối thai kỳ đầy đủ. Người phụ nữ uống thuốc nhưng, thay vì thai bị sẩy, người phụ nữ chết và đứa trẻ sống sót. Trong trường hợp này, tỳ-kheo phạm pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya, có lẽ vì đau đớn gây ra cho đứa trẻ.
Chú Giải cố gắng giải quyết mâu thuẫn này bằng một minh họa: Một tỳ-kheo có thù oán với A quyết định phục kích hắn. Vị đó thấy B đi trên đường và, nhầm hắn với A, bắn chết hắn tại chỗ. Vì ý định của vị đó là giết người mình đang nhắm vào, vị đó phạm pārājika. Chúng ta có thể gọi đây là trường hợp nhầm lẫn danh tính. Trong các trường hợp loại này, việc người "đúng" hay người "sai" chết không ảnh hưởng đến tội vi phạm.
Tuy nhiên, nếu tỳ-kheo bắn kém, nhắm vào B nhưng bắn trượt, và vô tình giết C, vị đó không phạm pārājika, vì vị đó không có ý định giết C trong bất kỳ phần nào của hành động của mình. Hình phạt duy nhất của vị đó là các dukkaṭa phạm phải trong khi chuẩn bị giết B.
Các trường hợp đặc biệt
Vinīta-vatthu bao gồm ba trường hợp đặc biệt liên quan đến giới luật này nhưng đã truyền cảm hứng cho Đức Phật đặt ra các giới luật riêng để xử lý chúng một cách cụ thể:
1) Một tỳ-kheo, ngồi xuống mạnh trên một chiếc ghế mà không kiểm tra cẩn thận trước, giết một đứa trẻ đang nằm trong ghế được che bằng chăn—không có hình phạt cho cái chết, nhưng dukkaṭa vì ngồi xuống mà không kiểm tra cẩn thận trước.
2) Một số tỳ-kheo thuộc nhóm sáu vị, vì vui thích, ném một viên đá từ đỉnh núi và vô tình giết một người chăn bò trẻ đứng bên dưới—một lần nữa, không có hình phạt cho cái chết, nhưng dukkaṭa vì ném đá chơi. (Chú Giải nêu rằng "đá" ở đây cũng bao gồm gậy, gạch, và các vật tương tự; và rằng "ném" cũng bao gồm lăn. Nó cũng nêu rằng nếu tỳ-kheo có lý do chính đáng để ném hoặc lăn đá không phải để vui thích—ví dụ, vị đó đang tham gia công trình xây dựng và lăn một tảng đá cho người khác đang làm việc; vị đó đang ăn bữa và ném một mảnh gỗ để đuổi quạ hay chó—vị đó không phạm tội.)
3) Một tỳ-kheo, cảm thấy bị đè nặng và bất mãn, nhảy xuống từ vách đá. Thay vì chết, vị đó đáp xuống và giết một người đan rổ tội nghiệp đang đứng dưới chân vách đá—một lần nữa, không phạm tội cho cái chết, nhưng dukkaṭa vì nhảy xuống từ nơi cao. Giới luật này cho thấy các hành vi cố gắng tự tử—ngoài việc tìm kiếm kẻ ám sát, như đã đề cập trên đây—sẽ không thuộc giới luật chính ở đây, vì tỳ-kheo dường như đã cảm thấy đau khi đáp xuống người đan rổ, nhưng hình phạt chỉ là dukkaṭa. Nếu trường hợp được xử lý theo giới luật chính, vị đó đáng lẽ phải bị phạt pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya.
Chú Giải mở rộng từ trường hợp này để áp dụng dukkaṭa cho tất cả các hành vi cố gắng tự tử, kể cả quyết định không ăn khi có động cơ là mong muốn chết. Tuy nhiên, sau đó nó gặp phải câu hỏi về việc hình phạt này áp dụng đến mức nào cho một tỳ-kheo bệnh. Phán quyết của nó: Miễn là thuốc và người chăm sóc có sẵn cho vị đó, hình phạt vẫn áp dụng. Nhưng sau đó nó liệt kê hai trường hợp mà hình phạt sẽ không áp dụng: (a) Một tỳ-kheo đang bị bệnh lâu dài và nghiêm trọng, và các tỳ-kheo chăm sóc đã mệt mỏi với việc chăm sóc vị đó, nghĩ rằng, "Khi nào chúng tôi mới thoát khỏi người bệnh này?" Nếu tỳ-kheo suy nghĩ rằng, ngay cả với y tế, thân thể sẽ không kéo dài và các tỳ-kheo đang gặp khó khăn, vị đó không phạm tội khi từ chối thức ăn và thuốc. (b) Một tỳ-kheo—suy ngẫm rằng căn bệnh của mình nặng nề, sức sống đang cạn kiệt, nhưng các chứng đắc cao quý dường như trong tầm tay—có thể từ chối thức ăn và thuốc mà không phạm tội.
Những cân nhắc của Chú Giải ở đây cho thấy việc lập pháp trong lĩnh vực này khó khăn như thế nào, và có những lý do để nghi ngờ cách nó áp dụng Tiêu chuẩn Lớn ở đây. Trường hợp (b) rõ ràng được suy ra từ SN 4:23, nơi Ven. Godhika lấy mạng mình và đạt được quả A-la-hán ngay trước khi chết; và từ SN 35:87, nơi Đức Phật nói rằng người đặt xuống thân này mà không nhận thân khác thì chết không đáng trách. Tuy nhiên, khi đưa ra phán quyết trong trường hợp này, Chú Giải phải thêm các yếu tố động cơ và nhận thức vào phương trình, những yếu tố không có trong giới luật mà phán quyết dựa vào. Nó cũng để lại không trả lời câu hỏi về căn bệnh phải nặng nề đến mức nào, và các chứng đắc được kỳ vọng gần đến mức nào, để đủ điều kiện cho sự miễn trừ này.
Điều tương tự cũng đúng với trường hợp (a), liên quan đến lý luận thậm chí còn đáng ngờ hơn. Phán quyết của Chú Giải ở đây không có tiền lệ rõ ràng trong Kinh Tạng; không có ranh giới rõ ràng để quyết định căn bệnh phải xấu đến mức nào và người chăm sóc phải mệt mỏi đến mức nào để trường hợp này áp dụng; và tại sao cảm xúc của người khác lại quyết định khi nào việc từ chối thức ăn là được phép hay không?
Đáng chú ý là câu chuyện nguồn gốc của giới luật ban đầu ở đây đã cho Đức Phật cơ hội, nếu ngài muốn, để đặt ra một giới luật chung chống lại các hành vi cố gắng tự tử, nhưng ngài đã chọn không làm vậy. Sau đó ngài chỉ đặt ra giới luật bổ sung này khi một tỳ-kheo cố gắng tự tử theo cách nguy hiểm đến sinh mạng và sự an toàn của người khác. Do đó, một cách thích hợp hơn để áp dụng Tiêu chuẩn Lớn cho giới luật bổ sung này là chỉ mở rộng nó đến các trường hợp loại đó: nơi hành vi cố gắng tự tử của tỳ-kheo sẽ gây nguy hiểm cho sinh mạng và thân thể của người khác.
Đối với các cách cố gắng tự tử không gây nguy hiểm cho người khác, có vẻ tốt hơn là theo trí tuệ của Đức Phật trong việc không lập pháp về vấn đề này chút nào, và xử lý nó như một vấn đề của Giáo Pháp hơn là Luật. Nói cách khác, nên luôn ghi nhớ lời bình luận của ngài trong SN 35:87 rằng cái chết duy nhất không đáng trách là cái chết của một vị A-la-hán. Nếu, thiếu chứng đắc đó, người ta chọn từ chối thức ăn khi bệnh để đẩy nhanh cái chết của mình, người ta nên thận trọng về những rủi ro mà cái chết và tái sinh có thể liên quan.
Không phạm giới
Như đã nêu trên đây, không có tội vi phạm đối với tỳ-kheo giết người không cố ý, không biết, hoặc không nhắm đến cái chết.
Về các miễn trừ tiêu chuẩn, phiên bản Thái liệt kê tất cả bốn loại theo giới luật này: tỳ-kheo điên loạn, bị linh hồn nhập, mê sảng vì đau đớn, và những người vi phạm đầu tiên (trong trường hợp này, một số tỳ-kheo thuộc nhóm sáu vị, trong một phần tiếp theo của câu chuyện nguồn gốc, mô tả những lợi ích của cái chết cho một người đàn ông có vợ đẹp, với hy vọng rằng ông ta sẽ tự tử để vợ ông có thể là của họ; ông ta đã tự tử, nhưng người vợ đã tố cáo họ). Các phiên bản khác của Kinh Tạng bỏ qua miễn trừ cho tỳ-kheo bị linh hồn nhập hay mê sảng vì đau đớn. Chú Giải đề cập đến các miễn trừ tiêu chuẩn như một tập hợp đơn giản với từ "điên loạn, v.v." Có lý do để tin rằng nếu hai miễn trừ này bị thiếu vào thời của Chú Giải, nó đã ghi chú sự vắng mặt của chúng.
Tóm tắt: Cố ý gây ra cái chết của một con người, ngay cả khi đó vẫn là phôi thai—dù bằng cách giết người đó, thu xếp kẻ ám sát giết người đó, xúi giục người đó chết, hoặc mô tả những lợi ích của cái chết—là tội vi phạm pārājika (ba-la-di).
Nếu bất kỳ tỳ-kheo (bhikkhu) nào, không có trực tiếp tri kiến, lại tự nhận về bản thân mình một trạng thái vượt trội của con người, một tri kiến và tầm nhìn thực sự cao quý, rằng "Tôi biết như vậy; tôi thấy như vậy," đến mức dù có hay không bị thẩm vấn về sau, vị ấy — trong tâm trạng hối hận và mong muốn thanh tịnh — có thể nói rằng, "Thưa các bạn, không biết mà tôi nói là tôi biết; không thấy mà tôi nói là tôi thấy — một cách vô ích, sai lầm, khinh suất," trừ phi xuất phát từ sự đánh giá quá cao về bản thân, vị ấy cũng bị thất bại và không còn được cộng trú nữa.
Tất cả mọi lời nói dối có ý thức đều bị cấm bởi giới pācittiya (ba-dật-đề) đầu tiên, nhưng cố ý tự nhận một trạng thái vượt trội của con người một cách sai lầm là một trong những lời nói dối nghiêm trọng nhất mà một tỳ-kheo có thể nói, vì vậy ở đây nó được quy định thành một giới riêng và chịu hình phạt nặng nhất có thể.
Mức độ nghiêm trọng mà Đức Phật coi sự vi phạm quy tắc tu học này được thể hiện qua lời nói của Ngài với những người khởi xướng ban đầu:
"Này những kẻ vô giá trị, làm sao các ông vì bụng dạ của mình lại ca ngợi các trạng thái vượt trội của con người với nhau trước mặt các gia chủ? Thà rằng bụng các ông bị rạch mổ bằng một con dao mổ sắc bén còn hơn là vì bụng dạ mà ca ngợi các trạng thái vượt trội của con người với nhau trước mặt các gia chủ. Tại sao vậy? Vì lý do đó, các ông sẽ phải chịu cái chết hoặc đau khổ như cái chết, nhưng vì điều đó, sau khi thân xác tan rã, sau khi chết, các ông sẽ không rơi vào cảnh giới khốn khổ, đích đến xấu ác, cảnh giới thấp kém, địa ngục. Nhưng vì lý do này, sau khi thân xác tan rã, sau khi chết, các ông sẽ rơi vào cảnh giới khốn khổ, đích đến xấu ác, cảnh giới thấp kém, địa ngục.... Này các tỳ-kheo, trong thế giới này với chư thiên, ma vương và phạm thiên, với các thế hệ gồm bà-la-môn và các tu sĩ, vua chúa và người thường, đây là tên đại đạo tặc tối thượng: kẻ tự nhận một trạng thái vượt trội của con người không có thật, không tồn tại. Tại sao vậy? Các ông đã tiêu thụ vật thực khất thực của quốc gia bằng cách trộm cắp."
Tội phạm đầy đủ theo giới luật này có bốn yếu tố.
1) Đối tượng: một trạng thái vượt trội của con người.
2) Nhận thức: Người đó nhận thức rằng trạng thái đó không có trong bản thân mình.
3) Nỗ lực: Người đó nói với một người, đề cập đến trạng thái đó liên quan đến bản thân mình — hoặc là trạng thái đó ở trong bản thân mình, hoặc bản thân mình ở trong trạng thái đó.
4) Ý định: với ý định xuyên tạc sự thật, được thúc đẩy bởi ác dục.
Các sớ giải thêm yếu tố thứ năm — kết quả — rằng người nghe phải hiểu những gì người đó nói thì mới có tội phạm đầy đủ, nhưng như chúng ta sẽ thấy bên dưới, yếu tố này có vẻ dựa trên một sự đọc sai Vibhaṅga (Phân tích giới).
#Đối tượng (Object)
Vibhaṅga liệt kê nhiều trạng thái vượt trội của con người, định nghĩa chúng như sau:
thiền định (jhāna): bốn tầng thiền;
giải thoát (vimokkha): giải thoát qua tính không (suññatā), giải thoát qua vô tướng (animitta), và giải thoát qua vô nguyện (appaṇihita);
định (samādhi): định tính không, định vô tướng, và định vô nguyện;
các tầng chứng đắc thiền định (samāpatti): chứng đắc tính không, chứng đắc vô tướng, và chứng đắc vô nguyện;
tri kiến (ñāṇa-dassanā): tri kiến về các kiếp sống quá khứ, tri kiến về sự qua đời và tái sinh của các chúng sinh, và tri kiến về sự chấm dứt các lậu hoặc (āsava);
tu tập đạo lộ (magga-bhāvanā): 37 phẩm Trợ đạo (bodhipakkhiya-dhamma) — bốn nền tảng chánh niệm, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, và bát chánh đạo;
chứng ngộ các quả thánh (phala-sacchikiriya): quả vị Nhập lưu (Tu-đà-hoàn), quả vị Nhất lai (Tư-đà-hàm), quả vị Bất lai (A-na-hàm), và quả vị A-la-hán;
sự từ bỏ phiền não (kilesappahāna): sự từ bỏ tham, sân, và si;
sự thoát khỏi chướng ngại của tâm (vinīvaraṇatā cittassa): tâm không bị cản trở bởi tham, sân, và si; và
sự vui thú trong trú xứ vắng vẻ (suññāgāre abhirati): sự vui thú trong trú xứ vắng vẻ xuất phát từ bốn tầng thiền.
Sớ giải phân loại các trạng thái này thành hai nhóm lớn: mahaggata dhamma — các trạng thái "mở rộng" hay "bành trướng" — liên quan đến việc tu tập thiền định; và lokuttara dhamma — các trạng thái siêu thế — liên quan đến sự diệt trừ hoàn toàn các kiết sử trói buộc tâm vào vòng luân hồi.
a. Mahaggata dhamma
Các bài kinh mô tả bốn tầng thiền như sau:
"Ở đây, có trường hợp một tỳ-kheo — hoàn toàn ly dục, ly các bất thiện pháp — nhập và trú trong thiền thứ nhất: hỷ và lạc sinh từ ly dục, có tầm có tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy và lan tỏa toàn thân với hỷ và lạc sinh từ ly dục này....
"Và hơn nữa, với sự tịnh chỉ của tầm và tứ, vị ấy nhập và trú trong thiền thứ hai: hỷ và lạc sinh từ định, nhất tâm không có tầm không có tứ — nội tâm tịnh tín. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy và lan tỏa toàn thân với hỷ và lạc sinh từ định....
"Và hơn nữa, với sự phai nhạt của hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, và thể nghiệm lạc bằng thân. Vị ấy nhập và trú trong thiền thứ ba, và về vị ấy, các bậc thánh tuyên bố, 'Xả và chánh niệm, vị ấy có trú xứ an lạc.' Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy và lan tỏa toàn thân với lạc đã tách ly khỏi hỷ....
"Và hơn nữa, với sự từ bỏ lạc và khổ — cùng với sự biến mất trước đó của hỷ và ưu — vị ấy nhập và trú trong thiền thứ tư: xả thanh tịnh và chánh niệm, không khổ không lạc. Vị ấy ngồi thấm nhuần toàn thân với tâm thuần tịnh sáng suốt, đến mức không có gì trong toàn thân của vị ấy không được thấm nhuần bởi tâm thuần tịnh sáng suốt." — [DN 2]; [MN 119]; [AN 5:28]
Sớ giải lưu ý rằng bốn trạng thái vô sắc — điều mà Tạng kinh gọi là "các vô sắc vượt qua sắc," và Sớ giải gọi là "các tầng thiền vô sắc" — dựa trên thiền thứ tư, và do đó cũng được tính là các trạng thái vượt trội của con người. Tạng kinh mô tả chúng như sau:
"Với sự vượt qua hoàn toàn các tưởng về sắc, với sự diệt tận các tưởng về sự chống cự, và không tác ý các tưởng về đa dạng, (nhận biết,) 'Không gian vô biên,' vị ấy nhập và trú trong không vô biên xứ....
"Với sự vượt qua hoàn toàn không vô biên xứ, (nhận biết,) 'Thức vô biên,' vị ấy nhập và trú trong thức vô biên xứ....
"Với sự vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, (nhận biết,) 'Không có gì,' vị ấy nhập và trú trong vô sở hữu xứ....
"Với sự vượt qua hoàn toàn vô sở hữu xứ, vị ấy nhập và trú trong phi tưởng phi phi tưởng xứ." — [DN 15]
Trạng thái thứ năm, diệt thọ tưởng định, đạt được bằng cách vượt qua phi tưởng phi phi tưởng xứ, và tất cả những ai đạt được trạng thái này đều trở thành hoặc Bất lai (A-na-hàm) hoặc A-la-hán. Sớ giải lập luận rằng trạng thái này không được tính là trạng thái vượt trội của con người, dựa trên lý do kỹ thuật rằng nó không phải là thế gian (lokiya) cũng không phải là siêu thế, nhưng không có gì trong Tạng kinh chỉ ra rằng một trạng thái vượt trội của con người phải rõ ràng là loại này hay loại kia. Sử dụng lý luận của chính Sớ giải về bốn trạng thái vô sắc — rằng chúng dựa trên thiền thứ tư — lập luận tương tự có thể được sử dụng để bao gồm cả diệt thọ tưởng định như một trạng thái vượt trội của con người.
Từ việc đưa ba minh vào danh sách của Vibhaṅga, Sớ giải đặt ra vấn đề liệu năm trong số tám loại tri kiến còn lại có nên được bao gồm hay không. Ba minh, như được mô tả trong [DN 2], là:
Túc mạng minh (pubbenivāsānusati-ñāṇa): "Vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống quá khứ của mình, tức là một kiếp sinh, hai kiếp sinh, ba kiếp sinh, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn, nhiều kiếp co lại của vũ trụ, nhiều kiếp giãn nở của vũ trụ, nhiều kiếp co lại và giãn nở của vũ trụ, (nhớ lại,) 'Ở đó, tôi có tên như vậy, thuộc dòng tộc như vậy, có hình dạng như vậy. Thức ăn của tôi như vậy, sự trải nghiệm vui và khổ của tôi như vậy, sự chấm dứt cuộc đời tôi như vậy. Từ trạng thái đó, tôi tái sinh ở đó. Ở đó tôi cũng có tên như vậy, thuộc dòng tộc như vậy, có hình dạng như vậy. Thức ăn của tôi như vậy, sự trải nghiệm vui và khổ của tôi như vậy, sự chấm dứt cuộc đời tôi như vậy. Từ trạng thái đó, tôi tái sinh ở đây.' Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống quá khứ của mình theo các hình thức và chi tiết của chúng."
Thiên nhãn minh (cutūpapāta-ñāṇa): "Bằng thiên nhãn, thanh tịnh và vượt trội hơn mắt người, vị ấy nhìn thấy các chúng sinh đang qua đời và tái sinh, và vị ấy phân biệt rằng họ thấp kém và cao quý, đẹp và xấu, may mắn và bất hạnh tùy theo nghiệp của họ: 'Những chúng sinh này — được phú bẩm với hành vi xấu về thân, lời nói và tâm ý, những người đã phỉ báng các bậc thánh, những người nắm giữ tà kiến và thực hiện các hành động dưới ảnh hưởng của tà kiến — sau khi thân xác tan rã, sau khi chết, đã tái sinh trong cảnh giới khốn khổ, đích đến xấu ác, cảnh giới thấp kém, địa ngục. Nhưng những chúng sinh này — được phú bẩm với hành vi tốt về thân, lời nói và tâm ý, những người không phỉ báng các bậc thánh, những người nắm giữ chánh kiến và thực hiện các hành động dưới ảnh hưởng của chánh kiến — sau khi thân xác tan rã, sau khi chết, đã tái sinh trong đích đến tốt lành, cõi trời.' Như vậy — bằng thiên nhãn, thanh tịnh và vượt trội hơn mắt người — vị ấy nhìn thấy các chúng sinh đang qua đời và tái sinh, và vị ấy phân biệt rằng họ thấp kém và cao quý, đẹp và xấu, may mắn và bất hạnh tùy theo nghiệp của họ."
Lậu tận minh (āsavakkhaya-ñāṇa): "Vị ấy hiểu rõ, đúng như thực, rằng 'Đây là khổ.... Đây là nguyên nhân sinh khởi của khổ.... Đây là sự chấm dứt khổ.... Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ.... Đây là các (tâm) lậu hoặc.... Đây là nguyên nhân sinh khởi của các lậu hoặc.... Đây là sự chấm dứt các lậu hoặc.... Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt các lậu hoặc.' Tâm của vị ấy, với sự hiểu biết như vậy, với sự thấy biết như vậy, được giải thoát khỏi lậu hoặc dục lậu, lậu hoặc hữu lậu, lậu hoặc vô minh lậu. Với sự giải thoát, có tri kiến: 'Đã giải thoát.' Vị ấy hiểu rằng 'Sinh đã đoạn, phạm hạnh đã viên mãn, việc cần làm đã làm xong. Không còn gì nữa cho thế gian này.'"
Hai minh đầu tiên trong số này, dù là một phần trong sự Giác ngộ của Đức Phật, đều thuộc thế gian, ở chỗ mọi người có thể phát triển chúng mà không nhất thiết đạt được bất kỳ đạo và quả siêu thế nào. Do đó, chúng thuộc phạm trù mahaggata dhamma, vì chúng dựa trên việc chứng đắc thiền định hoặc trong kiếp này hoặc trong kiếp trước. Tuy nhiên, minh thứ ba — vì nó mô tả sự sinh khởi của các đạo và quả siêu thế — thuộc phạm trù lokuttara dhamma, và là minh duy nhất trong số tám minh thuộc loại này.
[DN 2] mô tả năm minh còn lại như sau:
Tuệ quán (vipassanā-ñāṇa): "Vị ấy thấu suốt: 'Thân này của tôi được phú bẩm với sắc, được cấu thành bởi bốn đại, được sinh ra từ cha và mẹ, được nuôi dưỡng bằng gạo và cháo, chịu sự vô thường, cọ xát, ép ngặt, tan rã và phân tán. Và tâm thức của tôi được nương tựa ở đây và gắn kết ở đây.'"
Thân do tâm tạo (manomayiddhi): "Từ thân này, vị ấy tạo ra một thân khác, được phú bẩm với sắc, được tạo từ tâm, hoàn chỉnh trong tất cả các phần của nó, không kém về các căn, cũng như người ta có thể rút một cây sậy ra khỏi vỏ bọc của nó."
Thần túc (iddhividhī): "Vị ấy thể hiện các thần lực phi thường đa dạng. Từ một người, vị ấy trở thành nhiều người; từ nhiều người, vị ấy trở thành một người. Vị ấy xuất hiện. Vị ấy biến mất. Vị ấy đi qua tường, bờ lũy và núi mà không bị cản trở như thể qua không gian. Vị ấy đào vào và trồi lên từ đất như thể đó là nước. Vị ấy đi trên nước mà không chìm xuống như thể đó là đất khô. Ngồi kiết già, vị ấy bay qua không trung như một con chim có cánh. Bằng tay, vị ấy chạm và vuốt cả mặt trời và mặt trăng, vốn rất hùng mạnh và quyền uy. Vị ấy thực hiện ảnh hưởng bằng thân ngay đến tận cõi Phạm thiên."
Thiên nhĩ (dibba-sota): "Bằng thiên nhĩ, thanh tịnh và vượt trội hơn tai người, vị ấy nghe — cả hai loại âm thanh: thiêng liêng và người thường, dù gần hay xa."
Tha tâm thông (cetopariya-ñāṇa): "Vị ấy biết tâm thức của các chúng sinh khác, của các cá nhân khác, sau khi bao quát nó bằng tâm thức của mình. Vị ấy nhận biết tâm có tham là tâm có tham, và tâm không có tham là tâm không có tham (v.v.)."
Sớ giải lập luận rằng tất cả các loại tri kiến này ngoại trừ vipassanā-ñāṇa đều được tính là các trạng thái vượt trội của con người. Sớ giải không giải thích tại sao loại trừ vipassanā-ñāṇa khỏi danh sách, mặc dù có lẽ là theo quan niệm phổ biến vào thời đó, rằng vipassanā-ñāṇa không cần thiền định làm nền tảng, dù Tạng kinh rõ ràng liệt kê ñāṇa này — như một điều khác biệt với vipassanā như một phẩm chất tâm thức chung hơn của sự thấy rõ — là phụ thuộc vào thiền định.
Có những khả năng huyền bí khác không dựa trên thiền định và vì lý do này không được tính là mahaggata dhamma: những thứ như bói toán, trao bùa hộ mệnh, đặt phép nguyền rủa, chữa bệnh bằng tâm linh, hành nghề đồng cốt, v.v. Các bài kinh liệt kê những hoạt động này và các hoạt động tương tự khác là tiracchāna-vijjā, tri thức thú vật, loại tri thức — như tên gọi hàm ý — xa rời các trạng thái vượt trội của con người. (Xem [BMC2, Chương 10].)
b. Lokuttara dhamma
Lokuttara dhamma theo nghĩa đầy đủ nhất, đề cập đến loạt các trạng thái tâm thức, được gọi là các đạo và quả, trong đó các kiết sử trói buộc tâm vào vòng luân hồi được nhổ bật gốc; và đến trạng thái tối thượng của nibbāna (Niết-bàn), hay giải thoát.
Các đạo và quả xảy ra thành bốn cặp. Trong cặp đầu tiên, đạo và quả Nhập lưu, ba kiết sử được từ bỏ: thân kiến (sakkāya-diṭṭhi), nghi (vicikicchā), và giới cấm thủ (silabbata-parāmāsa). Trong cặp thứ hai — đạo và quả Nhất lai — tham, sân, và si bị suy yếu, nhưng không có thêm kiết sử nào bị cắt đứt. Trong cặp thứ ba, đạo và quả Bất lai, hai kiết sử bổ sung bị từ bỏ: dục ái (kāma-rāga) và sân (paṭigha); và trong cặp thứ tư, đạo và quả A-la-hán, năm kiết sử: rūpa-rāga — ái sắc (ví dụ, các đối tượng của sắc thiền); arūpa-rāga — ái vô sắc (ví dụ, các đối tượng của vô sắc thiền); māna — mạn; uddhacca — trạo cử; và avijjā — vô minh. Với sự cắt đứt bộ kiết sử cuối cùng này, tất cả các mối liên kết với vòng luân hồi bị cắt đứt hoàn toàn, và tâm đạt được nibbāna.
Thuật ngữ nibbāna theo nghĩa đen có nghĩa là dập tắt, như dập tắt một ngọn lửa. Giải thích của sớ giải về thuật ngữ này phù hợp nhất với cách sử dụng trong Tạng kinh được tìm thấy tại Vism.VIII,247, nơi Buddhaghosa dẫn xuất từ nguyên học từ nir, một tiền tố phủ định, và vāna, trói buộc: do đó, không trói buộc hay giải thoát. Trong vật lý học thời của Đức Phật, lửa khi đang cháy được nói là ở trạng thái kích động, lệ thuộc, dính mắc và bị bẫy — vừa bám víu vào vừa bị bẫy bởi vật liệu cháy của nó. Khi tắt, nó được nói là trở nên bình lặng, độc lập và không dính mắc. Nó buông bỏ vật liệu cháy và được giải thoát. Trong sự dập tắt của tâm thức, hay không trói buộc, một sự thay đổi tương tự xảy ra.
Nibbāna là một; các đạo và quả của chúng là tám. Vì vậy, có chín lokuttara dhamma. Mặc dù Vibhaṅga chỉ đề cập rõ ràng bốn quả thánh siêu thế trong danh sách các trạng thái vượt trội của con người, Sớ giải lập luận rằng năm phần còn lại cũng đủ điều kiện một cách ngầm ẩn. Có sự hỗ trợ cho lập luận của Sớ giải ở chỗ Vibhaṅga bao gồm bát chánh đạo trong danh sách, và SN 55:5 đồng nhất đạo lộ này với dòng.
Sớ giải phân loại ba loại định và giải thoát trong danh sách của Vibhaṅga — tính không, vô tướng, và vô nguyện — là tương đương với các đạo siêu thế, và ba chứng đắc tương ứng là các quả siêu thế. Tuy nhiên, một đoạn trong [MN 121] chỉ ra rằng ít nhất định vô tướng sẽ được tính là mahaggata dhamma vì nó có thể đạt được mà không cần tuệ quán đầy đủ về bản chất được tạo tác của nó, và sự phân loại tương tự có thể áp dụng cho cả ba loại định và giải thoát này. Tuy nhiên, bất kể chúng thuộc loại nào, chúng đều là các trạng thái vượt trội của con người. Đối với các phẩm Trợ đạo, Sớ giải cho rằng chúng chỉ được tính là các trạng thái vượt trội của con người khi được tu tập đến mức độ bất kỳ đạo siêu thế nào. Sớ giải cũng thêm rằng bất kỳ chứng đắc nào tương đương với một lokuttara dhamma — chẳng hạn như sự thấu hiểu hoàn toàn về bốn thánh đế — cũng sẽ đáp ứng yếu tố đối tượng ở đây.
#Nhận thức (Perception)
Tự nhận một trạng thái vượt trội của con người mà người đó nhầm tưởng mình đã đạt được không phải là tội phạm theo giới luật này, mặc dù nếu được nói với một cư sĩ thì sẽ thuộc [Pc 8]. Điều tương tự cũng áp dụng cho một lời tự nhận thực sự là đúng.
Tuy nhiên, có câu hỏi về tội phạm nào sẽ xảy ra với một tỳ-kheo đã đạt được một trạng thái vượt trội của con người — chẳng hạn như thiền thứ nhất — mà không nhận ra sự thật, và sau đó tự nhận đã đạt được nó, nghĩ rằng lời nói của mình là sai. Vibhaṅga định nghĩa không tồn tại là "không thể tìm thấy; không biết, không thấy một thiện pháp trong bản thân mình, (nhưng vẫn nói rằng,) 'Có một thiện pháp trong tôi.'" Ngoài ra, dưới yếu tố ý định, Vibhaṅga nêu rằng việc xuyên tạc quan điểm hay ý kiến của mình sẽ đáp ứng yếu tố đó. Điều này ngụ ý rằng một trạng thái vượt trội của con người sẽ được tính là không tồn tại nếu người đó không thấy nó là tồn tại. Nếu người đó sau đó xuyên tạc quan điểm của mình với người khác, tự nhận trạng thái là tồn tại, người đó sẽ đáp ứng các yếu tố của tội phạm đầy đủ ở đây.
Không giống như Vibhaṅga với [Pc 1], Vibhaṅga của giới luật này không xem xét trường hợp một tỳ-kheo, còn nghi ngờ về sự chứng đắc của mình, lại phát biểu điều đó như một sự thật chắc chắn. Điều này gợi ý rằng những người biên soạn Vibhaṅga xem tội phạm đầy đủ ở đây là chỉ áp dụng cho các trường hợp mà một tỳ-kheo biết không nghi ngờ gì rằng lời tự nhận của mình về một trạng thái vượt trội của con người là không đúng. Từ đây có thể suy ra rằng nếu còn nghi ngờ về sự chứng đắc một trạng thái như vậy mà vẫn khẳng định chắc chắn về điều đó, người đó sẽ phạm một pācittiya theo [Pc 1].
#Nỗ lực (Effort)
Theo Vibhaṅga, một lời tuyên bố đề cập đến bản thân trong mối liên hệ với một trạng thái vượt trội của con người là một lời tuyên bố chỉ ra rằng trạng thái đó có trong bản thân mình hoặc bản thân mình có trong trạng thái đó. Một lời tuyên bố như vậy chỉ đáp ứng yếu tố này nếu nó đề cập rõ ràng đến bản thân, mặc dù sự đề cập đến trạng thái có thể là rõ ràng hay ngầm ẩn. Đề cập rõ ràng đến trạng thái sẽ bao gồm việc nói những điều như, "Tôi đã đạt được thiền thứ nhất," "Tôi đã thấy cõi trời," "Tôi biết các kiếp sống trước của mình." Ví dụ của Vibhaṅga về đề cập ngầm ẩn đến một trạng thái là lời tuyên bố, "Tôi vui thích trong một trú xứ vắng vẻ," hàm ý là sự vui thích của người đó đến từ việc đạt được thiền định. Hiện nay, nhiều cộng đồng thiền định đã phát triển thành ngữ riêng của họ để mô tả các chứng đắc vượt trội của con người — một trong số đó là "Tôi không có nghi ngờ gì về lời dạy của Đức Phật" như một cách tuyên bố quả Nhập lưu — và, trong bối cảnh của các cộng đồng như vậy, các thành ngữ loại này cũng sẽ được tính là đề cập ngầm ẩn. Như chúng ta sẽ thấy trong phần thảo luận về ý định, loại lời tuyên bố này chỉ phạm tội nếu người đó có ý nghĩa ngầm ẩn.
Một lời tuyên bố trong đó người đó đề cập đến bản thân — thay vì trạng thái — một cách ngầm ẩn trong mối liên hệ với một trạng thái vượt trội của con người không phải là căn cứ để phạm pārājika. Nếu đó là một lời nói dối có chủ ý, nó cấu thành một pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya hoặc một dukkaṭa. Vì căn cứ để xác định tội phạm trong trường hợp này là một vấn đề gây tranh cãi, chúng ta sẽ thảo luận chúng riêng biệt, dưới phần Hiểu biết, bên dưới.
Từ lời tuyên bố ở đây bao gồm không chỉ các lời tuyên bố bằng lời nói mà còn cả các lời tuyên bố bằng văn bản và các cử chỉ thể chất. Một ví dụ về lời tự nhận bằng cử chỉ xảy ra trong Vibhaṅga: Một nhóm tỳ-kheo thỏa thuận với nhau rằng người đầu tiên rời khỏi trú xứ của họ sẽ, bằng chính cử chỉ đó, được những người còn lại biết đến như một vị A-la-hán. Một trong nhóm, không phải là A-la-hán nhưng muốn được coi là một vị, đã rời khỏi trú xứ đầu tiên và khi làm như vậy đã phạm một pārājika. Hiện nay, một lời tự nhận bằng văn bản cũng sẽ đáp ứng yếu tố nỗ lực ở đây.
Vibhaṅga xác định rằng lời tuyên bố đáp ứng yếu tố này dù được nói với đàn ông hay đàn bà, cư sĩ hay xuất gia. Vinīta-vatthu chứa hai trường hợp trong đó các tỳ-kheo, ngồi một mình, đưa ra các lời tuyên bố sai về các trạng thái vượt trội của con người. Trong trường hợp đầu, người vi phạm bị một tỳ-kheo khác có khả năng đọc tâm quở trách; trong trường hợp thứ hai, người vi phạm bị một thiên nhân quở trách. Trong cả hai trường hợp, Đức Phật áp đặt một dukkaṭa cho những người vi phạm. Do đó, Sớ giải và K/Sớ giải kết luận rằng một lời tuyên bố đề cập đến bản thân trong mối liên hệ với một trạng thái vượt trội của con người phải được hướng đến một người nghe là con người thì mới đáp ứng yếu tố nỗ lực ở đây. Nếu người đó đưa ra lời tuyên bố như vậy một mình hoặc hướng nó đến một con thú bình thường hay một thiên nhân, người đó chỉ phạm một dukkaṭa.
Những người khởi xướng ban đầu của giới luật này, thay vì tự nhận về chứng đắc của mình, lại đưa ra lời tuyên bố sai về chứng đắc của nhau. Trường hợp này không được đề cập trong giới luật, Vibhaṅga, hay các sớ giải, và do đó không phải là tội phạm theo giới luật này, nhưng nó sẽ thuộc [Pc 1].
Sớ giải đặt ra một câu hỏi không được đề cập trong Vibhaṅga: Đề cập đến một trạng thái trong mối liên hệ với bản thân có bao gồm các lời tự nhận về chứng đắc trong các kiếp sống trước của mình không? Không giải thích lý luận của mình, Sớ giải chỉ đơn giản nói Không: Trong mối liên hệ với bản thân chỉ áp dụng cho các uẩn hiện tại và không áp dụng cho các uẩn quá khứ. Đối với các mahaggata dhamma, có thể đưa ra một lời tự nhận về chứng đắc trong kiếp trước mà không áp dụng cho trạng thái hiện tại của mình, vì sự thật đơn giản là người đó có thể đã đạt được thiền định trong một kiếp trước không có ý nghĩa gì liên quan đến kiếp sống hiện tại. Loại chứng đắc đó không nhất thiết được truyền từ kiếp này sang kiếp khác. Đối với các lokuttara dhamma, tuy nhiên, sự thật là người đó có thể đã đạt được quả Nhập lưu trong một kiếp trước sẽ có ý nghĩa đối với kiếp sống hiện tại: Người đó được định sẵn đạt được ít nhất quả Nhập lưu một lần nữa trước khi chết, điều này đặt người đó ở mức độ của một tín tùy hành hay một pháp tùy hành, "người đã bước vào thứ tự của sự ngay thẳng, bước vào cảnh giới của những người có phẩm cách, vượt qua cảnh giới của người tầm thường" ([SN 25:1]). Điều này tương đương với đạo Nhập lưu. Vì vậy, có vẻ hợp lý khi nói rằng một lời tự nhận về một mahaggata dhamma đạt được trong một kiếp trước sẽ không đáp ứng yếu tố nỗ lực ở đây, trong khi một lời tự nhận về một lokuttara dhamma đạt được trong một kiếp trước sẽ như vậy. Và, tất nhiên, nếu một tỳ-kheo tự nhận sai rằng hiện tại biết về các kiếp sống trước, điều đó sẽ đáp ứng yếu tố này một cách rõ ràng.
#Ý định (Intention)
Để phạm tội theo giới luật này, lời tuyên bố phải (1) có ý định xuyên tạc sự thật và (2) được thúc đẩy bởi ác dục.
Theo Vibhaṅga, một lời tuyên bố có ý định xuyên tạc sự thật có thể được đặc trưng theo bảy cách (§): Trước khi đưa ra, người đó biết rằng đó là một lời nói dối; trong khi đưa ra, người đó biết rằng đó là một lời nói dối; sau khi đưa ra, người đó biết rằng đó là một lời nói dối; người đó xuyên tạc quan điểm của mình; người đó xuyên tạc ý kiến của mình; người đó xuyên tạc sự chấp thuận của mình; và người đó xuyên tạc trạng thái của mình. Sớ giải tập trung vào đặc trưng đầu tiên trong số này là thiết yếu: Người đó phải biết trước khi đưa ra lời tuyên bố rằng nó sẽ là một lời nói dối. Nếu người đó không nhận ra điều đó trước mà chỉ nhận thấy khi đang đưa ra hoặc ngay sau khi đưa ra, nó chỉ được tính là một sự vô tình nói nhầm, và do đó — như đã thảo luận trong [Pc 1] — không phải là một lời nói dối có chủ ý. Khi không có ý định xuyên tạc sự thật, lời tuyên bố không thuộc giới luật này. Ví dụ, nếu người đó có ý định nói điều gì đó không liên quan đến một trạng thái vượt trội của con người nhưng vô tình nói ra điều gì đó có vẻ như là lời tự nhận về trạng thái như vậy, người đó không phạm tội gì.
Các ví dụ khác về không có ý định xuyên tạc sự thật xuất hiện trong một loạt các trường hợp trong Vinīta-vatthu nơi các tỳ-kheo được miễn tội theo giới luật này vì họ "không có ý định khoe khoang." Vibhaṅga không đưa ra định nghĩa chính xác về cụm từ này, nhưng các trường hợp được đề cập cho thấy khá rõ ý nghĩa của nó. Tất cả chúng đều liên quan đến các lời tuyên bố mà sự đề cập đến một trạng thái vượt trội của con người chỉ là ngầm ẩn. Trong một số trường hợp, các tỳ-kheo bị bệnh được hỏi — như thường thấy trong thời Đức Phật — "Bạn có những trạng thái vượt trội của con người nào không (§)?" mục đích là — nếu họ có chứng đắc như vậy — để tập trung tâm trí họ vào đó; và nếu không, để hướng nỗ lực của họ vào việc đạt được chứng đắc như vậy trước khi bệnh tình trở nên tệ hơn. Các tỳ-kheo bị bệnh phản hồi bằng nhiều cách khác nhau mà trên bề mặt trông giống như sự quanh co. Họ không có bất kỳ chứng đắc vượt trội nào của con người, nhưng không muốn tạo ấn tượng rằng họ chưa đạt được gì, nên họ nói những điều như, "Một trạng thái cần được thức tỉnh thông qua sự thức tỉnh của tinh tấn," hoặc, "Một trạng thái cần được thức tỉnh thông qua cam kết kiên định." Trong các trường hợp khác, các tỳ-kheo bị bệnh được bảo đừng sợ chết và họ phản hồi, "Tôi không sợ chết," hoặc, "Người có sự ân hận mới có thể sợ chết." Trong một số trường hợp khác, các tỳ-kheo bị bệnh được hỏi họ chịu đựng bệnh tình của mình như thế nào và họ phản hồi, "Điều này không thể chịu đựng được bởi bất kỳ người cao tuổi nào (§)," hoặc, "Điều này không thể chịu đựng được bởi một người bình thường (§)." Cũng có các trường hợp các tỳ-kheo bị thân nhân gây áp lực để hoàn tục và họ phản hồi bằng những lời tuyên bố như, "Điều không thể là một người như tôi sống trong một gia đình," hoặc, "Tôi đã ngăn chặn các dục lạc."
Trong mỗi trường hợp này, các tỳ-kheo sau đó cảm thấy áy náy lương tâm rằng lời nói của họ có thể bị hiểu là một sự khoe khoang, và do đó đã đến gặp Đức Phật, Người tuyên bố rằng, vì mục đích của họ không phải để khoe khoang — rõ ràng là họ chỉ đang cố gắng tránh các tình huống khó khăn, và Sớ giải cho thấy cách họ có thể dễ dàng nghĩ đến điều gì đó khác ngoài các trạng thái vượt trội của con người — họ không phạm hình phạt nào.
Thật kỳ lạ — dù Sớ giải đã giải thích các trường hợp này — khi Sớ giải thảo luận về yếu tố "không có ý định khoe khoang" trong các điều khoản không phạm, Sớ giải định nghĩa nó là áp dụng cho một tỳ-kheo, không bị thúc đẩy bởi dục vọng, đưa ra một lời tự nhận không lừa dối về tri kiến đối với các đồng tu của mình. Tuy nhiên, Phụ sớ giải lưu ý rằng định nghĩa của Sớ giải không phù hợp với các trường hợp Vinīta-vatthu và do đó đưa ra định nghĩa riêng của mình về "không có ý định khoe khoang": nói điều gì đó sẽ đáp ứng yếu tố nỗ lực nhưng không có ý muốn nói về một trạng thái vượt trội của con người, và không nhận thức được rằng lời nói của mình ngụ ý trạng thái như vậy. Dựa trên các ví dụ trong Vinīta-vatthu, chúng ta có thể bổ sung giải thích của Phụ sớ giải bằng cách lưu ý rằng sự miễn trừ này áp dụng ngay cả khi sự đề cập đến bản thân là rõ ràng, nhưng không áp dụng nếu sự đề cập đến trạng thái vượt trội của con người là rõ ràng.
Vì vậy, nếu người đó đưa ra một lời tuyên bố vô tình có thể được hiểu là ngụ ý lời tự nhận về một trạng thái vượt trội của con người mà không đề cập rõ ràng đến trạng thái như vậy, thì bất kể những người khác có thể diễn giải nó như thế nào, nếu mục đích của người đó không phải để khoe khoang hay tự nhận trạng thái đó thì không có tội phạm. Tuy nhiên, nếu hàm ý là có chủ ý — và là một sự xuyên tạc có chủ ý — yếu tố ý định ở đây sẽ được đáp ứng. Đối với các lời tuyên bố không đúng sự thật đề cập rõ ràng đến một trạng thái vượt trội của con người — ví dụ, "Tôi đã đạt được thiền thứ tư" — hàm ý rõ ràng là có chủ ý, và do đó những điều này tự động đáp ứng yếu tố "có ý định xuyên tạc sự thật."
Về ác dục: Sớ giải — trích dẫn một đoạn từ một văn bản A-tỳ-đàm, Vibhaṅga, dựa trên [MN 5] — định nghĩa ác dục ở đây là mong muốn người khác tin rằng các thiện pháp không có trong bản thân mình thực ra là có ở đó. Nói cách khác, người đó phải muốn lời tuyên bố của mình được tin là thật. Điều này có nghĩa là động cơ là một phần thiết yếu của yếu tố này. Đưa ra một câu nói đùa tự chế giễu, mỉa mai đề cập đến các chứng đắc vượt trội không có thật của mình như thể chúng là có thật, nhưng không có ý muốn được tin, sẽ không đáp ứng yếu tố ý định ở đây, bất kể người nghe diễn giải nhận xét đó như thế nào. Tuy nhiên, vì nhận xét như vậy là một sự sai lầm, nó sẽ thuộc [Pc 1], dù được nói trong khi đùa giỡn. Vì lý do này, các trường hợp loại này không được đề cập trong các điều khoản không phạm theo giới luật này vì chúng có mang theo tội phạm pācittiya. Tuy nhiên, mặc dù hình phạt họ mang theo tương đối nhẹ, những câu nói đùa loại này không nên được xem nhẹ. Không chỉ vì chúng có thể dẫn đến sự hiểu lầm nghiêm trọng trong người nghe, mà còn vì chúng bộc lộ sự thiếu tôn trọng bất cẩn đối với Pháp, và đặc biệt là đối với các chứng đắc mà một tỳ-kheo nên coi là một trong những phương tiện và mục đích cao nhất của việc tu học của mình.
#Hiểu biết (Understanding)
Vibhaṅga thảo luận về hai bộ trường hợp trong đó yếu tố hiểu biết đóng vai trò trong việc xác định tội phạm. Trong bộ đầu tiên, các tỳ-kheo có ý định nói dối về việc đạt được một trạng thái vượt trội của con người này (chẳng hạn như thiền thứ hai) nhưng thực sự lại nói dối về việc đạt được một trạng thái khác (chẳng hạn như thiền thứ ba). Trong bộ thứ hai, họ đưa ra các lời tự nhận về chứng đắc, đề cập rõ ràng đến một chứng đắc nhưng không đề cập rõ ràng đến bản thân (ví dụ, một tỳ-kheo, đề cập đến trú xứ mà mình đang sống, nói, "Những người sống trong trú xứ này là các vị A-la-hán"). Do yếu tố hiểu biết đóng vai trò ở đây, câu hỏi là: Sự hiểu biết của ai được đề cập ở đây, của người nói hay của người nghe? Sớ giải giả định rằng sự hiểu biết của người nghe là vấn đề. Hơn nữa — dù Vibhaṅga chỉ áp dụng yếu tố này cho hai bộ này — Sớ giải mở rộng từ chúng để nói rằng điều kiện này áp dụng cho tất cả các trường hợp được bao gồm trong giới luật này: Người nghe phải hiểu những gì tỳ-kheo nói thì mới có tội phạm đầy đủ.
Tuy nhiên, cách giải thích này có vẻ dựa trên một sự đọc sai Tạng kinh. Theo các giới luật khác mà câu hỏi về sự hiểu biết của người nghe là một yếu tố — chẳng hạn như các quy tắc về việc hoàn tục và saṅghādisesa 3 — khuôn mẫu trong Vibhaṅga là nêu rõ ràng, "Nếu anh ta/cô ta hiểu," "Nếu anh ta/cô ta không hiểu," "Cô ta không hiểu," với "anh ta" hay "cô ta" ở một cách khác với các phân từ mô tả tỳ-kheo. Tuy nhiên ở đây, khi Vibhaṅga đề cập đến yếu tố hiểu biết, nó sử dụng một phân từ hiện tại ở cùng cách với phân từ mô tả người nói: sampajāna-musā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa — "Đối với người nói một lời nói dối có chủ ý và hiểu biết (điều đó như vậy), một tội phạm thất bại" và cứ thế. (Một số người cho rằng paṭivijānantassa trong cụm này là một ví dụ của sở-hữu-cách tuyệt đối (genitive absolute), vốn sẽ áp dụng cho một chủ thể khác với chủ thể chính của câu. Tuy nhiên, cú pháp của câu và vị trí của từ này không theo khuôn mẫu của sở-hữu-cách tuyệt đối, vốn phải gồm một danh từ và một phân từ tách riêng khỏi phần còn lại của câu.) Điều này có nghĩa là phân từ cho "hiểu biết" đề cập đến cùng người được đề cập là "nói": Nói cách khác, nó đề cập đến tỳ-kheo, chứ không phải người nghe, người không được đề cập ở bất cứ đâu trong đoạn văn.
Tất nhiên, điều này đặt ra câu hỏi tại sao sự hiểu biết của người nói về lời tuyên bố của chính mình lại là vấn đề, và câu trả lời là như sau:
Trong bộ trường hợp đầu tiên — nơi tỳ-kheo có ý định tự nhận sai về một trạng thái vượt trội của con người này nhưng thực sự lại tự nhận sai về một trạng thái khác — nếu vị ấy không nhận ra rằng mình đã nói nhầm, lời tuyên bố thông thường sẽ không được tính là một lời nói dối có ý thức, vì vị ấy không nhận thức được những gì mình đang nói vào lúc đang nói. Vì vị ấy không chú ý đến lời nói của mình, vị ấy không nên nhận hình phạt đầy đủ. Tuy nhiên, nếu vị ấy đủ tỉnh thức để biết những gì mình đang nói, thì — như Sớ giải chỉ ra — tất cả các yếu tố của một tội phạm đều hiện diện. Vì cả lời tuyên bố có ý định và lời tuyên bố thực tế của vị ấy đều không trong sạch, vị ấy không nên được phép tránh hình phạt chỉ vì một sự nói nhầm ngắn ngủi. Do đó, Vibhaṅga gán một pārājika trong các trường hợp loại này nếu tỳ-kheo nhận thức được những gì mình đang nói, và một pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya nếu không.
Trong bộ trường hợp thứ hai, nơi nhận xét của tỳ-kheo liên quan đến một trạng thái vượt trội của con người một cách rõ ràng nhưng chỉ đề cập đến bản thân một cách ngầm ẩn, vị ấy xứng đáng nhận hình phạt nặng hơn nếu vị ấy nhận thức được mối liên hệ ngầm ẩn hơn là nếu không. Do đó, Vibhaṅga gán một pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya nếu vị ấy có, và một dukkaṭa nếu không.
Đối với những ai quan tâm đến cách giải thích của Sớ giải — rằng sự hiểu biết là bổn phận của người nghe, và nó phải hiện diện trong tất cả các trường hợp thì mới có tội phạm đầy đủ theo giới luật này — đây là nó:
Sự hiểu biết, theo Sớ giải, đơn giản có nghĩa là người nghe nghe lời tuyên bố đủ rõ ràng để biết rằng đó là một lời tự nhận. Liệu anh ta/cô ta có hiểu các tên của các trạng thái được tự nhận — thiền định, thần nhãn, thần nhĩ, hay bất cứ điều gì — không phải là vấn đề. Điều tương tự cũng đúng với việc anh ta/cô ta có tin lời tuyên bố là đúng hay sai hay không. Nếu người nghe mà một lời tự nhận rõ ràng về một trạng thái vượt trội của con người được hướng đến không hiểu nó, nhưng một người đi ngang qua hiểu, hình phạt vẫn là một pārājika.
Sớ giải thêm rằng nếu người nghe không nghe tỳ-kheo đủ rõ ràng để nắm bắt tất cả những gì vị ấy nói, hình phạt là một pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya. Nếu người nghe lúc đầu có một số nghi ngờ về những gì tỳ-kheo nói nhưng sau đó nhận ra rằng đó là một lời tự nhận về một trạng thái vượt trội của con người, tội phạm vẫn là một pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya. Nếu người nghe không nghe tỳ-kheo chút nào, Sớ giải — có lẽ mở rộng từ các trường hợp Vinīta-vatthu liên quan đến các tỳ-kheo nói một mình — gán cho tỳ-kheo một dukkaṭa.
Nếu tỳ-kheo đưa ra lời tự nhận về một trạng thái vượt trội của con người trong đó vị ấy chỉ đề cập đến bản thân một cách ngầm ẩn — ví dụ, "Các tỳ-kheo mà bạn hỗ trợ là các vị Bất lai" — Sớ giải theo một khuôn mẫu tương tự trong việc gán các tội phạm: một pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya nếu người nghe hiểu, một dukkaṭa nếu anh ta/cô ta không hiểu, một dukkaṭa nếu anh ta/cô ta không nghe lời tự nhận.
Tuy nhiên, như đã lưu ý ở trên, các phán quyết của Sớ giải về vấn đề này có vẻ dựa trên một sự đọc sai Vibhaṅga.
#Các trường hợp đặc biệt (Special cases)
Các trường hợp đặc biệt trong Vinīta-vatthu:
1) Các bà-la-môn nói chuyện với đức tin hay lịch sự thái quá gọi các tỳ-kheo không có chứng đắc cụ thể như thể họ là các vị A-la-hán ("Mong các vị A-la-hán đến.... Mong các vị A-la-hán ngồi"). Điều này đặt các tỳ-kheo vào tình thế khó xử và vì vậy họ hỏi Đức Phật phải cư xử như thế nào trong tình huống như vậy. Câu trả lời của Ngài: Không có tội phạm khi chấp nhận những lời mời như vậy từ một "người nói với đức tin" — điểm mấu chốt là không có tội phạm khi đến, ngồi, v.v., miễn là ý định chỉ là chấp nhận lời mời và không ngụ ý một lời tự nhận.
2) Các tỳ-kheo, hy vọng mọi người sẽ tôn trọng họ, thực hành các hành vi đặc biệt — các ví dụ được đưa ra trong Vinīta-vatthu bao gồm sống trong rừng rậm, đi khất thực, ngồi, đứng, đi lại và nằm xuống (rõ ràng là trong thiền định trong thời gian dài), nhưng từ chúng chúng ta có thể mở rộng sang các hành vi khác như bất kỳ hành vi tu khổ hạnh (dhutaṅga) nào hoặc ăn chay, v.v., được thực hiện để gây ấn tượng với người khác. Hình phạt: một dukkaṭa. Vì phán quyết này có thể tạo ra ấn tượng sai lầm rằng người ta không nên áp dụng các hành vi dhutaṅga hay tham gia vào thời gian ngồi thiền dài, v.v., Sớ giải bao gồm một danh sách các lý do không đáng trách cho việc sống trong hoang vắng: thấy rằng cuộc sống ở làng làm tâm trí của mình bất ổn, mong muốn tịch tịnh, mong muốn đạt được quả A-la-hán, suy nghĩ rằng Đức Phật ca ngợi việc sống trong hoang vắng, dự đoán rằng mình sẽ là một tấm gương tốt cho các đồng tu trong cuộc sống phạm hạnh. Một tỳ-kheo thực hành bất kỳ hành vi dhutaṅga nào vì những hay lý do tương tự sẽ không phạm tội gì.
#Không phạm giới (Non-offenses)
Ngoài các trường hợp không phạm thông thường, Vibhaṅga liệt kê hai trường hợp mà chúng ta đã đề cập liên quan đến nhận thức và ý định: Không có tội phạm nếu người đó đưa ra lời tự nhận xuất phát từ sự hiểu biết sai lầm và quá cao về chứng đắc của mình; và không có tội phạm nếu người đó không có ý định khoe khoang, tức là người đó đưa ra một lời tự nhận có thể nghe như đề cập ngầm ẩn đến một trạng thái vượt trội của con người nhưng không có ý định như vậy.
Tóm tắt (Summary): Cố ý nói dối với người khác rằng mình đã đạt được một trạng thái vượt trội của con người là một tội phạm pārājika.
Tổng kết về Pārājika (Ba-la-di)
Một tỳ-kheo vi phạm bất kỳ giới pārājika nào trong bốn giới này tự động không còn là tỳ-kheo nữa. Không cần vị ấy phải trải qua một lễ hoàn tục chính thức, vì hành động vi phạm giới luật là hành động hoàn tục trong và của chính nó. Như mỗi giới luật nêu, vị ấy không còn được cộng trú nữa, mà phân tích từ ngữ định nghĩa là không còn có một giao dịch chung nào (tức là vị ấy không còn có thể tham gia vào bất kỳ cuộc hội họp của Tăng đoàn nào), không còn có một bài tụng đọc chung nào (tức là vị ấy không còn có thể tham gia vào uposatha (xem [BMC2, Chương 15])), không còn có việc tu học chung với các tỳ-kheo nữa.
Ngay cả khi một tỳ-kheo đã vi phạm bất kỳ giới luật nào trong số này tiếp tục giả vờ là tỳ-kheo, vị ấy thực sự không được tính là tỳ-kheo; ngay khi sự thật được biết đến, vị ấy phải bị trục xuất khỏi Tăng đoàn (Saṅgha). Vị ấy không bao giờ có thể thọ giới đúng đắn như một tỳ-kheo trong kiếp này nữa. Nếu vị ấy cố gắng thọ giới trong một Tăng đoàn không biết về tội phạm của vị ấy, việc thọ giới của vị ấy là không hợp lệ, và vị ấy phải bị trục xuất ngay khi sự thật được phát hiện.
Sớ giải về [Pr 1] khẳng định rằng vị ấy được phép "xuất gia" như một sa-di, nhưng vì Vibhaṅga không ủng hộ rõ ràng quan điểm này, không phải tất cả các Tăng đoàn đều chấp nhận nó.
Sự thiếu hiểu biết về các giới luật này không miễn cho người vi phạm khỏi hình phạt, đó là lý do tại sao Đức Phật ra lệnh rằng chúng phải được dạy cho mỗi tỳ-kheo mới càng sớm càng tốt sau khi thọ giới ([Mv.I.78.2-5]). Vì các giới luật bao gồm một số trường hợp hợp pháp trong xã hội hiện nay (ví dụ, khuyến nghị phá thai, tự chứng minh cơ thể mình dẻo dai như thế nào thông qua yoga bằng cách đưa dương vật vào miệng của mình) hay phổ biến trong số những người không thấy điều gì sai trái khi đùa giỡn với ranh giới của luật pháp (ví dụ, che giấu một vật phẩm chịu thuế hải quan khi nhập cảnh một quốc gia), điều đặc biệt quan trọng là phải thông báo cho mỗi tỳ-kheo mới về toàn bộ ý nghĩa của các giới luật ngay từ đầu.
Nếu một tỳ-kheo nghi ngờ rằng mình đã phạm một pārājika, vị ấy nên ngay lập tức thông báo cho một tỳ-kheo thâm niên thông thạo các giới luật. Cách tỳ-kheo thâm niên nên xử lý trường hợp này được minh họa rõ ràng qua một sự kiện được thuật lại trong Sớ giải về [Pr 2]: Một vị vua cùng với một đám đông khổng lồ đã đến lễ bái Đại tháp tại một tu viện ở Sri Lanka. Trong đám đông có một tỳ-kheo khách từ phía Nam của đất nước đang mang theo một cuộn vải đắt tiền. Sự hỗn loạn của sự kiện lớn đến mức vị ấy đánh rơi tấm vải, không thể lấy lại, và sớm coi như đã mất. Một trong những tỳ-kheo cư trú tình cờ gặp nó và, muốn ăn cắp nó, nhanh chóng cất đi trước khi người chủ có thể nhìn thấy. Cuối cùng, tất nhiên, vị ấy bị giày vò bởi cảm giác tội lỗi và đến tìm chuyên gia Luật tạng cư trú để thú nhận một pārājika và hoàn tục.
Tuy nhiên, chuyên gia Luật tạng không để vị ấy hoàn tục cho đến khi tìm được người chủ của tấm vải và hỏi thêm về nó. Cuối cùng, sau một cuộc tìm kiếm dài, tỳ-kheo có thể truy tìm chủ sở hữu ban đầu tại một tu viện ở phía Nam, người đã nói với vị ấy rằng vào thời điểm xảy ra vụ trộm, vị ấy đã coi tấm vải là đã mất và đã từ bỏ tất cả sự dính mắc tâm lý với nó. Do đó, vì tấm vải là vô chủ, tỳ-kheo cư trú không phạm pārājika, mà chỉ là một số dukkaṭa cho các nỗ lực sơ bộ với ý định ăn cắp.
Ví dụ này cho thấy một số điều: sự thấu đáo lớn lao với đó một tỳ-kheo thâm niên nên điều tra một pārājika có thể xảy ra, lòng từ bi vị ấy nên thể hiện với người vi phạm, và thực tế rằng người vi phạm nên được hưởng lợi ích của sự nghi ngờ bất cứ khi nào có thể: Vị ấy phải được coi là vô tội cho đến khi sự thật chứng minh vị ấy có tội.
Tuy nhiên, có những trường hợp của một loại khác, trong đó một tỳ-kheo phạm một pārājika và từ chối thừa nhận sự thật. Nếu các đồng tu của vị ấy thấy, nghe, hoặc có bất kỳ nghi ngờ nào rằng điều này đã xảy ra, họ có nghĩa vụ phải đặt vấn đề với vị ấy. Nếu họ không hài lòng với những khẳng định về sự vô tội của vị ấy, vụ việc trở thành một vấn đề buộc tội, phải được giải quyết theo các thủ tục được nêu trong [Sg 8] và [Chương 11].
Cuối cùng, Sớ giải kết thúc phần thảo luận về các pārājika bằng cách lưu ý rằng tổng cộng có 24 — tám thực sự, mười hai tương đương, và bốn dẫn xuất — các pārājika cho tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni (bhikkhunī).
Tám pārājika thực sự là:
- bốn giới cho tỳ-kheo (cũng được tỳ-kheo-ni tuân thủ), và
- bốn pārājika bổ sung chỉ dành cho tỳ-kheo-ni.
Mười hai pārājika tương đương bao gồm mười một loại không đủ tiêu chuẩn không nên được thọ giới như tỳ-kheo ngay từ đầu. Nếu họ tình cờ được thọ giới, việc thọ giới của họ không hợp lệ; một khi họ bị phát hiện, họ phải bị trục xuất suốt đời ([Mv.I.61-68]; xem [BMC2, Chương 14] để biết chi tiết). Họ là —
một paṇḍaka (về cơ bản, là một người bị thiến hay một người sinh ra trung tính — xem saṅghādisesa 2),
một chúng sinh "phi nhân," (điều này bao gồm các loài rắn thần nāga, ngạ quỷ peta, chư thiên deva, và dạ xoa yakkha),
một người lưỡng tính,
một người giả làm tỳ-kheo mà không được thọ giới,
một tỳ-kheo đã thọ giới trong một tôn giáo khác mà không từ bỏ tư cách tỳ-kheo của mình trước,
một người đã giết cha,
một người đã giết mẹ,
một người đã giết một vị A-la-hán,
một người đã xâm phạm tình dục một tỳ-kheo-ni,
một người đã cố ý làm thương Đức Phật đến mức gây chảy máu, và
một người đã cố tình gây ra sự phân liệt trong Tăng đoàn, biết hoặc nghi ngờ rằng lập trường của mình trái với Pháp-Luật.
Mười một pārājika tương đương này cũng áp dụng cho tỳ-kheo-ni.
pārājika tương đương thứ mười hai, chỉ áp dụng cho tỳ-kheo-ni, là trường hợp một tỳ-kheo-ni rời bỏ Ni đoàn (bhikkhunī Saṅgha) và đảm nhận vai trò của một cư sĩ nữ (Cv.X.26.1). Không giống như các tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni không có thủ tục chính thức để hoàn tục. Nếu họ rời Tăng đoàn, họ không được phép thọ giới lại trong suốt kiếp này.
Ngoài hai mươi pārājika thực sự và tương đương, Sớ giải liệt kê riêng bốn pārājika anulomika (dẫn xuất), thực ra là bốn trường hợp được bao gồm trong [Pr 1]: tỳ-kheo có lưng dẻo dùng miệng mút dương vật của mình, tỳ-kheo có dương vật dài đưa vào hậu môn của mình, tỳ-kheo thực hiện giao hợp bằng miệng với người khác, và tỳ-kheo nhận giao hợp qua hậu môn. Trong số này, ba trường hợp có thể được mở rộng để áp dụng cho tỳ-kheo-ni cũng vậy. Tại sao Sớ giải liệt kê các trường hợp này như các pārājika riêng biệt thật khó hiểu, trừ phi chỉ đơn giản là để đảm bảo rằng các biến thể của [Pr 1] này không bị bỏ qua. Tuy nhiên, toàn bộ danh sách 24 là quan trọng, vì theo các quy tắc liên quan đến việc buộc tội sai một tỳ-kheo khác về việc phạm pārājika ([Sg 8] & [9]) hay quy tắc liên quan đến việc che giấu tội phạm pārājika của một tỳ-kheo khác ([Pc 64]), Sớ giải định nghĩa pārājika là bao gồm cả các pārājika tương đương và dẫn xuất.
CHAPTER FOUR
Pārājika
This term, according to the Parivāra, derives from a verb meaning to lose or be defeated. A bhikkhu who commits any of the four following offenses has surrendered to his own mental defilements to such an extent that he defeats the purpose of his having become a bhikkhu in the first place. The irrevocable nature of this defeat is illustrated in the Vibhaṅga with a number of similes: “as a man with his head cut off… as a withered leaf freed from its stem… as a flat stone that has been broken in half cannot be put together again… as a palmyra tree cut off at the crown is incapable of further growth.” A bhikkhu who commits any of these offenses severs himself irrevocably from the life of the Saṅgha and is no longer considered a bhikkhu.
Should any bhikkhu—participating in the training and livelihood of the bhikkhus, without having renounced the training, without having declared his weakness—engage in sexual intercourse, even with a female animal, he is defeated and no longer in affiliation.
As we noted in the Introduction, the first formulation of this rule followed on Ven. Sudinna’s having had sex with one of his former wives. His motives, by worldly standards, were relatively noble: He was complying with his mother’s desire that he provide the family with an heir. However, in the incident leading to the second formulation of this rule—in which the Buddha added the phrase “even with a female animal”—the instigator’s motives were considerably less so.
“Now at that time, a certain bhikkhu living in the Great Wood at Vesālī, having befriended a monkey with food (§), engaged in sexual intercourse with it. Then, dressing (§) early in the morning and carrying his bowl and outer robe, the bhikkhu went into Vesālī for alms. A number of bhikkhus wandering on a tour of the lodgings went to the bhikkhu’s dwelling. The monkey saw them coming from afar and, on seeing them, went up to them and wiggled its rear and wiggled its tail and offered its rear and made a sign (§). The thought occurred to the bhikkhus, ‘Undoubtedly this bhikkhu is engaging in sexual intercourse with this monkey.’ So they hid off to one side.
“Then the bhikkhu, having gone for alms in Vesālī, returned bringing almsfood. The monkey went up to him. The bhikkhu, having eaten a portion of the almsfood, gave a portion to the monkey. The monkey, having eaten the almsfood, offered its rear to the bhikkhu, and the bhikkhu engaged in sexual intercourse with it (§).
“Then the bhikkhus said to the bhikkhu, ‘Hasn’t a training rule been formulated by the Blessed One? How can you engage in sexual intercourse with this monkey?’
“‘It’s true, friends, that a training rule has been formulated by the Blessed One, but that’s with regard to a human female, not to a female animal.’”
The full offense here is composed of four factors: effort, object, knowledge, and consent.
Effort
The term sexual intercourse refers to the penetration of a penis into a magga, or pathway, which—for the purpose of this rule—the Vibhaṅga defines as follows:
A female or a hermaphrodite has three maggas: vagina, mouth, and anus.
A male or a neuter individual has two: mouth and anus.
The Vibhaṅga further states that sexual intercourse has been performed when, in any of the possible combinations covered by this rule, a penis enters a magga even if just to “the extent of a sesame seed.” Whether the penis is the bhikkhu’s entering into another person’s magga, or another man’s penis entering any of the bhikkhu’s maggas, the factor of effort has been fulfilled all the same. The question of whether there is a covering, such as a condom, between the organs is irrelevant, as are the questions of:
whether the bhikkhu is actively or passively involved,
whether the bhikkhu is dressed as a bhikkhu, and
whether any of the parties involved reaches orgasm.
The Vibhaṅga also mentions four scenarios that it does not explain: “One inserts it into a magga via a magga… one inserts it into a non-magga via a magga… one inserts it into a magga via a non-magga… one inserts it into a non-magga via a non-magga.” The first three scenarios entail a pārājika; the last, a thullaccaya.
The first scenario apparently covers the normal insertion of a penis into a magga. As for non-magga, the Commentary identifies it as a wound. This is in reference to two cases in the Vinīta-vatthu. In both cases, a bhikkhu comes across the corpse of a woman with a wound around her vagina. In one case, the bhikkhu inserts his penis into the vagina and withdraws it via the wound; in the other, the bhikkhu inserts his into the wound and withdraws it via the vagina. In both cases, the Buddha imposes a pārājika.
If the Commentary is right in its definition of non-magga—and nothing in the Canon would suggest otherwise—then the Vibhaṅga’s summary of four scenarios would cover these two cases, but also go further. If a monk were to insert his penis into a magga via a nearby wound, or to insert it into the wound via the magga, then regardless of how he withdrew it, he would still incur the full offense.
The Vinīta-vatthu also contains a case of a monk who, inflamed with lust, inserts his thumb into the vagina of a naked sleeping young girl. In this case, the Buddha imposes a saṅghādisesa under Sg 2.
Object
The full penalty under this rule applies to any voluntary sexual intercourse with a human being, a “non-human” being (a yakkha, nāga, or peta), or a common animal, whether female, male, neuter, or hermaphrodite.
Performing sexual intercourse with a dead body—even a decapitated head—also entails the full penalty if the remains of the body are intact enough for the act to be accomplished.
In addition, the Vinīta-vatthu lists two examples of “self-intercourse”: A bhikkhu with a supple back takes his penis into his mouth, and a bhikkhu with an unusually long penis inserts it into his anus. Both cases carry the full penalty.
Knowledge & consent
For sexual intercourse to count as an offense, the bhikkhu must know that it is happening and give his consent. Thus if he is sexually assaulted while asleep or otherwise unconscious, and he remains oblivious to what is happening, he incurs no penalty. If, however, he becomes conscious during the assault or was conscious right from the start, then whether he incurs a penalty depends on whether he gives his consent during any part of the act.
Strangely enough, neither the Canon nor the Commentary discusses the factor of consent in any detail, except to mention by way of passing that it can apply to the stage of inserting, being fully inserted, staying in place, or pulling out. From the examples in the Vinīta-vatthu, it would appear that consent refers to a mental state of acquiescence, together with its physical or verbal expression. Mere physical compliance does not count, as there are cases where bhikkhus forced into intercourse comply physically but without consenting mentally and so are absolved of any offense. However, there is also a case in which a woman invites a bhikkhu to engage in sexual intercourse, saying that she will do all the work while he can avoid an offense by doing nothing. The bhikkhu does as she tells him to, but when the case comes to the Buddha’s attention, he imposes a pārājika on the act without even asking the bhikkhu whether he consented or not. The assumption is that complying with a request like this indicates consent, regardless of whether one makes any physical or verbal movement at all.
Taken together, these cases imply that if one is sexually assaulted, one is completely absolved from an offense only if (1) one does not give one’s mental consent at any time during the act or (2) one does feel mental consent during at least part of the act but puts up a struggle so as not to express that consent physically or verbally in any way. (As the Commentary notes, drawing a general principle from the Vinīta-vatthu to Pr 2, mere mental consent without physical expression is not enough to count as a factor of an offense, for there is no offense simply in the arising of a thought or mental state.) If one puts up no struggle and feels mental consent, even if only fleetingly during the stage of inserting, being fully inserted, staying in place, or pulling out, one incurs the full penalty. This would seem to be the basis for the Commentary’s warning in its discussion of the Vinīta-vatthu case in which a bhikkhu wakes up to find himself being sexually assaulted by a woman, gives her a kick, and sends her rolling. The warning: This is how a bhikkhu still subject to sensual lust should act if he wants to protect his state of mind.
The Vinīta-vatthu contains a case in which a bhikkhu with “impaired faculties”—one who feels neither pleasure nor pain during intercourse—engages in intercourse under the assumption that his impairment exempts him from the rule. The case is brought to the Buddha, who states, “Whether this worthless man did or didn’t feel [anything], it is a case involving defeat.” From this ruling it can be argued that a bhikkhu indulging in intercourse as part of a tantric ritual incurs the full penalty even if he doesn’t feel pleasure in the course of the act.
Derived offenses
Two thullaccaya offenses are directly related to this rule. The first is for the fourth of the Vibhaṅga’s four scenarios mentioned above: One inserts one’s penis into a non-magga via a non-magga. This apparently applies only to a wound on a corpse, for as we will see below, if a bhikkhu attempts intercourse with any part of a living being’s body apart from the three maggas, the case falls under [Sg 2](./Section0011.html#Sg2).
The second thullaccaya is for the case of a bhikkhu who attempts intercourse with the decomposed mouth, anus, or vagina of a corpse.
To attempt intercourse with any other part of a dead body or with any part of an insentient object, such as an inflatable doll or mannequin, incurs a dukkaṭa. (If this led to an ejaculation, however, the case would be treated under [Sg 1](./Section0011.html#Sg1).)
The Vibhaṅga states that if a bhikkhu attempts intercourse with any part of a living being’s body apart from the three maggas, the case falls under the saṅghādisesa rules—either [Sg 1](./Section0011.html#Sg1) for intentional ejaculation or [Sg 2](./Section0011.html#Sg2) for lustful bodily contact. As we shall see below, the penalties assigned in the latter case are as follows: If the partner is a woman, a saṅghādisesa; if a paṇḍaka (see [Sg 2](./Section0011.html#Sg2)), a thullaccaya; if a man or a common animal, a dukkaṭa. We can infer from the Vibhaṅga’s ruling here that if a bhikkhu has an orgasm while attempting intercourse with the decomposed mouth, anus, or genitals of a corpse, with any other part of a dead body, or with any part of an insentient object, the case would come under [Sg 1](./Section0011.html#Sg1).
The Commentary disagrees with the Vibhaṅga on these points, however, saying that the derived offenses under this rule can include only dukkaṭa and thullaccaya penalties. In its explanation of [Sg 1](./Section0011.html#Sg1), it sets forth a system of eleven types of lust in which the lust for the pleasure of bringing about an ejaculation, lust for the pleasure of bodily contact, and lust for the pleasure of intercourse are treated as completely separate things that must be treated under separate rules. Thus, it says, if a bhikkhu aiming at intercourse takes hold of a woman’s body, it is simply a preliminary to intercourse and thus entails only a dukkaṭa, rather than a saṅghādisesa for lustful bodily contact. Similarly, if he has a premature ejaculation before beginning intercourse, there is no offense at all.
These are fine academic distinctions and are clearly motivated by a desire to draw neat lines between the rules, but they lead to practical problems. As the Commentary itself points out, if a bhikkhu commits an act that falls near the borderline between these rules but cannot later report precisely which type of lust he was feeling in the heat of the moment, there is no way his case can be judged and a penalty assigned.
At any rate, though, there is no basis in the Canon for the Commentary’s system, and in fact it contradicts not only the Vibhaṅga’s ruling mentioned above, but also its definition of lustful under [Sg 2](./Section0011.html#Sg2), [3](./Section0011.html#Sg3), & [4](./Section0011.html#Sg4), which is exactly the same for all three rules and places no limits on the type of lust involved. All of this leads to the conclusion that the Commentary’s neat system for classifying lust is invalid, and that the Vibhaṅga’s judgment holds: If a bhikkhu attempts intercourse with any part of a living being’s body apart from the three maggas, the case falls under the saṅghādisesa rules—either [Sg 1](./Section0011.html#Sg1) for intentional ejaculation or [Sg 2](./Section0011.html#Sg2) for lustful bodily contact or both—rather than here.
Blanket exemptions
In addition to bhikkhus who do not know they are being assaulted or do not give their consent when they do know, the Vibhaṅga states that there are four special categories of bhikkhus exempted from a penalty under this rule: any bhikkhu who is insane, possessed by spirits, delirious with pain, or the first offender(s) (in this case, Ven. Sudinna and the bhikkhu with the monkey) whose actions prompted the Buddha to formulate the rule. The Commentary defines as insane anyone who “goes about in an unseemly way, with deranged perceptions, having cast away all sense of shame and compunction, not knowing whether he has transgressed major or minor training rules.” It recognizes this as a medical condition, which it blames on the bile. A bhikkhu under the influence of a severe psychosis-inducing drug would apparently fall under this exemption, but one under the influence of a more common intoxicant would not. As for spirit possession, the Commentary says that this can happen either when spirits frighten one or when, by distracting one with sensory images, they insert their hands into one’s heart by way of one’s mouth (!). Whatever the cause, it notes that insane and possessed bhikkhus are exempt from penalties they incur only when their perceptions are deranged (“when their mindfulness is entirely forgotten and they don’t know what fire, gold, excrement, and sandalwood are”) and not from any they incur during their lucid moments. As for a bhikkhu delirious with pain, he is exempt from penalties he incurs only during periods when the pain is so great that he does not know what he is doing.
These four categories are exempted from penalties under nearly all of the rules, although the first offender for each rule is exempted only for the one time he acted in such a way as to provoke the Buddha into formulating the rule. I will only rarely mention these categories again, and—except where expressly stated otherwise—the reader should bear them in mind as exempt in every case.
Related cases
The Vinīta-vatthu to this rule contains three cases that formed the basis for additional rules.
The first two cases are a pair. In one, a bhikkhu discovers that he has undergone a spontaneous sex change (!) and is now a woman; in the second, a bhikkhunī spontaneously undergoes the reverse transformation and is now a man.
In the first case, the Buddha says that the bhikkhu is now a bhikkhunī and should be escorted to join a bhikkhunī community. Her original ordination remains valid, she has the same preceptor as before, and her seniority is to be counted from the time of her original ordination (and not from the time of the sex change). As for any offenses she incurred while a bhikkhu that have not yet been dealt with: If they involve rules that the bhikkhus have in common with the bhikkhunīs, they are to be dealt with by the bhikkhunī community. If they involve rules that the bhikkhus do not have in common with the bhikkhunī community, they no longer count as offenses (§).
The Commentary adds here that if the new bhikkhunī undergoes another sex change and reverts to being a man, he reverts to being a bhikkhu and must rejoin the bhikkhus, but the past offenses that were declared non-offenses remain non-offenses.
In the second case, the same principles apply but in reverse.
As for the third case:
“At that time a certain bhikkhu had gone to the Gabled Hall in the Great Wood at Vesālī to pass the day and was sleeping, having left the door open. His various limbs were stiff with the ‘wind forces’ (i.e., he had an erection) (§). Now at that time a large company of women bearing garlands and scents came to the park, headed for the dwelling. Seeing the bhikkhu, they sat down on his male organ (§) and, having taken their pleasure and remarking, ‘What a bull of a man, this one!’ they picked up their garlands and scents, and left.”
The bhikkhu incurred no penalty, but the Buddha gave formal permission to close the door when resting during the day. From this permission, the Commentary formulates a prohibition—that a bhikkhu incurs a dukkaṭa if he does not close the door when sleeping during the day—but if the Buddha had intended a prohibition, he surely would have stated the rule in that form himself. In other words, one may sleep during the day without being penalized for whether the door is open, but as the origin story indicates, it would be wise to keep it closed.
Summary: Voluntary sexual intercourse—genital, anal, or oral—with a human being, non-human being, or common animal is a pārājika offense.
\ \ \*
Should any bhikkhu, in what is reckoned a theft, take what is not given from an inhabited area or from the wilderness—just as when, in the taking of what is not given, kings arresting the criminal would flog, imprison, or banish him, saying, “You are a robber, you are a fool, you are benighted, you are a thief”—a bhikkhu in the same way taking what is not given also is defeated and no longer in affiliation.
This rule against stealing is, in the working out of its details, the most complex in the Pāṭimokkha and requires the most explanation—not because stealing is a concept especially hard to understand, but because it can take so many forms. The Canon treats the issue in a case-by-case fashion that resists easy summary. To further complicate matters, the Commentary’s discussion of this rule is extremely prolix and deviates frequently from the Canon’s in both major and minor ways. Because the deviations are so numerous, we will focus solely on the major ones.
The Vibhaṅga defines the act of stealing in terms of four factors.
1) Object: anything belonging to another human being or a group of human beings.
2) Perception: One perceives the object as belonging to another human being or a group of human beings.
3) Intention: One decides to steal it.
4) Effort: One takes it.
Stealing under any circumstances is always an offense. However, the severity of the offense depends on another factor, which is—
5) The value of the object.
Object
For an object to qualify as what is not given—the rule’s term for anything that may be the object of a theft—it must belong to someone else: “not given, not forfeited, not abandoned/discarded; guarded, protected, claimed (§—literally, ‘viewed as “mine”’), possessed by someone else.” In all of the Vibhaṅga’s cases under this rule, that “someone else” is either an individual human being or a group of human beings. The question of property belonging to the Saṅgha logically fits here, but because the topic is fairly complex we will discuss it as a special case below.
Because items that have been given away or discarded do not fulfill the factor of object here, there is no offense for a bhikkhu who takes a discarded object—such as rags from a pile of refuse—or unclaimed items from a wilderness. The Commentary, in some of its examples, includes items given up for lost under “abandoned,” but this interpretation has to be heavily qualified. If the owner retains a sense of ownership for the lost item, it would fall under the term claimed, and thus would still count as not given. Only if the owner abandons all sense of ownership would it genuinely count as abandoned.
The Vinīta-vatthu mentions an interesting case in which the groundskeeper in an orchard permits bhikkhus to take fruit from the orchard, even though he was not authorized to do so. The bhikkhus committed no offense.
The Commentary adds that if people are guarding an object as the property of a location—for example, an offering to a Buddha image, cetiya, or other sacred place—the object would also qualify as “not given” under this rule. Although the Vibhaṅga mentions property of this sort under [NP 30](./Section0015.html#NP30) and [Pc 82](./Section0023.html#Pc82), for some reason it doesn’t mention it here. Nevertheless, the Commentary’s judgment on this point reflects a custom that had become widespread by its time, that of giving valuable items to a cetiya (this includes Buddha images) and dedicating them not to the Saṅgha but to the cetiya. Some medieval Indian Buddhist inscriptions express the idea that the cetiya or the Buddha relics (if any) within the cetiya actually own such objects, but the Commentary states that these objects have an owner simply in the sense that human beings are watching over them for the purpose of the cetiya. The jewels decorating the reliquary of the Sacred Tooth in Kandy or the offerings to the Emerald Buddha in Bangkok, for example, would fall under this category. According to the Commentary, the Saṅgha is duty-bound to care for such items but has no rights of ownership over them. In its discussion both of this rule and of Pv.XIX, it states that items given to the Saṅgha may be used for the purpose of the cetiya—for example, to contribute to its decoration or upkeep—but items given to the cetiya may not be used for the purpose of the Saṅgha.
From the Commentary’s discussion of this type of ownership, it would appear that if there are no longer any human beings watching over a cetiya, the items donated to it would no longer count as having an owner and thus could be removed for safekeeping, preferably to another cetiya. Any bhikkhu who took such items for himself, however, would be risking the wrath of the devas who might be guarding the cetiya. This is why it is traditional in such cases to conduct a ceremony formally requesting the permission of any guardian devas, at the same time promising not to take such items for one’s own use.
The Vibhaṅga states that items belonging to common animals or petas are not covered by this rule. On this point, see the discussion under Non-offenses, below.
Perception
For the act of taking what is not given to count as theft, one must also perceive the object as not given. Thus there is no offense if one takes an object, even if it is not given, if one sincerely believes that it is ownerless or thrown away. Similarly, if a bhikkhu takes an object mistaking it for his own or as belonging to a friend who has given him permission to take his things on trust, there is no offense even if the assumption about the trust proves to be a misperception. Also, a bhikkhu who takes things from the Community’s common stores, on the assumption that he has the right to help himself, commits no offense even if the assumption proves false.
The Vinīta-vatthu contains a case in which a bhikkhu, spotting some objects during the day, returns to steal them at night. However, instead of taking the objects he spotted, he ends up taking some possessions of his own. He earns a dukkaṭa for his efforts.
None of the texts discuss the possible case in which one might be in doubt as to whether the object in question is not given, perhaps because the compilers felt that the factor of intention, discussed next, would not apply in such cases. Thus it would not be an offense under this rule. However, the wise policy when one is in doubt about an item’s ownership would be not to take the item for one’s own, or at most to take it on loan, as explained below.
Intention
The act of taking what is not given, even when one perceives it as not given, counts as theft only if one’s intention is to steal it. Thus, as the non-offense clauses say, a bhikkhu incurs no offense if he takes an object temporarily or on trust. On these points, see the discussion under Non-offenses, below. Also, the Vinīta-vatthu rules that a bhikkhu who, seeing an article left in a place where it might be damaged, puts it in safe keeping for the owner, commits no offense.
The Commentary discusses two cases of taking an item with a conditional intent (parikappāvahāra): placing a condition on the article, and placing a condition on the place. It illustrates the first case with the example of a bhikkhu entering a dark storeroom and taking a sack full of items, thinking, “If the sack contains cloth, I’ll steal it; if it contains just thread, I won’t.” In this case, if the sack does indeed contain cloth, then it was stolen the moment the bhikkhu moved the sack from its place (see below). If it contains just thread, and he returns it to its place, he commits no offense. If, however, the bhikkhu takes the sack thinking, “I’ll steal whatever is in the sack,” the Commentary maintains that he is not guilty of stealing until he finds out what the sack contains and then picks it up again, but this case does not really fit under this category, as the bhikkhu has actually placed no condition on the article and so stole it when he first picked it up.
Placing a condition on the place means thinking, “If I can take this item past such-and-such a place (such as a gateway), I’ll steal it; if anyone sees me beforehand, I’ll pretend that I’m just looking at it and will return it to its place.” Because one has not definitely decided to steal it when first picking it up, the theft is committed only when one takes the item past the determined place.
Effort
Assuming that all of the above conditions are met—the object belongs to someone else, one perceives it as belonging to someone else, and one intends to steal it—if one then takes it, that constitutes stealing. The question then arises as to precisely what acts constitute taking.
The Vibhaṅga, instead of giving a systematic answer to this question, provides a long list of possible situations and then defines how taking is defined in each case. Simply reading through the list can require some patience, and it’s easy to sympathize with the bhikkhus in the past who had to memorize it. Here, to shorten the discussion, we will reverse its order, listing first the actions that qualify as taking and then the situations to which the actions apply. Actions requiring only minor clarification will be explained in the list; those requiring extended discussion will be explained below.
Moving the object from its place: objects buried in the ground; sitting on the ground; sitting on another object sitting on the ground; hanging from a place above ground, such as a peg or clothesline; floating, flying, or dropping in mid-air; sitting in a boat; sitting in a vehicle; an object that one has caused another person to drop; footless animals, animals that one might pick up or push from their place (according to the Commentary, this also covers larger footed animals that are lying down); objects that one has been asked to guard. The Vibhaṅga makes clear that items in a vehicle also count as taken when the vehicle is moved from its place.
“Cutting off” a fistful: objects inside a container. According to the Commentary, this means reaching into the container and grabbing, say, a fistful of coins in such a way that the coins in the fist do not touch any of the other coins in the container. In this case, the taking would be accomplished before the object was removed from the container.
Sticking a vessel into a pool of liquid or pile of objects and causing some of the pool or pile to enter the vessel: objects inside a container; water or any liquid, whether in a container or not. Again, the Commentary states that the objects or liquid in one’s vessel must not touch the remaining objects or liquid outside the vessel. And, again, in the case of taking objects or liquid situated in a container in this way, the taking would be accomplished before the objects or liquid were removed from the container.
Removing entirely from the mouth of a container: objects too long or large to be taken from a container in a vessel or fistful.
Drinking liquid from a container: This would apply to drinking from the container without moving the container from its place. If the container is moved from its place, that would constitute the taking. As with the fistful, the Commentary argues that the liquid is taken only when the liquid ingested does not make contact with the liquid not ingested. This can be done either by swallowing, by closing one’s lips, or by removing one’s mouth from the container.
Moving the object from one part of one’s body to another: an object that one is already carrying before deciding to steal it. The Vibhaṅga recognizes five body parts here: head, upper torso, hip, and each of the hands. The Commentary defines head as anything above the neck; upper torso as anything below the head down, on the torso, to the level of the sternum, and on the arm, to the elbow; hip as the remainder of the body below the upper torso; and hand as the arm from the elbow on down. The Commentary notes that this definition applies only to cases where the owners have not asked one to carry the article for them. Neither the Commentary nor the Sub-commentary explains this condition, but a possible reason might be that if they have asked a bhikkhu to carry the article for them, without their intending for him to give it to someone else, it would count as guarded by him or deposited with him for safe keeping, and thus would fall under another category. If, on the other hand, they asked him to carry the object to give to someone else and he decided to take it for himself, the case would come under Deceit, discussed below.
Dropping the object: an object one is already carrying before deciding to steal it.
Causing the object to move a hairbreadth upstream, downstream, or across a body of water: a boat or any similar vessel floating in water.
Breaking an embankment so that water flows out: water in a lake, canal, or reservoir.
Causing an animal to move all its feet: two-footed (this includes human beings, i.e., slaves), four-footed, many-footed animals. According to the Commentary, this applies whether one touches the animal or simply lures it or threatens it without touching it. If the animal is lying down, simply getting it to get up on its feet counts as taking it. In the case of helping a slave to escape from slavery, if the slave follows one’s order or advice to escape, one is guilty of taking; but if one simply informs the slave of good ways to reach freedom or offers food or protection along the way, one incurs no offense.
Cutting down: plants growing in place, whether on dry land or in a body of water. The Commentary states that once the plant is cut totally through, then even though it doesn’t yet fall down—as when a tree is entangled in the branches of neighboring trees—it is nevertheless taken.
Causing the owner to give up efforts (§) to regain possession: pieces of land (fields, orchards, building sites), buildings, objects deposited with a bhikkhu for safekeeping. (According to the Commentary, items loaned to a bhikkhu also fall into this category.) According to the Vibhaṅga, if a case of this sort goes to court, this type of taking is completed when the owner finally loses the case. The Vinaya-mukha adds that if the owner appeals the case after the first hearing, the taking is accomplished when the owner loses in the highest court to which he/she makes an appeal.
The discussion in the Commentary and Sub-commentary indicates that the two categories of “objects a bhikkhu has been asked to guard,” and “objects deposited with a bhikkhu for safe keeping” differ in that in the latter case the object has been handed to the bhikkhu, whereas in the former it hasn’t. This, however, does not fit with the Vibhaṅga, which in defining “deposited” uses the word upanikkhitaṁ, which in [NP 18](./Section0014.html#NP18) means “placed down next to.” A way to distinguish the two categories more closely in line with the Vibhaṅga would be to say that, in the latter case, the object is in such a location that the owner, in order to retrieve it, would have to ask the bhikkhu’s permission to do so, whereas in the former he/she wouldn’t. For example, an item placed in the bhikkhu’s hut or a monastery storeroom would count as deposited with the bhikkhu—regardless of whether it had been handed to him—whereas an item set by the side of a public road—with the bhikkhu simply asked to watch over it for a short period of time—would count as an object he has been asked to guard.
Shifting a boundary marker: pieces of land. The Vinaya-mukha notes that this contradicts the preceding definition of how one takes a piece of land, as the owner might not even know that the marker had been moved, and would not necessarily give up ownership even if he/she saw a bhikkhu moving it. The Sub-commentary tries to explain the discrepancy by maintaining that shifting a boundary marker fulfills the factor of effort here only if the act of shifting the marker, in and of itself, induces the owner to give up any efforts to reclaim the land, but that would make this category superfluous. A better explanation would be that this definition of taking applies to attempts to lay claim to Saṅgha land, for otherwise—if land can be stolen only when the owner abandons ownership—then Saṅgha land could not be stolen, because there is no one acting for the Saṅgha of the Four Directions who could renounce once and for all any efforts to reclaim the land.
Exchanging lottery tickets: See Swindling, below.
Taking a dutiable item through a customs area without paying duty: See Smuggling, below.
Of these various ways of taking, the Commentary devotes the most space to the first, “moving the object from its place.” Its discussion is at odds with the Canon on many points, most notably in striking out the separate categories for taking large objects from a container (removing it entirely from the mouth of a container) and boats (causing them to move a hair-breadth upstream, downstream, or across a body of water), and simply subsuming them under this category. Although it may have regarded these separate categories as arbitrary, it introduces many arbitrary distinctions and inconsistencies of its own. Apparently its distinctions come from the ancient commentaries, for even Buddhaghosa expresses despair at trying to commit them all to writing. Here we will stick with the Canon’s scheme for defining the act of taking, and focus on the parts of the Commentary’s discussion that accord with the Canon. As for those that deviate from the Canon, only important deviations will be noted.
In general, the Commentary defines an object’s place in terms of the directions in which it can be moved: up, down (as when an object sitting on sand can be pushed down into the sand), left, right, forward (toward the person taking it), and away. With reference to the last five of these actions, the place of the object is defined in three-dimensional terms: the space it occupies. Thus to take an object in any of these directions, one must push or pull it entirely outside of the coordinates of the space it initially occupied. However, with reference to lifting the object up, the place is defined in two-dimensional terms: the area of contact between the object and its support, whether that support is another object or the ground. Thus to take an object by lifting it, one only need lift it a hairbreadth from its support.
For example, a television set on a shelf is taken either when it is slid left along the shelf to the point where its right side is just left of where the left side used to be, or slid right to the point where its left side is just right of where the right side used to be, or lifted a hairbreadth off the shelf.
Because objects in the air have no support, the Commentary defines their space in three-dimensional terms no matter which direction they are moved. For instance, if one catches a piece of cloth being blown by the wind, its place is the three-dimensional space it occupies at the moment one catches it. If one stops a flying peacock without touching it, its place is the three-dimensional space it occupies at the moment it stops to hover. In either case, the object is taken when displaced any direction outside the coordinates of that space. In the case of the cloth, this could be done simply by dropping it. In the case of the peacock, it could be done by waving one’s hands and getting it to fly in the desired direction. If the peacock happens to land on one’s arm, it is taken when one moves it to another part of one’s body or puts it down.
For animals swimming in water, it would make sense to define place in the same terms as birds flying in the air, but the Commentary insists that the entire body of water in which they are kept constitutes their place.
Objects on a living person—such as a bracelet on the person’s arm—have the person’s body as their place. Thus if, in trying to remove the bracelet, one pulls it up and down the arm, it is not yet taken. It is taken only when one removes it entirely from the hand. If one is stealing the person’s clothes, they are taken only when removed from his/her body. If the person, stripped of the clothes, is still holding onto them, they are taken only when pulled from his/her hand.
For some objects, the Commentary defines place in terms that seem rather arbitrary. For instance, a robe on a line is taken when it is lifted a hairbreadth off the line, but for some reason if it is moved along the line it is not taken until it is ten or twelve fingerbreadths away from the area it originally occupied on the line. An object leaning against a wall has two places: the spot where it sits on the ground and the spot it touches on the wall. A vehicle’s place is defined two-dimensionally: the spots where its wheels touch the ground (perhaps this is defined on analogy with the feet of an animal). An object tied to a post has that connection as an extra part of its place. Thus a pot tied by a chain to a post is not taken until it is removed from the area it occupied under the general definition above and either the chain is cut or the post pulled up. Although there is a certain logic to each of these cases, the added distinctions seem unnecessary complications added to an already complicated issue. For simplicity’s sake there would seem every reason to stick with the general definition of place even in these special cases, although there is nothing in the Vibhaṅga to prove or disprove the Commentary here.
However, as noted above, several of the Commentary’s definitions of place clearly contradict the Vibhaṅga. In some cases, the contradiction is simple, as when the Commentary insists that an animal kept in an enclosure—a cow in a pen, a peacock in a garden—is taken not when its feet are moved, but only when removed from the enclosure. In other cases, the contradiction is more complex, in that the Commentary tries to define taking as “moving the object from its place” in cases where the Vibhaṅga defines the act of taking in other terms. For example, with an object sitting in the bottom of a container, it says that the object is taken when lifted a hairbreadth from the bottom, there being no need to remove the object from the container before it is considered taken. In the case of a boat, the Commentary defines the place of the boat in modified three-dimensional terms: the entire space where the boat displaces water. To take it by pushing it down in the water, the top of the boat has to sink lower than the level where the keel originally was; to take it by lifting it up, one need only lift it a hairbreadth above the water, there being no need to lift the keel to a point higher than where the highest point of the boat was. However, because the Vibhaṅga does not define the taking of boats or objects in containers in terms of “moving the object from its place,” the Commentary’s analysis of these possibilities is beside the point.
Other special cases in the Vibhaṅga include the following:
a. Swindling: Objects are being distributed by lot to the Community, and a bhikkhu takes the portion rightfully going to another bhikkhu. The Vibhaṅga offers no further explanation, but the Commentary states that the taking can be accomplished in various ways. If, after the drawing of the tickets, X puts his ticket in the place of Y’s ticket before picking up Y’s, the taking is accomplished when he picks up Y’s. If he picks up Y’s before putting his own ticket in its place, the taking is accomplished when he lets go of his own. If both tickets don’t appear (they’ve been concealed?) and X gets Y to take X’s portion, the taking is accomplished when he then picks up Y’s portion. The underlying assumption in all this is that Y’s portion belongs to him as soon as he has drawn the ticket for it. The Commentary adds that this exchange counts as theft regardless of whether X’s portion is worth more than Y’s, less than Y’s, or the two portions are of equal value.
The Commentary to [Mv.I.62](./Section0054.html#Mv.I.62.3) adds that if a bhikkhu claims higher seniority than is actually his in order to obtain better donations, he should be treated under this rule when, through this ruse, he obtains donations that should have gone to another bhikkhu. However, this type of action would appear to fall under Deceit, discussed below.
b. Smuggling: A bhikkhu carrying items subject to an import duty hides them as he goes through customs. The taking is accomplished when the item leaves the customs area. The Vibhaṅga calculates the value of the object here, for the purpose of determining the seriousness of the offense, by the duty owed on it, and not its actual selling price.
The Vinīta-vatthu states that there is no penalty if the bhikkhu goes through customs not knowing that he has an item subject to import duties among his effects. The relevant cases show that this can mean one of two things: Either he knows that he has the item with him but not that it is subject to import duties; or he does not know that he has the item with him at all. The Commentary adds that if a bhikkhu informs the customs official that he has an item subject to import duties and yet the official decides not to collect the duty, the bhikkhu incurs no penalty. It also states that if a bhikkhu goes through customs with a conditional intent—“If they ask to see my belongings, I’ll pay the fee, but if they wave me through I won’t”—then if the officials do wave him through without asking to see his belongings, he incurs no offense. At present, when people entering a country are asked to choose different passageways through a customs area, marked “Goods to declare” and “Nothing to declare,” a bhikkhu with goods to declare who enters the “Nothing to declare” passageway cannot take advantage of this allowance for conditional intent, as he has already indicated an unconditional intent through his choice of a passageway.
The Vibhaṅga states that if, to avoid paying an import duty at a frontier, one crosses the frontier in such a way as to evade the customs area (§), one incurs only a dukkaṭa. At present, the civil law judges this sort of behavior as more reprehensible than slipping an item through customs, but from the point of view of the Vinaya the lesser penalty still holds. The Commentary says that this allowance applies only in cases when one evades the customs area by a distance of more than two leḍḍupātas—approximately 36 meters. (A leḍḍupāta is a unit of measure that appears frequently in the Canon and is defined as the distance a man of average stature can throw a clod of dirt underarm.)
The Vibhaṅga’s position here is important to understand, for it has implications concerning the extent to which the evasion of other government fees and taxes would fall under this rule. The underlying assumption here seems to be that a dutiable item carried into a customs area is impounded by the king (or government). The payment of the duty is thus an act of recovering full ownership of the item. An item carried across the frontier without entering the customs area would not count as impounded, even though the king would probably claim the right to impound or even confiscate it if his agents apprehended the smuggler. Translated into modern terms, this would indicate that the evasion of other taxes claimed by the government—such as inheritance taxes—would incur the full penalty here only if the item being taxed was impounded on government property, and one evaded the tax by taking the item out of impoundment without paying the required fee. Otherwise, the penalty for tax evasion would be a dukkaṭa.
None of the texts discuss the question of contraband, i.e., articles that a customs official would confiscate outright rather than allow into a country after the payment of a fee. Apparently, such goods smuggled through a customs house would fall into this category, although—as even the payment of a fee would not legally get them through customs—their selling value would be the determining factor in calculating the seriousness of the offense.
c. Malfeasance: The Vinīta-vatthu includes an unusual case in which a wealthy man with two heirs—a son and a nephew—tells Ven. Ajjuka, “When I am gone, show the place (where my treasure is buried) (§) to whichever of my heirs has the greater faith.” After the man’s death, Ven. Ajjuka sees that the nephew has the greater faith and so shows the place of the treasure to him. The nephew awards the Saṅgha with a large donation; the son accuses Ven. Ajjuka of having wrongfully deprived him of his rightful inheritance. On hearing this, Ven. Ānanda first accuses Ven. Ajjuka of a pārājika, but when the wealthy man’s wishes are revealed, Ven. Upāli convinces Ven. Ānanda that Ven. Ajjuka committed no offense.
None of the texts discuss the details of this case, which seems to have postdated the Buddha’s parinibbāna. The apparent assumption underlying the ruling is that when X dies, the inheritance he leaves to Y belongs to Y from the moment of X’s death. Otherwise, the items in question would be ownerless until apportioned out among the heirs, and thus would not fulfill the factor of object under this rule. Also, the taking in this case would be accomplished in line with the Vibhaṅga’s standard definition for taking with regard to the objects involved—and not necessarily when the cheated heir gives up trying to reclaim the inheritance—for in Ven. Ajjuka’s case Ven. Ānanda was ready to impose a pārājika even though the son had not abandoned his claim.
d. Destruction of property: The Vibhaṅga states that if a bhikkhu breaks, scatters, burns, or otherwise renders unusable the property of another person, he incurs a dukkaṭa. Thus the simple destruction of property does not fulfill the factor of effort under this rule. The Vinīta-vatthu contains a case in which a bhikkhu intends to steal some grass belonging to the Community but ends up setting fire to it instead, thus incurring a dukkaṭa. The Commentary notes that this ruling applies only because the bhikkhu did not move the grass from its place. What this means is that if he had first taken the grass from its place and then destroyed it in any way, the factor of effort under this rule would have been fulfilled and—all other factors of a pārājika offense being present—he would have been guilty of the full offense.
Special cases cited in the Commentary include the following:
a. False dealing: A bhikkhu makes counterfeit money or uses counterfeit weights. The taking is accomplished when the counterfeit is accepted. This case, however, would seem to fall under the category of Deceit (see below), in that the counterfeit is a form of a lie. If the owner of an object accepts the counterfeit and hands over an object in return, the object cannot be described as stolen. However, the object obtained in trade in this way would have to be forfeited under [NP 20](./Section0014.html#NP20), and the Community, if it felt so inclined, could impose a disciplinary transaction on the offender (see [BMC2, Chapter 20](./Section0060.html#BMC2chapter20)).
b. Robbery: Using threats, a bhikkhu compels the owner of an object to give it to him. The taking is accomplished when the owner complies. This would not count as giving because the owner is not giving the item willingly.
c. Concealing: A bhikkhu finds an object left on the ground and, to deceive the owner, covers it with dirt or leaves with the intent of stealing it later. If the owner, after searching for the item, temporarily abandons the search and the bhikkhu then picks it up, it is stolen when removed from its base. If the owner, deciding that the item is lost, abandons it for good before the bhikkhu picks it up, the Commentary says that the bhikkhu is not guilty of theft but owes the owner compensation. We have discussed the topic of lost items above, under Object, and will discuss the topic of compensation below.
The value of the object
As stated above, any case of stealing counts as an offense, but the gravity of the offense is determined by the value of the object. This is the point of the phrase in the rule reading, “just as when there is the taking of what is not given, kings… would banish him, saying… ‘You are a thief.’” In other words, for a theft to entail a pārājika it must be a criminal case, which in the time of the Buddha meant that the goods involved were worth at least five māsakas, a unit of money used at the time. Goods valued collectively at more than one māsaka but less than five are grounds for a thullaccaya; goods valued collectively at one māsaka or less, grounds for a dukkaṭa. As the Commentary notes, the value of the articles is determined by the price they would have fetched at the time and place of the theft. As stated above, in the case of smuggling the Vibhaṅga measures the value of the object, for the purpose of this rule, as the duty owed on it, not the value of the object itself.
This leaves us with the question of how a māsaka would translate into current monetary rates. No one can answer this question with any certainty, for the oldest attempt to peg the māsaka to the gold standard dates from the V/Sub-commentary, which sets one māsaka as equal to 4 rice grains’ weight of gold. At this rate, the theft of an item worth 20 rice grains’ (1/24 troy ounce) weight of gold or more would be a pārājika offense.
One objection to this method of calculation is that some of the items mentioned in the Vinīta-vatthu as grounds for a pārājika when stolen—e.g., a pillow, a bundle of laundry, a raft, a handful of rice during a famine—would seem to be worth much less than 1/24 troy ounce of gold. However, we must remember that many items regarded as commonplace now may have been viewed as expensive luxuries at the time.
In addition, there is one very good reason for adopting the standard set by the V/Sub-commentary: It sets a high value for the least article whose theft would result in a pārājika. Thus when a bhikkhu steals an item worth 1/24 troy ounce of gold or more, there can be no doubt that he has committed the full offense. When the item is of lesser value, there will be inescapable doubt—and when there is any doubt concerning a pārājika, the tradition of the Vinaya consistently gives the bhikkhu the benefit of the doubt: He is not expelled. A basic principle operating throughout the texts is that it is better to risk letting an offender go unpunished than to risk punishing an innocent bhikkhu.
There is a second advantage to the V/Sub-commentary’s method of calculation: its precision and clarity. Some people have recommended adopting the standard expressed in the rule itself—that if the theft would result in flogging, imprisonment, or banishment by the authorities in that time and at that place, then the theft would constitute a pārājika—but this standard creates more problems than it would solve. In most countries the sentence is largely at the discretion of the judge or magistrate, and the factor of value is only one among many taken into account when determining the penalty. This opens a whole Pandora’s box of issues, many of which have nothing to do with the bhikkhu or the object he has taken—the judge’s mood, his social philosophy, his religious background, and so forth—issues that the Buddha never allowed to enter into the consideration of how to determine the penalty for a theft.
Thus the V/Sub-commentary’s method of calculation has the benefits that it is a quick and easy method for determining the boundaries between the different levels of offense in any modern currency; it involves no factors extraneous to the tradition of the Vinaya, and—as noted above—it draws the line at a value above which there can be no doubt that the penalty is a pārājika.
The Commentary, arguing from two cases in the Vinīta-vatthu, states that if a bhikkhu steals several items on different occasions, the values of the different items are added together to determine the severity of the offense only if they were stolen as part of a single plan or intention. If they are stolen as a result of separate intentions, each act of stealing is treated as a separate offense whose severity depends on the value of the individual item(s) stolen in that act. This point is best explained with examples:
In one of the Vinīta-vatthu cases, a bhikkhu steals ghee from a jar “little by little.” This, according to the Commentary, means that first he decides to steal a spoonful of ghee from a jar. After swallowing the spoonful, he decides to steal one more. After that he decides to steal another, and so on until he has finished the jar. Because each spoonful was stolen as a consequence of a separate plan or intention, he incurs several dukkaṭas, each for the theft of one spoonful of ghee.
If, however, he decides at one point to steal enough lumber to build himself a hut and then steals a plank from here and a rafter from there, taking lumber over many days at different places from various owners, he commits one offense in accordance with the total value of all the lumber stolen, inasmuch as he took all the pieces of wood as a consequence of one prior plan.
Derived offenses
In addition to the lesser offenses related to the value of the object, the Vibhaṅga also lists lesser offenses related to two factors of the full offense under this rule: effort and perception.
With regard to effort, the Vibhaṅga states that the derived offenses begin when one walks toward the object with the intent of stealing it, with each separate act—and in the case of walking toward the object, each step—incurring a dukkaṭa, up to a point just prior to the actual stealing where the offenses turn into thullaccayas. Where this point occurs depends on the act constituting the actual taking, as follows:
Moving the object from its place: all steps up through touching the object: dukkaṭas. Making the object budge without fully moving it from its place: a thullaccaya.
“Cutting off” a fistful: all steps up through touching the object: dukkaṭas. Making the object budge without fully cutting off a fistful: a thullaccaya.
Sticking a vessel into a pool of liquid or pile of objects and causing some of the pool or pile to enter the vessel: all steps up through touching the pool or pile: dukkaṭas. Making the pool or pile budge without fully getting five māsakas worth separated from the pool or pile and inside the vessel: a thullaccaya.
Removing entirely from the mouth of a container: all steps up through touching the object: dukkaṭas. Lifting the object: a thullaccaya. Bringing it up to the level of the mouth of the container: another thullaccaya.
Drinking liquid from a container: all steps up through drinking one māsaka worth of liquid as part of one prior plan (§): dukkaṭas. Drinking between one and five māsakas’ worth of liquid: a thullaccaya.
Moving the object from one part of one’s body to another or dropping it: all steps up through touching the object with the intent to move it or drop it: dukkaṭas. Moving it but not to the point of putting it on another part of the body or dropping it: a thullaccaya.
Causing a boat to move a hair-breadth upstream, downstream, or across a body of water: all steps up through loosening the moorings and/or touching it: dukkaṭas. Making the boat rock without causing it to move a hair-breadth upstream, downstream, or across a body of water: a thullaccaya.
Breaking an embankment so that water flows out: all steps up through breaking the embankment and letting up to one māsaka’s worth of water flow out: dukkaṭas. Letting between one and five māsakas’ worth of water flow out: a thullaccaya.
Causing an animal to move all its feet: all steps up through touching the animal: dukkaṭas. Getting it to move any of its feet prior to its moving its last foot: a thullaccaya for each step.
Cutting down: all steps prior to the next to the last chop needed to cut the plant through: dukkaṭas. The next to the last chop: a thullaccaya.
Causing the owner to give up efforts (§) to regain possession of objects handed to one for safe keeping: all steps up through telling the owner, “I didn’t receive (§) it”: dukkaṭas. Inducing doubt in the owner’s mind as to whether he/she will get the object back: a thullaccaya. If the case goes to court and the bhikkhu loses, he incurs another thullaccaya.
Causing the owner to give up efforts (§) to regain possession of land: all steps up to laying claim to the land: dukkaṭas. Inducing doubt in the owner’s mind as to whether he/she will lose the land: a thullaccaya. Again, if the case goes to court and the bhikkhu loses, he incurs another thullaccaya.
Shifting a boundary marker: all steps up through removing the boundary marker from its original place: dukkaṭas. Any steps between that and putting the boundary marker in a new place: thullaccayas.
Taking a dutiable item through a customs area without paying duty: all steps up through touching the object with the intent of taking it out of the customs area: dukkaṭas. Making the object move without fully moving it from the customs area: a thullaccaya.
The commentaries state that when a heavier penalty is incurred in offenses of this sort, only that penalty is counted, and the preceding lighter ones are nullified. They derive this principle from a passage in the Vibhaṅga to [Sg 10-13](./Section0011.html#Sg10) and, using the Great Standards, apply it to all the rules. Thus, for example, if a bhikkhu trying to steal a book simply touches it, he incurs a string of dukkaṭas for each step in walking up to the book and taking hold of it. If he budges the book slightly but not so much as to move it completely from its place, the dukkaṭas are nullified and replaced with a thullaccaya. If he actually takes the book, that nullifies the thullaccaya and replaces it with a pārājika.
There is some question, though, as to whether the compilers of the Canon intended the passage under [Sg 10-13](./Section0011.html#Sg10) to be taken as a general principle. They don’t mention it under any of the other saṅghādisesa rules or in the otherwise parallel passage in the Vibhaṅga to [Pc 68](./Section0022.html#Pc68). Thus, the principle seems intended only for those four rules. To be on the strict side, it seems best to say that, unless otherwise noted, a bhikkhu who completes an act must make amends for all the offenses incurred in leading up to it. Under the pārājika rules this is a moot point, for once the pārājika is committed the offender is no longer a bhikkhu. But under the lesser rules this principle is still relevant.
As for the derived offenses related to the factor of perception, these deal with the situation in which an article does not qualify as not given under this rule—e.g., it has no owner, or the owner has given it up or thrown it away—and yet the bhikkhu perceives it as not given. If he takes it with intent to steal, he incurs a dukkaṭa for each of the three stages of effort. In the case of an object that can be stolen by moving it from its place, these would be: touching the object, making it budge, moving it from its place. A similar set of offenses would apply in the stages appropriate for taking any of the other types of objects listed above.
Accomplices
A bhikkhu can commit an offense not only if he himself steals an object, but also if he incites another to steal. The offenses involved in the acts leading up to the theft are as follows:
If a bhikkhu tells an accomplice to take an object that would be grounds for a pārājika, he incurs a dukkaṭa. When the accomplice agrees to do so, the instigator incurs a thullaccaya. Once the accomplice succeeds in taking the object as instructed—regardless of whether he gets away with it, and of whether he shares it with the instigator—the instigator incurs a pārājika. If the accomplice is a bhikkhu, he too incurs a pārājika. If the object would be grounds for a thullaccaya or a dukkaṭa, the only penalties incurred prior to the actual theft would be dukkaṭas.
The Commentary insists that if the accomplice is sure to take the item, the bhikkhu incurs a pārājika as soon as the accomplice agrees to take it. However, as the Vinaya-mukha notes, this contradicts the Canon, and there is no way to measure whether a proposed theft is a sure thing or not.
If there is any confusion in carrying out the instructions—e.g., if the accomplice, instead of taking the object specified by the instigator, takes something else instead; or if he is told to take it in the afternoon but instead takes it in the morning—the instigator incurs only the penalties for proposing the theft and persuading the accomplice, and not the penalty for the theft itself. The same holds true if the instigator rescinds his order before the theft takes place, but the accomplice goes ahead and takes the object anyway.
According to the Vibhaṅga, an instigator who wishes to call off the theft before it is carried out but who for one reason or another cannot get his message to the accomplice in time, incurs the full penalty for the completed theft.
The Commentary also adds that the factor of the thief’s perception does not affect the penalties. In other words, if Bhikkhu A tells Bhikkhu B to steal object X, and B takes Y, thinking it to be X, A is absolved of any responsibility for the theft. Conversely, if B takes X, thinking it to be Y, A is guilty of the theft.
The Vibhaṅga also notes that if an instigator tells his accomplice to take an item when he (the instigator) makes a sign—such as winking (§) his eye, lifting his eyebrow, or lifting his head—he incurs a dukkaṭa in making this order, a thullaccaya if the accomplice agrees to do as told, and the full offense when the accomplice actually takes the item at the time of the sign. If the accomplice takes the item before or after the sign, though, the instigator incurs no offense. The Sub-commentary, noting that the signs mentioned in the Vibhaṅga are so fleeting that it would be impossible to take the item at the very moment of the sign, interprets this last statement as follows: If the accomplice starts trying to take the item right after the sign, then regardless of how much time that takes, it counts as “at the time of the sign.” Only if he makes an appreciable delay before attempting the theft does it count as “after the sign.”
We can extrapolate from this discussion and say that any physical gesture that, from the context of events, is intended and understood as an order to take an item, would count under the factor of effort here. This extrapolation will be useful when treating the unauthorized use of credit cards, below.
The Vibhaṅga states that if there is a chain of command involving two or more bhikkhus (not counting the instigator)—for example, Bhikkhu A telling Bhikkhu B to tell Bhikkhu C to tell Bhikkhu D to commit the theft—then when D agrees to commit the theft, the instigator incurs a thullaccaya. Once D takes the object as instructed, all four incur the penalty coming from the theft. If there is any confusion in the chain of command—e.g., Bhikkhu B instead of telling C tells D directly—neither A nor C incurs the penalty for the theft itself. Bhikkhu A would incur a dukkaṭa for telling B, whereas C would incur no penalty at all.
The Commentary notes that the instigator in any of these cases incurs the penalty only if he gives an explicit command to take the item (although this statement has to be qualified to include signs meant as commands, as mentioned above). If he simply tells his accomplice that such-and-such an item is located in such-and-such a place and would be easy to steal, he incurs no penalty even if the accomplice actually commits the theft. This point applies to many of the rules in which giving a command to do an action that would break the rule would also fulfill the factor of effort: A statement counts as a command only if it is a clear imperative to do the action. Under the few rules where this is not the case, we will note the exception.
None of the texts mention the scenario in which Bhikkhu A tells an accomplice to steal an item entailing a pārājika but then disrobes before the accomplice takes the item as requested. If the accomplice actually takes the item in line with the request, the factors for the full offense would be fulfilled. That would mean that A cannot reordain in this lifetime.
Another scenario not mentioned in the texts is one in which Bhikkhu A tells Bhikkhu B to take an item for him without letting B know that he is committing a theft—for instance, telling B that the item belongs to him (A), that it is ownerless, or letting B come to either conclusion on his own. Nevertheless, it would appear that if B then actually takes the item as told, all of the factors for an offense would be fulfilled for A: He gives the command to take (the imperative the Vibhaṅga uses in illustrating commands to “steal”—avahara—can also simply mean to “take”), he knows that the item belongs to someone else, he intends to have it taken, and it is taken as a result of his command. As for B, he would not be committing an offense, as his state of mind would not fulfill the factors of perception and intention for a theft.
Cases of this sort would not fall under Deceit, discussed below, because that category covers only cases where one deceives the owner of the item, or his agent, into giving the item, and thus technically the item counts as given. Here the item is not given, for the person deceived into taking it is not responsible for it at all.
As with the extrapolation from the discussion of signs, this application of the Great Standards will also be useful when we discuss unauthorized use of credit cards, below. It will also prove useful in our discussion of the following rule.
Shared responsibility
If bhikkhus go in a group to commit a theft but only one of them does the actual taking, all still incur the penalty coming from the theft. Similarly, if they steal valuables worth collectively more than five māsakas but which when divided among them yield shares worth less than five māsakas each, all incur a pārājika. According to the Commentary, any bhikkhus who assist a bhikkhu in a fraudulent case also incur the same offense he does: a pārājika if he wins, a thullaccaya if he loses. This judgment, however, must be qualified by noting that the assistant incurs these penalties only if he perceives the case to be fraudulent.
Special cases
As mentioned above, the notion of stealing covers a wide range of actions. To delineate this range, the texts discuss a variety of actions that border on stealing, some of them coming under this rule, some of them not.
Belongings of the Saṅgha. According to the Commentary to [NP 30](./Section0015.html#NP30), an item belongs to the Saṅgha when donors, intending for it to be Saṅgha property, offer it to one or more bhikkhus representing the Saṅgha, and those bhikkhus receive it, although not necessarily into their hands. Saṅgha property thus counts as “what is not given” as far as individual bhikkhus are concerned, for it has an owner—the Saṅgha of all times and places—and is guarded by the individual Community of bhikkhus.
The Canon divides Saṅgha property into two sorts: light/inexpensive (lahu-bhaṇḍa) and heavy/expensive (garu-bhaṇḍa). Light property includes such things as robes, bowls, medicine, and food; heavy property, such things as monastery land, buildings, and furnishings (see [BMC2, Chapter 7](./Section0046.html#BMC2chapter7)). The Buddha gave permission for individual Communities to appoint officials to be responsible for the proper use of Saṅgha property. The officials responsible for light property are to distribute it among the members of the Community, following set procedures to ensure that the distribution is fair (see [BMC2, Chapter 18](./Section0058.html#BMC2chapter18)). Once an individual member has received such property, he may regard it as his own and use it as he sees fit.
In the case of heavy property, though, the officials are responsible for seeing that it is allotted for proper use in the Community, but the individual bhikkhus allowed to use it may not regard it as their own personal property. This is an important point. At most, such items may be taken on loan or exchanged—with the approval of the Community—for other heavy property of equal value. A bhikkhu who gives such items away to anyone—ordained or not—perceiving it as his to give, incurs a thullaccaya no matter what the value of the object ([Cv.VI.15.2](./Section0028.html#Cv.VI.15.2)—see [BMC2, Chapter 7](./Section0046.html#BMC2chapter7)). Of course, if he knows that it is not his to give or take, then in appropriating it as his own he incurs the penalty for stealing.
The Buddha was highly critical of any bhikkhu who gives away heavy property of the Saṅgha. In the origin story to Pr 4, he cites the case of a bhikkhu who, hoping to find favor with a lay person, gives that person some of the Saṅgha’s heavy property. Such a bhikkhu, he says, is one of the five great thieves of the world.
However, the Vinīta-vatthu includes a case where bhikkhus visiting a monastery arrange for a lay person to pick and give them some of the fruit growing in the monastery. The Buddha, in judging the case, states that they committed no offense as they were taking the fruit just for their own consumption. This implies that if they were to take the fruit for other purposes—to have it sold, for instance—they would be guilty of an offense. The Commentary adds that visiting bhikkhus have this right only if the resident bhikkhus are not caring for the fruit trees, if the trees had not been donated to provide funds for a particular purpose in the monastery, or if the resident bhikkhus eat from the trees as if they alone were the owners and are not willing to share. In other words, the visiting bhikkhus, as a matter of courtesy, should ask the residents first. If the residents share, one may take what they offer. If they don’t, and the trees are not dedicated to another purpose, one may take just enough for one’s own consumption. The Commentary also adds that if the monastery is vacant, one may go ahead and take the fruit, for it is meant for all bhikkhus who come.
The Vinīta-vatthu also notes that a bhikkhu who takes heavy property of the Saṅgha donated for use in a particular monastery and uses it elsewhere incurs a dukkaṭa. If he takes it on loan, he commits no offense.
Deceit. If a bhikkhu uses a deliberate lie to deceive another person into giving an item to him, the transgression is treated not as a case of stealing—because, after all, the item is given to him—but rather as a case of lying. If the lie involves making false claims to superior meditative attainments, it is treated under Pr 4. If not, it is treated under [Pc 1](./Section0016.html#Pc1). The Vinīta-vatthu gives seven examples: five cases where, during a distribution of requisites in the Community, a bhikkhu asks for and is given an extra portion for a non-existent bhikkhu; and two where a bhikkhunī approaches her teacher’s lay supporter and asks for medicines, saying that they will be for her teacher, although she actually ends up using them herself. In all of these cases, the penalty is a pācittiya for lying under [Pc 1](./Section0016.html#Pc1).
The Commentary, in its discussion of the bhikkhus taking an extra portion for a non-existent bhikkhu, insists that the penalty for lying applies only to cases where donors have already given the requisites to the Community. If, prior to their giving the requisites to the Community, a bhikkhu asks them directly for a portion for a non-existent bhikkhu, the Commentary says that he has committed a theft under this rule. This, however, contradicts the ruling in the two cases involving the bhikkhunī, who asks directly from the donor. Thus it would appear that in any case where a bhikkhu obtains an article from a donor through deceit, the penalty would be the pācittiya for lying.
The question arises, what about a bhikkhu who, given an item to take to someone else, originally plans to take it to the intended recipient but later changes his mind? It does not seem right to impose a heavier penalty on him than on a person who uses deceit to get the item to begin with, so it seems best to impose on him the dukkaṭa for a broken promise ([Mv.III.14.1-14](./Section0050.html#Mv.III.14.4)—see the discussion under [Pc 1](./Section0016.html#Pc1)). For the principles surrounding the courier’s right to take an item on trust in the donor or the recipient, see the discussion of trust under the non-offense clauses.
Receiving stolen goods. Accepting a gift of goods or purchasing them very cheaply, knowing that they were stolen, would in Western criminal law result in a penalty similar to stealing itself. However, neither the Canon nor the commentaries mention this case. The closest they come is in the Vinīta-vatthu, where a groundskeeper gives bhikkhus fruit from the orchard under his care, even though it was not his to give, and there was no offense for the bhikkhus. From this it can be inferred that there is no offense for receiving stolen goods, even knowingly, although a bhikkhu who does so would not be exempt from the civil law and the consequent proceedings, in the course of which the Community would probably urge him to disrobe.
Compensation owed. The Commentary introduces the concept of bhaṇḍadeyya, or compensation owed, to cover cases where a bhikkhu is responsible for the loss or destruction of another person’s property. It defines this concept by saying that the bhikkhu must pay the price of the object to the owner or give the owner another object of equal value to the one lost or destroyed; if the bhikkhu does not give compensation, and the owner gives up his/her efforts to receive compensation, the bhikkhu incurs a pārājika. The Commentary applies this concept not only to cases where the bhikkhu knowingly and intentionally destroys the object, but also to cases where he borrows or agrees to look after something that then gets lost, stolen, or destroyed through his negligence; or where he takes an item mistakenly thinking that it was discarded or that he was in a position to take it on trust.
To cite a few examples: A bhikkhu breaks another person’s jar of oil or places excrement in the oil to spoil it. A bhikkhu charged with guarding the Community storeroom lets a group of other bhikkhus into the storeroom to fetch belongings they have left there; they forget to close the door and, before he remembers to check it, thieves slip in to steal things. A group of thieves steal a bundle of mangoes but, being chased by the owners, drop it and run; a bhikkhu sees the mangoes, thinks that they have been thrown away, and so eats them after getting someone to present them to him. A bhikkhu sees a wild boar caught in a trap and, out of compassion, sets it free but cannot reconcile the owner of the trap to what he has done. In each of these cases, the Commentary says, the bhikkhu in question owes compensation to the owner of the goods. (In the case of the mangoes, he must compensate not only the owners but also the thieves if it turns out that they had planned to come back and fetch the fruit.) If he abandons his responsibility to the owner(s), he incurs a pārājika.
In making these judgments, the Commentary is probably following the civil law of its day, for the Canon contains no reference at all to the concept of bhaṇḍadeyya, and some of its judgments contradict the Commentary’s. As we noted above, the Vibhaṅga states that if a bhikkhu breaks, scatters, burns, or otherwise renders unusable the property of another person, he incurs a dukkaṭa. When the Vinīta-vatthu discusses cases where a bhikkhu takes an item on mistaken assumptions, or where he feels compassion for an animal caught in a trap and so sets it free, it says that there is no offense. Thus it seems strange for the Commentary to assign a pārājika to an action that, according to the Canon, carries a dukkaṭa or no penalty at all. Of course, it would be a generous policy to offer the owner reasonable compensation, but it is by no means certain that a bhikkhu would have the wherewithal or liberty to do so. Because the Canon does not allow a bhikkhu to ask his supporters for donations to pay to another lay person—except for his parents ([Mv.VIII.22](./Section0049.html#Mv.VIII.22.1); see [BMC2, Chapter 10](./Section0049.html#BMC2chapter10))—there is no way a bhikkhu could raise the needed funds. The Canon places only one responsibility on a bhikkhu who causes material loss to a lay person: The Community, if it sees fit, can force him to apologize to the owner ([Cv.I.20](./Section0060.html#Cv.I.20); see [BMC2, Chapter 20](./Section0060.html#BMC2chapter20)). Beyond that, the Canon does not require that he make material compensation of any kind. Thus, as the Commentary’s concept of bhaṇḍadeyya is clearly foreign to the Canon, there seems no reason to adopt it.
Enforcement of rules. There is one important area in which even the Commentary does not require compensation, and that is when a bhikkhu sees another bhikkhu using an inappropriate object and arranges to have it destroyed. Here the Commentary draws its argument from the origin story to this rule, in which the Buddha orders the bhikkhus to destroy an inappropriately made hut—a “potter’s hut,” which was made from earth and then fired like a pot. From this example, the Commentary draws the following judgment: If a bhikkhu starts to build an inappropriate hut in a certain territory, the “owners” of the territory (i.e., the resident senior bhikkhus) should tell him to stop. If he does not heed their decision and actually builds the hut there, then when they are able to assemble a sufficient number of righteous bhikkhus, the resident senior bhikkhus can send him an order to remove it. If, after the order has been sent three times, the hut is still not removed, the bhikkhus are to dismantle it in such a way that the materials can be reused. The original builder is then to be told to remove the materials. If he doesn’t, then the resident bhikkhus are not responsible for any loss or damage they may undergo.
The Commentary then derives a further principle from this example to say that if Bhikkhu X, who is knowledgeable in the Vinaya, sees Bhikkhu Y using inappropriate requisites of any sort, he is entitled to get them destroyed or reduced to an appropriate form. He is also not obligated to compensate Y for any loss or inconvenience incurred.
Court actions. As stated above, if a bhikkhu knowingly starts an unfair court case against someone else and then wins it in the final court to which the accused makes appeal, he incurs a pārājika. The Commentary to the Bhikkhunīs’ [Sg 1](/vinaya/bhikkhuni-pati.html#sg), however, states that even if a bhikkhu is actually mistreated by someone—defamed, physically injured, robbed, etc.—and then tries to take a just court action against the guilty party, he incurs a pārājika if he wins. Again, this is an instance where the Commentary has no support from the Canon and, as the Vinaya-mukha points out, its assertion cannot stand. However, the training of a bhikkhu requires that he view all losses in the light of kamma and focus on looking after the state of his mind rather than on seeking compensation in social or material terms.
There is no question in any of the texts that if a bhikkhu is asked to give evidence in a courtroom and does so, speaking in accordance with the facts, he commits no offense no matter what the outcome for the others involved. However, [Pc 9](./Section0016.html#Pc9) would require that he first be authorized to do so by the Community if his testimony involves reporting the wrongdoing of others. See that rule for further details.
Modern cases
The modern world contains many forms of ownership and monetary exchange that did not exist in the time of the Buddha, and so contains many forms of stealing that did not exist then either. Here are a handful of cases that come to mind as examples of ways in which the standards of this rule might be applied to modern situations.
Infringement of copyright. The international standards for copyright advocated by UNESCO state that infringement of copyright is tantamount to theft. However, in practice, an accusation of copyright infringement is judged not as a case of theft but as one of “fair use,” the issue being the extent to which a person in possession of an item may fairly copy that item for his/her own use or to give or sell to another person without compensating the copyright owner. Thus even a case of “unfair use” would not fulfill the factors of effort and object under this rule, in that—in creating a copy—one is not taking possession of an item that does not belong to one, and one is not depriving the owners of something already theirs. At most, the copyright owners might claim that they are being deprived of compensation owed to them, but as we have argued above, the principle of compensation owed does not rightly belong under this rule. In the terminology of the Canon, a case of unfair use would fall under either of two categories—acting for the material loss of the copyright owners or wrong livelihood—categories that entail a dukkaṭa under the general rule against misbehavior ([Cv.V.36](./Section0049.html#Cv.V.36)). They would also make one eligible for a disciplinary transaction, such as reconciliation or banishment (see [BMC2, Chapter 20](./Section0060.html#BMC2chapter20)), which the Community could impose if it saw the infringement as serious enough to merit such a punishment.
Copying computer software. The agreement made when installing software on a computer, by which one agrees not to give the software to anyone else, comes under contract law. As such, a breach of that contract would be treated under the category of “deceit,” described above, which means that a bhikkhu who gives software to a friend in defiance of this contract would incur the penalty for a broken promise. As for the friend—assuming that he is a bhikkhu—the act of receiving the software and putting it on his computer would be treated under the precedent, mentioned above, of the bhikkhus receiving fruit from an orchard groundkeeper not authorized to give it away: He would incur no offense. However, as he must agree to the contract before installing the software on his computer, he would incur a penalty for a broken promise if he then gave the software to someone else in defiance of the contract.
Credit cards. The theft of a credit card would of course be an offense. Because the owner of the card, in most cases, would not be required to pay for the stolen card, the seriousness of a theft of this sort would be determined by how the thief used the card. [NP 20](./Section0014.html#NP20) would forbid a bhikkhu from using a credit card to buy anything even if the card were his to use, although a bhikkhu who had gone to the extent of stealing a card would probably not be dissuaded by that rule from using it or having someone else use it for him. In any event, the use of the card would be equivalent to using a stolen key to open a safe. If the thief hands the credit card to a store clerk to make a purchase, that would count as a gesture telling the clerk to transfer funds from the account of the credit card company. Because such operations are automated, the clerk’s attempt to have the funds transferred would count not as an act of deceit but an act of taking. If the credit card company’s machines authorize the transaction, then the theft occurs as soon as funds are transferred from one account to another. The seriousness of the theft would be calculated in line with the principle of the “prior plan” mentioned above.
In a situation where the funds, if transferred, would entail a pārājika, then if the machines do not authorize the transaction, the bhikkhu trying to use the card would incur a thullaccaya for getting the clerk to attempt the transfer. If the clerk, doubting the bhikkhu’s right to use the card, refuses to attempt the transfer, the bhikkhu would incur a dukkaṭa in making the gesture of command.
Similar considerations would apply to the unauthorized use of debit cards, ATM cards, phone cards, personal identification numbers, or any other means by which funds would be transferred from the owner’s account by automated means.
A forged check drawn on a bank where the scanning and approval of checks is fully automated would fall under this category. If drawn on a bank where an employee would be responsible for approving the check, the entire case would come under false dealing, discussed above.
Unauthorized telephone or Internet use would count as theft only if the charges were automatically transferred from the owner’s account. If the owner is simply billed for the charges, he/she could refuse to pay, and so no theft would have occurred. This would count, not as a theft, but as promise made in bad faith, which would incur a pācittiya. If, however, the case seemed serious enough, and the pācittiya too light a punishment, the Community could impose a disciplinary transaction on the offender.
Impounded items—such as a repaired automobile kept in a mechanic’s shop—would apparently be treated in a similar way to smuggled goods.
Non-offenses
In addition to the blanket exemptions mentioned under the preceding rule, the Vibhaṅga’s non-offense clauses here list six exemptions to this rule. Two relate to the status of the object, two to the factor of perception, and two to the factor of intention.
Object
There is no offense if a bhikkhu takes an object belonging (1) to a peta (§) or (2) to an animal (§). Thus there is no offense in taking the remains of a lion’s kill, regardless of how possessive the lion may feel, although the Commentary wisely advises waiting until the lion has eaten enough of its kill no longer to be hungry, for otherwise the bhikkhu may become lion’s kill himself.
The term peta, as used in the Canon, includes not only hungry ghosts, but also human corpses. In the early days of the religion, bhikkhus were expected to make their robes from discarded cloth, one source being the cloths used to wrap corpses laid in charnel grounds. (The bhikkhus would wash and boil the cloth before using it themselves.) However, they were not to take cloth from undecomposed bodies, and here is why:
“Now at that time a certain bhikkhu went to the charnel ground and took hold of discarded cloth on a body not yet decomposed. But the spirit of the dead one was (still) dwelling in that body. Then it said to the bhikkhu, ‘Venerable sir, don’t take hold of my cloak.’ The bhikkhu, disregarding it, went off (with the cloak). Then the body, rising up, followed right behind the bhikkhu. Then the bhikkhu, entering his dwelling, closed the door. Then the body fell down right there.”
The story gives no further details, and we are left to imagine for ourselves both the bhikkhu’s state of mind while being chased by the body and his friends’ reaction to the event. As is usual with the stories in the Vibhaṅga, the more outrageous the event, the more matter-of-fact is its telling, and the more its humor lies in the understatement.
At any rate, as a result of this incident the Buddha laid down a dukkaṭa for taking cloth from an undecomposed body—which, according to the Commentary, means one that is still warm.
The Commentary also classes devas under petas here and states that a bhikkhu may take a deva’s belongings with no penalty. It illustrates this point with two examples. In the first, a bhikkhu takes a piece of cloth left hanging on a tree as an offering to a deva. In the second, a bhikkhu with clairvoyant powers gains a vision of Sakka, the king of the devas, who is wearing an expensive cloth. The bhikkhu takes the cloth with the intention of making a robe for himself, even though Sakka keeps screaming, “Don’t take it! Don’t take it!” This latter example may have been included in the Commentary simply for its shock value in order to wake up sleepy students in the back of the room. Even if the Commentary is right in saying that the bhikkhu in question did not incur an offense, there’s no denying he’s a fool.
Perception
There is no offense if a bhikkhu takes an object perceiving it (1) to be his own or (2) to have been thrown away (§). The Commentary states that if the bhikkhu finds out that the object does indeed have an owner, he owes the owner compensation and would be guilty of an offense when the owner abandons his efforts to gain that compensation. As we have already noted, the concept of compensation owed has no basis in the Canon, but if the object still lies in the bhikkhu’s possession and he decides not to return it, that decision would count as a thieving intention. The theft of the object could then be treated under the category of a borrowed object, which in practice has the same effect as the Commentary’s notion of compensation owed: The theft would be accomplished when the owner abandons his/her efforts to regain possession. However, if the object no longer exists (it was consumed by the bhikkhu or destroyed) or is no longer in the bhikkhu’s possession (he lost it or gave it away), the resolution of the issue is purely an individual matter between the bhikkhu and the owner, although as we noted above, the Community, if it sees fit, could force the bhikkhu to apologize to the owner.
Intention
There is no offense if a bhikkhu takes an object (1) on trust or (2) temporarily.
To rightly take an object on trust, [Mv.VIII.19.1](./Section0049.html#Mv.VIII.19.1) states that five conditions must be met:
a. The owner is an acquaintance.
b. He/she is an intimate.
c. He/she has spoken of the matter. (According to the Commentary, this means that he/she has said, “You may take any of my property you want.”)
d. He/she is still alive.
e. One knows that he/she will be pleased at one’s taking it.
The Commentary to this rule states that in practice only three of these conditions need to be met: the fourth, the fifth, and any one of the first three. As the Vinaya-mukha notes, there are good practical reasons for adopting the Commentary’s interpretation here. There is also the formal reason that otherwise the first two conditions would be redundant.
[Mv.VIII.31.2-3](./Section0063.html#Mv.VIII.31.2-3) discusses how an item can be rightly taken on trust if a bhikkhu, as courier, is conveying it from a donor to an intended recipient. The deciding factor is what the donor says while handing over the item, which apparently determines who exercises rights of ownership over the item while it is in transit. If the donor says, “Give this to so-and-so” (which means that ownership has not yet been transferred to the recipient), one may rightly take the item on trust in the donor but not in the recipient. If he/she says, “I give this to so-and-so” (which transfers ownership to the recipient), one may rightly take the item on trust in the recipient but not in the donor. If, before the courier can convey the item to the intended the recipient, he learns that the owner—as determined by the donor’s statement—happens to die, he may determine the item as an inheritance from the owner.
In both cases where the item may be legitimately taken on trust, none of the texts discuss whether the factors listed in [Mv.VIII.19.1](./Section0049.html#Mv.VIII.19.1) also have to be met or whether the allowances here are a special exemption to those factors granted specifically to couriers. However, because the allowances are so particular about who maintains ownership over the article while it is in transit, it would seem that the owner would have the right to express satisfaction or dissatisfaction over the courier’s taking the item on trust. This further suggests that the courier would have to take the owner’s perceived wishes into account, which implies that the factors listed in [Mv.VIII.19.1](./Section0049.html#Mv.VIII.19.1) still hold here.
The Vinīta-vatthu treats the case of a bhikkhu who takes an item mistakenly thinking that he had the right to take it on trust; the Buddha termed this a “misconception as to trust” and did not impose a penalty. The Commentary to this rule adds that if the original owner informs one that he is displeased because he sincerely wanted to keep the item for another use, one should return it to him; but, in line with the Vinīta-vatthu, it does not indicate a penalty for not returning it. If the owner is displeased with one for other reasons, the Commentary says, there is no need to return the item.
As for taking an item temporarily, the Commentary says this means taking it with the intention that (a) “I’ll return it” or (b) “I’ll make compensation.” There is support in the Vibhaṅga for including (a) here, but none for (b). If the Commentary included (b) to cover cases where a bhikkhu borrows an object but then happens to lose or destroy it, there is no need to include it, for as we have already explained, a bhikkhu is under no compulsion to compensate people for items lost or destroyed. If the Commentary meant it to cover cases where a bhikkhu takes ownership of an object belonging to a person with whom he has not established trust and with whom he plans to discuss compensation later, it doesn’t really fit under this exemption, for one is taking permanent possession of the item. Given the strict conditions that the Canon places on the exemption for taking an item on trust, it seems unlikely that its compilers would have countenanced an exemption for a bhikkhu to go around imposing unilateral trades, taking possession of items on the unfounded assumption that the owners would gladly accept compensation at a later time. If there is any place for this sort of exemption in the Vibhaṅga’s framework, it would be as a variant on taking on trust. Thus it would have to meet the following factors: The owner is an acquaintance or an intimate or has spoken of the matter; he/she is still alive; and one knows that he/she would be pleased if one takes the item and gives compensation later.
In addition to the exemptions listed under the non-offense clauses, the Vinīta-vatthu contains ten other types of cases that involve no offense under this rule. Some of these have already been mentioned in the above discussions, but it is convenient to have them gathered in one place.
—A bhikkhu, seeing an expensive garment, feels a desire to steal it but does not act on the desire. The commentaries take this as a general principle for all rules, that the mere arising of a mind state does not constitute an offense.
—A bhikkhu, seeing a cloak blown up by a whirlwind, catches it to return it to the owners.
—A bhikkhu takes an item on trust but later discovers that the trust is misconceived.
—A bhikkhu goes through a customs house, not knowing that a dutiable item is among his belongings.
—Visiting bhikkhus, for the sake of food, take fruit from a tree belonging to the Saṅgha.
—Bhikkhus receive fruit from the guardian of an orchard, even though the guardian is not entitled to give the fruit away.
—A bhikkhu, seeing an item left lying about, puts it away so that it won’t get lost. The owner comes looking for the item and asks, “Who stole it?” The bhikkhu, perhaps ironically, responds, “I stole it.” The owner then charges him with a theft. The case goes to the Buddha, who says that the bhikkhu committed no offense, in that his answer was just a manner of speaking and not an actual acknowledgement of a theft.
—A bhikkhu, out of compassion, releases an animal caught in a hunter’s snare.
—Ven. Ajjuka points out a bequest to an heir in line with the original owner’s wishes.
—Ven. Pilindavaccha uses his psychic powers to retrieve a pair of kidnapped children. The Buddha states that this entails no penalty because such a thing lies in the province of those with psychic power. The Vinaya-mukha, in discussing this case, takes it as a precedent for saying that if a bhikkhu returns a stolen article to its legal owner, there is no offense. The Buddha’s statement, though, was probably meant to discourage bhikkhus without psychic powers from getting directly involved in righting wrongs of this sort. If a bhikkhu without psychic powers happens to learn of the whereabouts of stolen goods, kidnapped children, etc., he may inform the authorities, if he sees fit, and let them handle the situation themselves. However, for safety’s sake, a bhikkhu living in a wilderness frequented by thieves would be wise not to be perceived as siding either with the thieves or the authorities.
Summary: The theft of anything worth 1/24 ounce troy of gold or more is a pārājika offense.
\ \ \*
Should any bhikkhu intentionally deprive a human being of life, or search for an assassin for him, or praise the advantages of death, or incite him to die (saying): “My good man, what use is this evil, miserable life to you? Death would be better for you than life,” or with such an idea in mind, such a purpose in mind, should in various ways praise the advantages of death or incite him to die, he also is defeated and no longer in affiliation.
This rule against intentionally causing the death of a human being is best understood in terms of five factors, all of which must be present for there to be the full offense.
1) Object: a human being, which according to the Vibhaṅga includes human fetuses as well, counting from the time consciousness first arises in the womb immediately after conception up to the time of death.
2) Intention: knowingly, consciously, deliberately, and purposefully wanting to cause that person’s death. “Knowingly” also includes the factor of—
3) Perception: perceiving the person as a living being.
4) Effort: whatever one does with the purpose of causing that person to die.
5) Result: The life-faculty of the person is cut as the result of one’s act.
Object
The Vibhaṅga defines a human being as a person “from the time consciousness first becomes manifest in a mother’s womb, up to its death-time.” As [DN 15](/suttas/DN/DN15.html) makes clear, the presence of the new being’s consciousness is necessary for the embryo to survive in the womb. Thus the survival of the embryo in the womb is a clear sign that consciousness is present. This means that consciousness is manifest from the moment of conception.
From this it follows that a bhikkhu who intentionally causes an abortion—by arranging for the operation, supplying the medicines, or advising a woman to get an abortion and she follows through—incurs a pārājika. A bhikkhu who encourages a woman to use a means of contraception that works after the point of conception would be guilty of a pārājika if she were to follow his advice.
There is a series of cases in the Vinīta-vatthu in which bhikkhus provide medicines for women seeking an abortion, followed by two cases in which a bhikkhu provides medicines to a barren woman who wants to become fertile and to a fertile woman who wants to become barren. In neither of these two latter cases does anyone die or suffer pain, but in both cases the bhikkhu incurs a dukkaṭa. From this, the Commentary infers that bhikkhus are not to act as doctors to lay people, an inference supported by the Vibhaṅga to [Sg 13](./Section0011.html#Sg13). (The Commentary, though, gives a number of exceptions to this principle. See the discussion in [BMC2, Chapter 5](./Section0044.html#BMC2chapter5).)
The question arises as to whether one’s own life would qualify as “object” under this rule—in other words, the extent to which attempted suicides are covered here. The Vibhaṅga to this rule mentions three types of suicide, treating each of them differently.
a) In the origin story, bhikkhus search for assassins, i.e., get other people to take their lives. That action is directly mentioned in the rule and explained in the Vibhaṅga, so it does come under the rule.
b) The Vinīta-vatthu includes a case in which a bhikkhu tries to commit suicide by throwing himself over a cliff, and the Buddha formulates a separate rule to cover that case. The penalty assigned by the rule, however, does not fit the pattern for derived offenses under this rule, which shows that an attempted suicide of that sort would not be treated here.
c) The origin story also tells of bhikkhus who take their own lives, but the main rule here does not mention that action, nor does the Vibhaṅga discuss it. The Commentary extrapolates from the rule in case (b) to cover almost all attempts at suicide, but there are reasons for questioning the Commentary’s reasoning on this issue. For a discussion, see “Special cases,” below.
The Vibhaṅga states that a bhikkhu who kills a “non-human being”—a yakkha, nāga, or peta—incurs a thullaccaya. The Commentary adds a devatā to this list, and goes on to say that a spirit possessing a human being or an animal can be exorcised in either of two ways. The first is to command it to leave: This causes no injury to the spirit and results in no offense. The second is to make a doll out of flour paste or clay and then to cut off various of its parts (!). If one cuts off the hands and feet, the spirit loses its hands and feet. If one cuts off the head, the spirit dies, which is grounds for a thullaccaya.
A bhikkhu who intentionally kills a common animal is treated under [Pc 61](./Section0022.html#Pc61).
Intention & perception
The Vibhaṅga defines the factor of intention in three contexts—the word-analysis, the non-offense clauses, and the Vinīta-vatthu—analyzing it with one set of terms in the first context, and another set in the last two. There are two ways of interpreting the discrepancy: Either the two sets differ only in language but not in substance, or they actually differ in substance. The Commentary, without seeming to notice what it is doing, adopts the second interpretation. In other words, it defines the factors of intention in markedly different ways in the different contexts, yet does not assert that one set of terms is more authoritative than the other or even take note of the differences between them. In fact, it takes one of the terms common to the non-offense clauses and the Vinīta-vatthu and defines it in one way in one context and another in the other. All of this creates a great deal of confusion.
A more fruitful way of analyzing the two sets of terms, which we will adopt here, is to assume that they differ only in language but not in substance. We will take as our framework the set of terms used in the non-offense clauses and the Vinīta-vatthu, as it is clearer and more amply illustrated than the other set, and then refer to the other set, along with some of the explanations from the Commentary, when these help to give a more refined understanding of what the non-offense clauses and Vinīta-vatthu are saying.
The non-offense clauses state that there is no offense for a bhikkhu who acts unintentionally, not knowing, or without aiming at death. In the Vinīta-vatthu, unintentionally is used to describe cases in which a bhikkhu acts accidentally, such as dropping a poorly held stone, brick, or adze; removing a pestle from a shelf and accidentally knocking off another one. Not knowing is used in cases in which the bhikkhu deliberately does an action but without knowing that his action could cause death. An example would be giving food to a friend not knowing that it is poisoned. Not aiming at death is used in cases where the bhikkhu deliberately does an action but does not intend that action to result in death through the cutting of the life-faculty. Relevant examples include trying to help a bhikkhu who is choking on food by slapping him on the back and inadvertently causing his death; telling a bhikkhu to stand on a piece of scaffolding while helping with construction work, only to see the scaffolding collapse; describing the joys of heaven to a listener, only to have the listener will himself to die in hopes of going there.
Here it is important to note that telling a dying patient not to fight death, in hopes that the patient would simply allow the life-faculty to end on its own, would not count as “aiming at death” in the context of this rule. However, it is often difficult in cases like this to be sure of one’s intentions, so a wise policy would be to avoid advice of this sort as much as possible and to focus instead on encouraging the patient to develop a skillful state of mind.
Thus, to summarize the discussion thus far: To fulfill the factor of intention here, a bhikkhu must be acting intentionally, knowingly, and aiming at death.
The word-analysis covers all the same points—although it shuffles the terms around—when it defines intentionally as “having willed, having made the decision knowingly and consciously.” Without teasing out the differences in terminology, we may simply note the important point added in its analysis, which is that an act of manslaughter counts as intentional here only when the bhikkhu has made a clear decision to kill. Thus if he were to strike a person unthinkingly in a sudden fit of rage, without being clear about what his intention was, it would not qualify as “intentional” here. The Commentary seconds this point when it defines having made the decision as “having summoned up a reckless mind state, ‘crushing’ through the power of an attack.” The Sub-commentary does not explain crushing or attack here, but apparently they mean aggressively overcoming, through a brute act of will, any contrary or hesitant thoughts in the mind.
The Vinīta-vatthu contains a few cases where bhikkhus kill people in situations where they did not even know that there was a person there: throwing a stone over a precipice, not knowing that there was a person standing below; sitting down on a pile of cloth on a chair, not knowing that a child was underneath the cloth; and setting fire to a grove, not knowing that there were people in the grove. The Buddha dismisses the first two cases without explanation as not coming under this rule. The last he classifies as an example of not aiming at death. We can conclude from this example that aiming at death must include the perception that there was someone there who could die. The Commentary seconds this conclusion in its analysis of the phrase knowingly and consciously in the word-analysis’s definition of intentionally. Although it again shuffles the terms around—using consciously to describe what the Vinīta-vatthu describes as knowingly—the important point in its conclusion is that an essential element in the factor of intention is the factor of perception: In its words, one must be aware that, “This is a living being.”
Note that, given this definition, one need not know that the living being is a human being for the factor of perception to be fulfilled. The Commentary illustrates this point with an example in which a bhikkhu who, seeing a goat lying down in a certain spot during the day, decides to return to that spot to kill the goat that night. In the meantime, however, the goat gets up and a man comes to lie down in its place. The bhikkhu approaches the man in the dark, still thinking him to be a goat, and kills him. The verdict: a pārājika.
Although this judgment may seem strange, there is nothing in the Canon to contradict it. The closest case in the Vinīta-vatthu concerns a bhikkhu who digs a pitfall with the intention that whatever living beings fall into it will perish. The penalty, if an animal dies as a result, is a pācittiya; if a human being, a pārājika. In this case, the intention/perception of killing a living being is broad enough to include a human being, and so fulfills the relevant factors here.
In discussing this last case, the Commentary notes that if one digs the pitfall but then renounces one’s intention to cause death, one has to completely fill in the pitfall in such a way that it cannot cause injury—even to the extent of causing someone to stumble—if one wants to avoid the penalty coming from any injury the pitfall might cause. If the pitfall is only partially filled in and a person stumbles into it and later dies from his injuries, the bhikkhu incurs the full offense under this rule. The same judgment applies to any other attempt to kill not aimed at a particular victim. For instance, if a bhikkhu harboring this sort of general intention builds a trap but then changes his mind, he has to destroy the trap so thoroughly that it cannot be reassembled. Similarly, when a bhikkhu writes a passage describing the advantages of dying (see below) with the thought that anyone who reads it might decide to commit suicide, if he then changes his mind he has to destroy the writing so thoroughly that it cannot be pieced together. If, instead of writing the passage himself, he simply picks up a pre-existing written passage of this sort and then—with a similar intention—puts it in a place where it might be easily seen, he can avoid any penalty simply by returning the passage to the place where he found it.
In discussing the topic of pitfalls, the Commentary also treats the issue of how much of an intention counts when setting up a situation that might cause death. Specifically, it asks whether—while one is digging a hole for another purpose—a passing thought that “this hole could kill anyone who fell into it” would fulfill the factor of intention under this rule, or whether this factor would be fulfilled only if the original purpose for digging the hole was to cause death. The Commentary notes that opinions are divided on this point, but it sides with the latter position.
The Vinīta-vatthu contains an unusual case of a bhikkhu who uses a friend as a guinea pig for testing poison. The friend dies, and the bhikkhu incurs only a thullaccaya. The Commentary explains this by distinguishing two types of test: one to see if a particular poison is strong enough to kill a person; the other, to see if a particular person is strong enough to survive the poison. In either of these cases, the bhikkhu incurs a thullaccaya regardless of whether the victim dies. If, though, the bhikkhu gives poison to a person with the desire that it cause that person’s death, he incurs a pārājika if the victim dies, and a thullaccaya if not.
The Vinīta-vatthu also includes a case in which bhikkhus, out of compassion for an ill friend, hasten his death and thus incur the full offense under this rule. This shows that impulse and motive are irrelevant in defining the factor of intention here.
Effort
This factor covers four types of action: taking life, arranging an assassin, describing the advantages of dying, and inciting a person to die.
a) Taking life
The Vibhaṅga defines taking life as “the cutting off, the ending, of the life faculty; interrupting the continuity.” The Vibhaṅga lists a variety of means by which one might try to do this, which the Commentary divides into four categories:
—One’s own person: hitting with one’s hands or feet; using weapons such as knives, sticks, clubs, etc.; handing poison to a person; giving a pregnant woman medicine that would cause an abortion; moving an ill person.
—Throwing: hurling a stone, shooting an arrow. At present, shooting a gun or hurling a grenade would come under this category.
—Stationary devices: setting a trap, digging a pitfall, placing a weapon in a place where a victim may fall, sit, or lie down on it; placing poison in food, etc. At present, setting out a land mine would come under this category.
—Commanding: telling another person to commit a murder. This category includes recommendations expressed in the imperative as well as express commands. A few examples:
Telling B to kill C. The way in which a bhikkhu is penalized for getting another person to commit a murder—through sign or verbal command—can be inferred from the discussion of accomplices under the preceding rule. The Vibhaṅga here, as under that rule, states that if one’s accomplice does not follow one’s instructions precisely, one is absolved of an offense. In discussing this point, the Commentary goes into great detail concerning the six ways the command to kill can be specified: the object [the person to be killed], the time, the place, the weapon to use, the action by which the weapon is to be used [e.g., “Stab him in the neck”], and the position the victim should be in [sitting, standing, lying down] when the act is to be done. If the instigator specifies any of these things and yet his accomplice does not carry them out to the letter, the instigator does not incur the penalty for the actual murder. For instance, Bhikkhu A tells his student B to kill C while C is sitting in meditation at midnight. The student gets into C’s room at midnight, only to find C asleep in bed, which is where he kills him. Bhikkhu A thus incurs only the thullaccaya for convincing his student to accept the command.
As under the preceding rule, the Commentary tries to argue that if B will certainly succeed in killing C in line with A’s command, A incurs a pārājika when giving the command, but again, this opinion does not conform with the Vibhaṅga.
The case of the innocent accomplice—one who does not know that the action he is being told to do will result in death—also seems relevant here, as in the case where a bhikkhu prepares a syringe of poison and tells his accomplice, who thinks the syringe contains medicine, to inject it into a patient. There seems every reason to impose a pārājika on the bhikkhu if the patient then dies, but the accomplice would incur no offense.
Recommending means of abortion.
Recommending means of euthanasia. The Vinīta-vatthu includes a case of a criminal who has just been punished by having his hands and feet cut off. A bhikkhu asks the man’s relatives, “Do you want him to die? Then make him drink buttermilk (§) (!).” The relatives follow the bhikkhu’s recommendation, the man dies, and the bhikkhu incurs a pārājika.
Recommending means of capital punishment. Again from the Vinīta-vatthu: A bhikkhu tells an executioner to kill his victims mercifully with a single blow, rather than torturing them. The executioner follows his advice and the bhikkhu incurs a pārājika, for the recommendation to kill mercifully is still a recommendation to kill. According to the Vinīta-vatthu, if the executioner says that he will not follow the bhikkhu’s advice and then kills his victims as he pleases, the bhikkhu incurs no penalty. The Commentary adds that if the executioner tries to follow the bhikkhu’s advice and yet needs more than one blow to do the job, the bhikkhu incurs a thullaccaya.
Indirect statements. The Canon and Commentary differ as to whether indirect statements that are not imperatives would also qualify as commands or recommendations under this rule. The Commentary maintains that a bhikkhu cannot get around a penalty by phrasing his wish for a murder in more roundabout ways, and gives an example in which a bhikkhu tells people, “In such-and-such a place a bandit is staying. Whoever cuts off his head will receive great honor from the King.” If any of the bhikkhu’s listeners kills the bandit as a result of his instigation, the Commentary says, the bhikkhu incurs a pārājika.
Examples of commands and recommendations in the Canon, however, are all expressed as imperatives: “Do this!” “If you want him to die, do this.” The only examples of indirect statements are those in which a bhikkhu expresses a wish, “O, if only so-and-so were murdered.” According to the Vibhaṅga, this statement incurs a dukkaṭa regardless of whether it is made in public or private, and regardless of whether one knows that anyone else is overhearing it or not. There is no discussion, however, of what one’s intention might be in making the statement, nor of the consequences for the speaker if anyone, inspired by his remark, actually kills the person in question. This implies that the authors of the Vibhaṅga did not regard statements of this sort as fulfilling the factor of effort under this rule. This may seem unduly lenient, but given that a bhikkhu whose express command to kill is followed but not to the letter would also incur only a thullaccaya, this judgment seems consistent with the Vibhaṅga’s pattern of assigning penalties.
In addition to the four above categories of means of killing, the Commentary includes two of its own:
—Magical formulae: reciting passages that call on malevolent spirits to bring about a person’s death, using voodoo, etc.
—Psychic powers: using the “evil eye” or other similar innate powers.
The Canon contains a number of passages—MN 56 is one example—describing people who, “developed in mind,” use their powers to kill. The Commentary notes the existence of these passages and of “some teachers” who cite them as proof that meditative powers can be used in this way, but it dismisses the idea on the grounds that meditative powers are skillful and based on pleasant mental states, whereas the act of killing is unskillful and based on painful mental states. The Sub-commentary adds that the powers described in the Canon are actually based on magical formulae. Still, because the success of these formulae depends on a certain level of concentration, it would seem that using one’s powers of concentration to kill would fulfill the factor of effort here.
b) Arranging an assassin
As the rule indicates, a bhikkhu may commit an offense under this rule not only by using any of the six above-mentioned means of taking life but also by “searching for an assassin.” The Vibhaṅga explains this phrase in the rule simply with a list of weapons: a sword, a spear, a harpoon (§—BD omits this item), a skewer/stake, a club, a stone, a knife, poison, or a rope. There are two ways of making sense of this list. One is that, because the Pali word for assassin is literally “knife-carrier” (satthahāraka), the Vibhaṅga is taking pains to explain that an assassin might also use other weapons aside from a knife. The other way of interpreting the list, favored by the Commentary, is to view the Vibhaṅga’s list as an attempt to define the word satthahāraka—which, according to the Commentary, is a general term for a murderous weapon. The Commentary then goes on to say that the entire phrase searching for an assassin means setting up a stationary device, as described above. There are two problems with this interpretation, the first being that the word satthahāraka clearly means “assassin” in other parts of the Canon (see, for example, MN 145); the second being that this interpretation makes the phrase entirely superfluous: setting up a stationary device is already covered by another part of the rule. Thus we will follow the first interpretation of the Vibhaṅga’s explanation of the phrase: It is indicating that an assassin may use any weapon at all.
The question remains, however, as to how this interpretation is not redundant with commanding under the explanation of the ways of taking life. The answer appears to be this: The word satthahāraka is most commonly used in the Canon in the context of an assisted suicide, in which a person who wants to die but cannot bring himself to commit suicide arranges for someone else, a satthahāraka, to kill him. Thus the inclusion of this phrase in the rule means that a bhikkhu intent on dying who arranges for someone else to do the job for him would incur all the derived offenses leading up to the actual death. At present, this would rule out trying to get a doctor to arrange an assisted suicide for oneself. If one were to help arrange an assisted suicide for someone else, the case would come under commanding, above, as would the case of arranging an assassin for someone else not at that person’s request.
As we will see below, cases where one tries to kill oneself without arranging for someone else to do the job would not come under this rule. The apparent reason for making a distinction and including the act of “searching for an assassin” to kill oneself under this rule is that, in doing so, one would be asking another person to take on the seriously unskillful kamma of taking a human life.
The Commentary’s most useful comment in this context is its assertion that searching here must mean actually arranging, because the simple act of looking for an assassin without actually finding one would not incur any of the offenses under this rule.
c) Describing the advantages of dying
This, the third type of act covered by this rule, covers cases where a bhikkhu describes the pleasures of heaven to a man of good actions so that the latter will speed up his own death in hopes of going to heaven. In the case covered by the origin story, the man takes foods and liquids bad for his health and dies of a resulting disease. In a case in the Vinīta-vatthu, the man speeds up death, cutting his life faculty simply through an act of will. In both cases, the factor of effort has been fulfilled.
The Vinīta-vatthu also contains a case in which a bhikkhu describes the pleasures of heaven to a man of good actions but without aiming at the man’s death. In that case, there is no offense even if the man wills himself to die. And in [SN 55.54](/suttas/SN/SN55_54.html), the Buddha expressly advises his cousin, Mahānāma, when counseling a discerning layperson—i.e., a stream-winner—as the latter is dying, to recommend that the person set his mind on the pleasures of heaven so as not to be attached to human sensual pleasures.
This means that there are cases where describing the pleasures of heaven is actually skillful, even when one’s listener is approaching death. However, as noted above, it is often difficult in cases like this to be sure of one’s intentions. For this reason, the Commentary notes that a bhikkhu talking to a dying patient should be very circumspect in how he chooses his words, focusing not on how to cut the patient’s life-faculty before its natural end but on how to inspire the patient with the following thoughts: “The attainment of the paths and fruitions is not out of the ordinary for a virtuous person. So, having formed no attachment for such things as your dwelling, and establishing mindfulness in the Buddha, Dhamma, Saṅgha, or the body, you should be heedful in your attention.”
The Vinīta-vatthu to Pr 4 contains a number of stories in which bhikkhus comfort a dying bhikkhu by asking him to reflect on what he has attained through the practice, which was apparently a common way of encouraging a dying bhikkhu to focus his thoughts on the best object possible. The suttas also contain additional advice on how to encourage patients facing death. See, for example, [MN 143](/suttas/MN/MN143.html), [SN 36.7](/suttas/SN/SN367.html), and [AN 6.16](/suttas/AN/AN616.html). In all of these cases, the advice is aimed not at precipitating death but at allaying the dying person’s worries, and inspiring calm and insight.
The Vibhaṅga notes that a statement describing the advantages of dying would fulfill the factor of effort regardless of whether delivered by gesture, by voice, by writing, or by means of a messenger. The same holds true for any statements under the next type of act.
d) Inciting a person to die
Inciting a person to die, the fourth type of act, covers:
—Recommending suicide. This includes not only telling a person to commit suicide but also giving advice—whether requested or not—on the best ways to commit the act.
—Telling a person to go to a dangerous place where he/she might die of the dangers.
—Telling a person destined to hell—say, for having killed a parent—of the terrors of hell in hopes of frightening him to death.
—Arranging a terrible sight, sound, etc., to frighten a person to death, or a beautiful, “heart-stirring” one to attract a person who will then pine away to death when it fades.
Four issues arise in relation to the above ways of killing:
Command. Giving a command or recommendation to get another person to perform any of these last three types of action—arranging an assassin, describing the advantages of dying, or inciting another person to die—would also fulfill the factor of effort under this rule.
Inaction. Given the Vibhaṅga’s definition of taking life, we can infer that inaction does not fulfill the factor of effort here, for it does not cut off the life faculty. Thus if a bhikkhu sits idly when seeing a flood sweep a person downstream, he commits no offense—regardless of his feelings about the person’s death—even if the person then drowns. Recommending that another person sit idly as well would also not fulfill the factor of effort here, because the category of command covers only the act of inciting the listener to do any of the four actions that would fulfill the factor of effort under this rule.
Medical care and life-support. The same holds true if a bhikkhu decides not to give a patient a treatment—or to discontinue treatment—that might conceivably extend the patient’s life: It does not fulfill the factor of effort, for such acts do not cut off the life faculty. At most they simply allow it to end on its own. The Canon supports this inference by treating such actions not under this rule but under [Mv.VIII.26.3-4](./Section0044.html#Mv.VIII.26.1-8), where it imposes only a dukkaṭa on the act of refusing to give any treatment at all to an ill bhikkhu, or of discontinuing all care for an ill bhikkhu prior to his recovery or death. This shows that the compilers of the Canon did not regard these acts as cutting off the life faculty. ([Mv.VIII.26.8](./Section0044.html#Mv.VIII.26.1-8) lists the ideal characteristics of a bhikkhu who tends to the sick, but does not impose a penalty on a bhikkhu who cares for the sick but lacks the ideal qualities; at no point does the Canon impose a required level of care for the sick. The compilers’ refusal to mandate a level of care is wise. If there were a case in which the bhikkhus did not feel that that level of care was appropriate for their patient, they would have only one option: to abandon the patient, so as to incur only a dukkaṭa and not the potentially higher penalty for not measuring up to the mandated care. Thus, instead of protecting the patient, a higher level of mandated care would expose the patient to abandonment.) For this reason, deciding to withhold or discontinue a particular treatment—while still continuing otherwise to care for the patient—would not be grounds for an offense.
If, however, a bhikkhu caring for a patient acts in a way to cut off the patient’s life faculty, that would fulfill the factor of effort here. The Vinīta-vatthu makes this point with a set of cases in which bhikkhus give patients treatments that are actually harmful for the patients. In the instances where the other factors for an offense are present—the bhikkhus mean to kill the patient, and the patient dies—the bhikkhus incur the full offense. In another set of cases, a bhikkhu feeling pity for a friend in severe pain praises the pleasures that await him after death. Again, in the instances where the bhikkhu intends to bring about the patient’s death and the patient dies, the bhikkhu incurs a pārājika.
For more on the topic of medical care, see [BMC2, Chapter 5](./Section0044.html#BMC2chapter5).
Shared responsibility. Unlike the Vibhaṅga to the preceding rule, the Vibhaṅga here does not explicitly discuss the issue of how to allot penalties when a group of bhikkhus acts together to commit a murder but only one of them delivers the fatal blow. However, the Vinīta-vatthu contains a series of cases in which bhikkhus act as a group to give a treatment to a sick bhikkhu with the aim of ending his life. When the bhikkhu dies, all of them incur a pārājika. In one of the cases the bhikkhu dies from a medical treatment to the nose, in another he dies from eating food. None of the texts discuss whether all the bhikkhus in question took turns giving the fatal dosage, or if only one of the bhikkhus did while the others helped to prepare it. Given that arranging an assassin would fulfill the factor of effort under this rule, it seems reasonable to infer that actively assisting in a murder would also fulfill the factor, even if one does not deliver the fatal blow. From this inference we can conclude that the discussion of shared responsibility under the preceding rule would also apply here.
Result
This factor is fulfilled if, as a result of the bhikkhu’s action, the victim dies through the cutting of his/her life-faculty. Because the life-faculty is something that inevitably ends, there is a need to define clearly how far the influences of a bhikkhu’s actions should be traced for him to be considered responsible for a death.
The Commentary treats this issue by posing two scenarios under its discussion of pitfalls. In the first, an intended victim survives a fall into a pitfall, manages to climb out, but later dies of a disease incurred from the fall. In this case, the Commentary says, the factor of result is fulfilled. The same holds true if the disease goes into remission only to return and take the victim’s life many years later. If complications arise from the disease, however, and the victim dies from a combination of the disease and its complications, then if the original disease was the predominant factor in the death, the bhikkhu would be responsible for the victim’s death; if the complications were the predominant factor, he would not.
In the second scenario, an intended victim falls into the pitfall while being chased by thieves but does not die in the fall. Instead, the thieves catch up with him, drag him out of the pitfall, and kill him. In this case, the bhikkhu is still responsible for the victim’s death because his pitfall was instrumental in enabling the thieves to catch and kill the victim.
The Commentary also considers a different sort of case related to the factor of result: If a bhikkhu means to cause the death of a group of people, then when any member of the group dies as a result of his efforts, the Commentary says that he incurs a pārājika. In other words, he does not have to fulfill his intention of killing the whole group in order to fulfill the factor of result here.
Derived penalties
The Canon assigns lesser penalties in cases where a bhikkhu tries to cause a person’s death through any of the four means mentioned in this rule and yet the person does not die. If the person experiences pain or injury as a result of the bhikkhu’s efforts, the penalty is a thullaccaya. If the bhikkhu’s efforts result in neither pain nor death, the penalty is a dukkaṭa for each separate action involved in the attempt.
If a bhikkhu intends simply to injure the victim or cause him/her pain, and yet the victim dies as a result of the bhikkhu’s actions, the case is treated under [Pc 74](./Section0023.html#Pc74).
There is an apparent contradiction in the Vinīta-vatthu concerning the penalty for a bhikkhu who tries to kill one person but ends up killing another instead. In one case it says that a bhikkhu who means to kill X but kills Y instead incurs a pārājika. In another case it tells of a bhikkhu who gives medicine to a woman who wants to commit an abortion near the end of a full-term pregnancy. The woman takes the medicine but, instead of the fetus’ aborting, the woman dies and the infant survives. In this case, the bhikkhu incurs a thullaccaya, presumably for the pain he caused the infant.
The Commentary tries to resolve this contradiction with an illustration: A bhikkhu with a grudge against A decides to ambush him. He sees B coming down the road and, mistaking him for A, shoots him dead on the spot. Because his intention was to kill the person he was aiming at, he incurs a pārājika. We can call this a case of mistaken identity. In cases of this sort, whether the “right” or the “wrong” person dies is of no consequence to the offense.
If, however, the bhikkhu is a poor shot, takes aim at B but misses him, and inadvertently kills C instead, he does not incur a pārājika, for he did not intend to kill C during any part of his action. His only penalties are the dukkaṭas he incurs while preparing for B’s murder.
Special cases
The Vinīta-vatthu includes three special cases that touch on this rule but inspired the Buddha to formulate separate rules to deal specifically with them:
1) A bhikkhu, sitting down hard in a chair without first checking it carefully, kills a child lying in the chair and covered with a blanket—no penalty for the death, but a dukkaṭa for sitting down without first checking carefully.
2) Some group-of-six bhikkhus, for the fun of it, throw a rock from a mountaintop and accidentally kill a young cowherd standing below—again, no penalty for the death, but a dukkaṭa for throwing a rock in fun. (The Commentary states that rock here also covers sticks, bricks, and other similar objects; and that throwing also includes rolling. It also states that if a bhikkhu has a valid reason for throwing or rolling a rock not in fun—for example, he is engaged in construction work and rolls a piece of rock to someone else on the job; he is eating his meal and throws a piece of wood to chase away crows or dogs—he incurs no offense.)
3) A bhikkhu, feeling oppressed and discontented, throws himself over a cliff. Instead of dying, he lands on and kills a hapless basket-maker standing at the foot of the cliff—again, no offense for the death, but a dukkaṭa for throwing oneself from a high place. This rule shows that attempts to kill oneself—aside from searching for an assassin, as mentioned above—would not come under the main rule here, because the bhikkhu would have apparently felt pain when landing on the basket-maker, and yet the penalty is only a dukkaṭa. If the case had been treated under the main rule, he would have been penalized with a thullaccaya instead.
The Commentary extrapolates from this case to apply the dukkaṭa to all attempts at suicide, including even the decision not to take food when motivated by a desire to die. However, it then runs into the question of how far this penalty applies to a bhikkhu who is ill. Its verdict: As long as medicine and attendants are available to him, the penalty would still apply. But then it lists two cases where the penalty would not apply: (a) A bhikkhu is suffering from a long and serious illness, and the attendant bhikkhus are fed up with caring for him, thinking, “When will we be free of this sick one?” If the bhikkhu reflects that, even with medical care, his body won’t last and that the bhikkhus are being put to difficulties, he incurs no penalty in refusing food and medicine. (b) A bhikkhu—reflecting that his illness is harsh, the forces of life are running out, and yet the noble attainments appear to be within his reach—may refuse food and medicine without penalty.
The Commentary’s deliberations here show how difficult it is to legislate in this area, and there are reasons to question the way it applies the Great Standards here. Case (b) is apparently derived from SN 4:23, where Ven. Godhika takes his life and gains arahantship just moments before death; and from SN 35:87, where the Buddha says that one who puts down this body without taking up another body dies blamelessly. However, in arriving at its verdict in this case, the Commentary has to add the factors of motivation and perception to the equation, factors that are absent from the rule on which the judgment is based. It also leaves unanswered the question of how harsh the disease has to be, and how near the anticipated attainments, to qualify for this exemption.
This same holds true for case (a), which entails even more dubious reasoning. The Commentary’s judgment here has no clear precedent in the Canon; there is no clear line for deciding exactly how bad the illness and how fed up the attendants have to be for this case to apply; and why should the feelings of other people determine when it is or is not allowable to refuse food?
It is worth noting that the origin story to the original rule here gave the Buddha the opportunity, had he wanted it, to formulate a general rule against attempted suicides, but he chose not to. He later formulated this subsidiary rule only when a bhikkhu attempted a suicide in a way that endangered the life and safety of another person. Thus a more appropriate way of applying the Great Standards to this subsidiary rule would be to extend it only to cases of that sort: where a bhikkhu’s attempts at suicide would bring danger to another person’s life and limb.
As for ways of attempting suicide that do not endanger others, it seems better to follow the Buddha’s wisdom in not legislating about this issue at all, and to treat it as a matter of Dhamma rather than Vinaya. In other words, one should keep in mind his comment in SN 35:87 that the only blameless death is an arahant’s. If, lacking that attainment, one chooses to refuse food when ill to speed up one’s death, one should be heedful of the risks that death and rebirth can involve.
Non-offenses
As stated above, there is no offense for a bhikkhu who kills a person unintentionally, not knowing, or not aiming at death.
As for the standard exemptions, the Thai edition lists all four under this rule: a bhikkhu who is insane, possessed by spirits, delirious with pain, and the first offenders (in this case, some group-of-six bhikkhus who, in a follow-up to the origin story, described the advantages of death to a man with a beautiful wife, in hopes that he would commit suicide so that she could be theirs; he did commit suicide, but she denounced them). Other editions of the Canon omit exemptions for a bhikkhu possessed by spirits or delirious with pain. The Commentary refers to the standard exemptions as a set simply with the word, “insane, etc.” There is reason to believe that if these two exemptions were missing in the time of the Commentary, it would have noted their absence.
Summary: Intentionally bringing about the death of a human being, even if it is still an embryo—whether by killing the person, arranging for an assassin to kill the person, inciting the person to die, or describing the advantages of death—is a pārājika offense.
\ \ \*
Should any bhikkhu, without direct knowledge, claim a superior human state, a truly noble knowledge and vision, as present in himself, saying, “Thus do I know; thus do I see,” such that regardless of whether or not he is cross-examined on a later occasion, he—being remorseful and desirous of purification—might say, “Friends, not knowing, I said I know; not seeing, I said I see—vainly, falsely, idly,” unless it was from over-estimation, he also is defeated and no longer in affiliation.
All conscious lies are forbidden by the first pācittiya rule, but knowingly to make a false claim to a superior human state is one of the most heinous lies a bhikkhu can tell, so here it receives its own rule and the heaviest possible penalty.
The seriousness with which the Buddha regarded a breach of this training rule is indicated by his statements to the original instigators:
“You worthless men, how can you for the sake of your stomachs speak praise of one another’s superior human states to householders? It would be better for you that your bellies be slashed open with a sharp butcher’s knife than that you should for the sake of your stomachs speak praise of one another’s superior human states to householders. Why is that? For that reason you would undergo death or death-like suffering, but you would not on that account, at the break-up of the body, after death, fall into a plane of deprivation, a bad destination, a lower realm, hell. But for this reason you would, at the break-up of the body, after death, fall into a plane of deprivation, a bad destination, a lower realm, hell…. Bhikkhus, in this world with its devas, māras, and brahmās, its generations with brahmans and contemplatives, princes and men, this is the ultimate great thief: he who claims an unfactual, non-existent superior human state. Why is that? You have consumed the nation’s almsfood through theft.”
The full offense under this rule has four factors.
1) Object: a superior human state.
2) Perception: One perceives it as not present in oneself.
3) Effort: One addresses a human being, mentioning that state in connection with oneself—either the state as within oneself, or oneself as in the state.
4) Intention: with the intent to misrepresent the truth, motivated by an evil desire.
The commentaries add a fifth factor—result—saying that one’s listener must understand what one is saying for there to be the full offense, but as we will see below, this factor appears to be based on a misreading of the Vibhaṅga.
Object
The Vibhaṅga lists many superior human states, defining them as follows:
meditative absorption (jhāna): the four jhānas;
emancipation (vimokkha): the emptiness (suññatā) emancipation, the theme-less (animitta) emancipation, and the non-directed (appaṇihita) emancipation;
concentration (samādhi): the emptiness concentration, the theme-less concentration, and the non-directed concentration;
meditative attainments (samāpatti): the emptiness attainment, the theme-less attainment, and the non-directed attainment;
knowledge-and-vision (ñāṇa-dassanā): knowledge of past lives, knowledge of the passing away and arising of beings, and knowledge of the ending of mental effluents (āsava);
path-development (magga-bhāvanā): the 37 Wings to Awakening (bodhipakkhiya-dhamma)—the four establishings of mindfulness, the four right exertions, the four bases of power, the five faculties, the five strengths, the seven factors for Awakening, and the noble eightfold path;
the realization of the noble fruits (phala-sacchikiriya): the fruit of stream-entry, the fruit of once-returning, the fruit of non-returning, and the fruit of arahantship;
the abandoning of defilements (kilesappahāna): the abandoning of passion, aversion, and delusion;
the mind’s freedom from hindrance (vinīvaraṇatā cittassa): the mind unhindered by passion, aversion, and delusion; and
delight in an empty dwelling (suññāgāre abhirati): the delight in an empty dwelling stemming from the four jhānas.
The Commentary classifies these states into two broad categories: mahaggata dhamma—“enlarged” or “expanded” states—related to the practice of meditative absorption; and lokuttara dhamma—transcendent states—related to the absolute eradication of the mental fetters that bind the mind to the cycle of rebirth.
a. Mahaggata dhamma
The discourses describe the four jhānas as follows:
“There is the case where a bhikkhu—quite secluded from sensuality, secluded from unskillful qualities—enters and remains in the first jhāna: rapture and pleasure born of seclusion, accompanied by directed thought and evaluation. He permeates and pervades, suffuses and fills this very body with the rapture and pleasure born of seclusion….
“And furthermore, with the stilling of directed thoughts and evaluations, he enters and remains in the second jhāna: rapture and pleasure born of concentration, unity of awareness free from directed thought and evaluation—internal assurance. He permeates and pervades, suffuses and fills this very body with the rapture and pleasure born of concentration….
“And furthermore, with the fading of rapture, he remains equanimous, mindful, and alert, and senses pleasure with the body. He enters and remains in the third jhāna, and of him the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, he has a pleasant abiding.’ He permeates and pervades, suffuses and fills this very body with the pleasure divested of rapture….
“And furthermore, with the abandoning of pleasure and pain—as with the earlier disappearance of elation and distress—he enters and remains in the fourth jhāna: purity of equanimity and mindfulness, neither pleasure nor pain. He sits permeating the body with a pure, bright awareness, so that nothing of his entire body is unpervaded by pure, bright awareness.”—[DN 2](/suttas/DN/DN02.html); [MN 119](/suttas/MN/MN119.html); [AN 5:28](/suttas/AN/AN5_28.html)
The Commentary notes that four formless states—what the Canon calls “formlessnesses beyond form,” and the Commentary calls “formless jhānas”—are based on the fourth jhāna, and so would count as superior human states as well. The Canon describes them as follows:
“With the complete transcending of perceptions of form, and the passing away of perceptions of resistance, and not heeding perceptions of diversity, (perceiving,) ‘Infinite space,’ one enters and remains in the dimension of the infinitude of space….
“With the complete transcending of the dimension of the infinitude of space, (perceiving,) ‘Infinite consciousness,’ one enters and remains in the dimension of the infinitude of consciousness….
“With the complete transcending of the dimension of the infinitude of consciousness, (perceiving,) ‘There is nothing,’ one enters and remains in the dimension of nothingness….
“With the complete transcending of the dimension of nothingness, one enters and remains in the dimension of neither perception nor non-perception.”—[DN 15](/suttas/DN/DN15.html)
A fifth state, the cessation of perception and feeling, is reached by transcending the dimension of neither perception nor non-perception, and all who reach it become either non-returners or arahants. The Commentary argues that this state does not count as a superior human state, on the technical grounds that it is neither worldly (lokiya) nor transcendent, but nothing in the Canon indicates that a superior human state has to be clearly one or the other. Using the Commentary’s own reasoning with regard to the four formless states—that they are based on the fourth jhāna—the same argument can be used to include the cessation of perception and feeling as a superior human state as well.
From the inclusion of the three knowledges in the Vibhaṅga’s list, the Commentary takes up the issue of whether the remaining five of the eight knowledges should be included as well. The three knowledges, as described in [DN 2](/suttas/DN/DN02.html), are:
Recollection of past lives (pubbenivāsānusati-ñāṇa): “He recollects his manifold past lives, i.e., one birth, two births, three births, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, one hundred, one thousand, one hundred thousand, many eons of cosmic contraction, many eons of cosmic expansion, many eons of cosmic contraction and expansion, (recollecting,) ‘There I had such a name, belonged to such a clan, had such an appearance. Such was my food, such my experience of pleasure and pain, such the end of my life. Passing away from that state, I re-arose there. There too I had such a name, belonged to such a clan, had such an appearance. Such was my food, such my experience of pleasure and pain, such the end of my life. Passing away from that state, I re-arose here.’ Thus he recollects his manifold past lives in their modes and details.”
Knowledge of the passing away and reappearing of beings (cutūpapāta-ñāṇa): “He sees—by means of the divine eye, purified and surpassing the human—beings passing away and re-appearing, and he discerns how they are inferior and superior, beautiful and ugly, fortunate and unfortunate in accordance with their kamma: ‘These beings—who were endowed with bad conduct of body, speech, and mind, who reviled the noble ones, who held wrong views and undertook actions under the influence of wrong views—with the break-up of the body, after death, have re-appeared in a plane of deprivation, a bad destination, a lower realm, hell. But these beings—who were endowed with good conduct of body, speech, and mind, who did not revile the noble ones, who held right views and undertook actions under the influence of right views—with the break-up of the body, after death, have re-appeared in a good destination, a heavenly world.’ Thus—by means of the divine eye, purified and surpassing the human—he sees beings passing away and re-appearing, and he discerns how they are inferior and superior, beautiful and ugly, fortunate and unfortunate in accordance with their kamma.”
Knowledge of the ending of mental effluents (āsavakkhaya-ñāṇa): “He discerns, as it has actually come to be, that ‘This is stress…. This is the origination of stress…. This is the cessation of stress…. This is the way leading to the cessation of stress…. These are (mental) effluents…. This is the origination of effluents…. This is the cessation of effluents…. This is the way leading to the cessation of effluents.’ His heart, thus knowing, thus seeing, is released from the effluent of sensuality, the effluent of becoming, the effluent of ignorance. With release, there is the knowledge, ‘Released.’ He discerns that ‘Birth is ended, the holy life fulfilled, the task done. There is nothing further for this world.’”
The first two of these knowledges, even though they comprised part of the Buddha’s Awakening, are mundane, in that people may develop them without necessarily attaining any of the transcendent paths and fruitions. Thus they belong under the category of mahaggata dhamma, as they are based on the attainment of jhāna either in this or in a previous life. The third knowledge, however—because it describes the arising of the transcendent paths and fruitions—comes under the category of lokuttara dhamma, and is the only one of the eight knowledges to do so.
[DN 2](/suttas/DN/DN02.html) describes the remaining five knowledges as:
Insight knowledge (vipassanā-ñāṇa): “He discerns: ‘This body of mine is endowed with form, composed of the four primary elements, born from mother and father, nourished with rice and porridge, subject to inconstancy, rubbing, pressing, dissolution, and dispersion. And this consciousness of mine is supported here and bound up here.’”
Mind-made body (manomayiddhi): “From this body he creates another body, endowed with form, made of the mind, complete in all its parts, not inferior in its faculties, just as if a man were to draw a reed from its sheath.”
Supranormal powers (iddhividhī): “He wields manifold supranormal powers. Having been one he becomes many; having been many he becomes one. He appears. He vanishes. He goes unimpeded through walls, ramparts, and mountains as if through space. He dives in and out of the earth as if it were water. He walks on water without sinking as if it were dry land. Sitting cross-legged he flies through the air like a winged bird. With his hand he touches and strokes even the sun and moon, so mighty and powerful. He exercises influence with his body even as far as the Brahmā worlds.”
Clairaudience (dibba-sota): “He hears—by means of the divine ear-property, purified and surpassing the human—both kinds of sounds: divine and human, whether near or far.”
Mind-reading (cetopariya-ñāṇa): “He knows the awareness of other beings, other individuals, having encompassed it with his own awareness. He discerns a mind with passion as a mind with passion, and a mind without passion as a mind without passion (etc.).”
The Commentary argues that all of these knowledges except vipassanā-ñāṇa count as superior human states. It does not explain why it excludes vipassanā-ñāṇa from the list, although it is probably following the belief current in its time, that vipassanā-ñāṇa does not require jhāna as a basis, even though the Canon clearly lists this ñāṇa—as distinct from vipassanā as a more general mental quality of clear-seeing—as dependent on jhāna.
There are other occult abilities that are not based on jhāna and for this reason do not count as mahaggata dhamma: such things as divination, giving protective charms, casting malevolent spells, psychic healing, practicing as a medium, etc. The discourses list these and other similar activities as tiracchāna-vijjā, animal knowledge, which—as the name implies—is far removed from superior human states. (See [BMC2, Chapter 10](./Section0049.html#BMC2chapter10).)
b. Lokuttara dhamma
Lokuttara dhamma in its fullest sense, refers to the series of mental states, called paths and fruitions, in which the fetters that bind the mind to the cycle of rebirth are eradicated; and to the ultimate state of nibbāna, or liberation.
The paths and fruitions occur in four pairs. In the first pair, the path to and fruition of stream-entry, three fetters are abandoned: self-identity views (sakkāya-diṭṭhi), uncertainty (vicikicchā), and grasping at habits and practices (silabbata-parāmāsa). In the second pair—the path to and fruition of once-returning—passion, aversion, and delusion are weakened, but no additional fetters are cut. In the third pair, the path to and fruition of non-returning, two additional fetters are abandoned: sensual passion (kāma-rāga) and irritation (paṭigha); and in the fourth pair, the path to and fruition of arahantship, five: rūpa-rāga—passion for forms (e.g., the objects of rūpa jhāna); arūpa-rāga—passion for formless phenomena (e.g., the objects of arūpa jhāna); māna—conceit; uddhacca—restlessness; and avijjā—ignorance. With the cutting of this last set of fetters, all bonds with the cycle of rebirth are cut for good, and the mind attains nibbāna.
The term nibbāna literally means extinguishing, as of a fire. The commentarial explanation of this term that best fits the way it is used in the Canon is found at Vism.VIII,247, where Buddhaghosa derives it etymologically from nir, a negative prefix, and vāna, binding: thus, unbinding or liberation. In the physics of the Buddha’s time, fire as it burned was said to be in a state of agitation, dependence, attachment, and entrapment—both clinging to and being trapped by its sustenance. Extinguished, it was said to become calm, independent, and unattached. It let go of its sustenance and was released. In the mind’s extinguishing, or unbinding, a parallel change occurs.
Nibbāna is one; the paths and their fruitions, eight. Thus there are nine lokuttara dhammas. Although the Vibhaṅga explicitly mentions only the four transcendent fruitions in its list of superior human states, the Commentary argues that the remaining five implicitly qualify as well. There is support for the Commentary’s argument in that the Vibhaṅga includes the noble eightfold path in its list, and SN 55:5 equates this path with the stream.
The Commentary classifies the three types of concentration and emancipation in the Vibhaṅga’s list—emptiness, theme-less, and non-directed—as equivalent to the transcendent paths, and the three corresponding attainments as transcendent fruitions. A passage in [MN 121](/suttas/MN/MN121.html), however, indicates that at least the theme-less concentration would count as a mahaggata dhamma because it can be attained without full insight into its fabricated nature, and the same classification might hold for all three of these concentrations and emancipations. Regardless of which class they fall into, however, they are all superior human states. As for the Wings to Awakening, the Commentary maintains that they count as superior human states only when developed to the level of any of the transcendent paths. It also adds that any other attainment equivalent to a lokuttara dhamma—such as complete comprehension of the four noble truths—would fulfill the factor of object here as well.
Perception
Claiming a superior human state that one mistakenly thinks one has achieved is no offense under this rule, although if addressed to a lay person the claim would come under [Pc 8](./Section0016.html#Pc8). The same holds for a claim that is actually true.
There is the question, however, of what offense there would be for a bhikkhu who has attained a superior human state—such as the first jhāna—without realizing the fact, and then claims to have attained it, thinking his statement to be false. The Vibhaṅga defines non-existent as “not to be found; not knowing, not seeing a skillful state within oneself, (yet saying,) ‘There is a skillful state within me.’” Also, under the factor of intention, it states that misrepresenting one’s view or opinion would fulfill that factor. This implies that a superior human state would count as non-existent if one did not see it as existent. If one then misrepresented one’s view to another person, claiming the state to be existent, one would fulfill the factors of the full offense here.
Unlike the Vibhaṅga to [Pc 1](./Section0016.html#Pc1), the Vibhaṅga to this rule does not consider the case where a bhikkhu, doubtful of his attainment, states it as an undoubted fact. This suggests that the compilers of the Vibhaṅga saw the full offense here as applying only to cases where a bhikkhu knows without a doubt that his claim to a superior human state is untrue. From this it would follow that if one is in doubt about one’s attainment of such a state and yet makes a definite claim to it, one would incur a pācittiya under [Pc 1](./Section0016.html#Pc1).
Effort
According to the Vibhaṅga, a statement mentioning oneself in connection with a superior human state is one indicating either that the state is present in oneself or that one is present in the state. Such a statement fulfills this factor only if it explicitly mentions oneself, although the reference to the state may be either explicit or implicit. Explicit mention of the state would include saying such things as, “I have attained the first jhāna,” “I have seen the heavenly realms,” “I know my previous lifetimes.” The Vibhaṅga’s example of an implicit mention of a state is the statement, “I delight in an empty dwelling,” the implication being that one’s delight comes from the attainment of jhāna. At present, many meditation communities have developed their own idioms for describing superior human attainments—one being “I have no doubts about the Buddha’s teaching” as a way of claiming stream-entry—and, in the context of such communities, idioms of this sort would count as implicit mention as well. As we will see under the discussion of intention, this sort of statement would incur an offense only if one intended the implicit meaning.
A statement in which one mentions oneself—rather than the state—implicitly in connection with a superior human state is not grounds for a pārājika. If it is a deliberate lie, it constitutes either a thullaccaya or a dukkaṭa. Because the grounds for determining the offense in this case are a matter of controversy, we will discuss them separately, under Understanding, below.
The word statement here covers not only spoken statements but also written statements and physical gestures. An example of a claim by gesture occurs in the Vibhaṅga: A group of bhikkhus makes an agreement that the first to set out from their dwelling would, by that very gesture, be known to the rest as an arahant. One of the group, who was not an arahant but wanted to be regarded as one, set out first from the dwelling and in so doing committed a pārājika. At present, a claim made in writing would also fulfill the factor of effort here.
The Vibhaṅga specifies that the statement fulfills this factor whether it is addressed to a man or a woman, lay or ordained. The Vinīta-vatthu contains two cases in which bhikkhus, sitting in private, make false statements laying claim to superior human states. In the first case, the offender is rebuked by another bhikkhu who could read minds; in the second, the offender is rebuked by a devatā. In both cases, the Buddha imposes a dukkaṭa on the offenders. Thus the Commentary and K/Commentary conclude that a statement mentioning oneself in connection with a superior human state must be directed at a human listener for it to fulfill the factor of effort here. If one makes such a statement in private or directs it to a common animal or a deva, one incurs only a dukkaṭa.
The original instigators of this rule, instead of each making claims about his own attainments, made false claims about one another’s attainments. This case is not mentioned in the rule, the Vibhaṅga, or the commentaries, and so is not an offense under this rule, but it would come under [Pc 1](./Section0016.html#Pc1).
The Commentary raises a question not addressed in the Vibhaṅga: Does mentioning a state in connection with oneself include claims about attainments in one’s previous lives? Without explaining its reasoning, it simply says No: In connection with oneself applies only to the present aggregates and not to past ones. With regard to the mahaggata dhammas, it would be possible to make a claim about an attainment in a past life that would not apply to one’s present state, because the simple fact that one may have attained jhāna in a previous lifetime has no implications bearing on the present lifetime. That sort of attainment doesn’t necessarily carry over from one lifetime to the next. With regard to lokuttara dhammas, however, the fact that one may have achieved stream-entry in a previous lifetime would have implications for the present lifetime: One is destined to achieve at least stream-entry again at some point before death, which puts one on the level of a faith-follower or a Dhamma-follower, “one who has entered the orderliness of rightness, entered the plane of people of integrity, transcended the plane of the run-of-the-mill” ([SN 25:1](/suttas/SN/SN25_1.html)). This is equivalent to the path to stream-entry. So it would seem reasonable to say that a claim to a mahaggata dhamma attained in a previous lifetime would not fulfill the factor of effort here, whereas a claim to a lokuttara dhamma attained in a previous lifetime would. And, of course, if a bhikkhu falsely claims present knowledge of previous lifetimes, that would unequivocally fulfill this factor.
Intention
To incur an offense under this rule, the statement must be (1) meant to misrepresent the truth and (2) motivated by evil desire.
According to the Vibhaṅga a statement meant to misrepresent the truth can be characterized in any of seven ways (§): Before making it, one knows that it is a lie; while making it, one knows that it is a lie; after making it, one knows that it was a lie; one misrepresents one’s view; one misrepresents one’s opinion; one misrepresents one’s approval; and one misrepresents one’s state. The Commentary focuses on the first of these characteristics as essential: One must know before making the statement that it will be a lie. If one doesn’t realize it beforehand but notices it only while making it or just after making it, it would count simply as a slip of the tongue, and thus—as discussed under [Pc 1](./Section0016.html#Pc1)—not as a deliberate lie. When the intention to misrepresent the truth is absent, the statement does not come under this rule. For example, if one means to say one thing that does not bear on a superior human state but accidentally says something else that comes out as a claim to such a state, one commits no offense.
Other examples of not intending to misrepresent the truth appear in a series of cases in the Vinīta-vatthu where bhikkhus are absolved of an offense under this rule because they “did not intend to boast.” The Vibhaṅga gives no precise definition of this phrase, but the cases in question give a fair idea of what it means. They all involve statements where the reference to a superior human state is only implicit. In some of them, ill bhikkhus are asked—as was common in the time of the Buddha—“Do you have any superior human states (§)?” the purpose being—if they had such an attainment—to focus their minds on it; and if not, to direct their efforts to gaining such an attainment before their illness worsened. The ill bhikkhus respond in a variety of ways which, on the surface, look like equivocation. They don’t have any superior human attainments, yet don’t want to give the impression that they’ve achieved nothing at all, so they say such things as, “A state to be aroused through the arousing of energy,” or, “A state to be aroused through committed commitment.” In other cases, the ill bhikkhus are told not to fear death and they respond, “I’m not afraid of death,” or, “He who has remorse might be afraid of death.” In still other cases, ill bhikkhus are asked how they are bearing up under their illnesses and they respond, “This could not be borne by any old person (§),” or, “This could not be borne by an ordinary person (§).” There are also cases where bhikkhus are being pressured by their relatives to disrobe and they respond with such statements as, “It’s impossible for a person like me to live in a house,” or, “I have blocked off sensual passions.”
In each of these cases, the bhikkhus later felt conscience-stricken that their words might be construed as a boast, and so went to the Buddha, who stated that, because their purpose was not to boast—apparently, they were simply trying to avoid difficult situations, and the Commentary shows how they could easily have been thinking of something beside superior human states—they incurred no penalty.
Strangely enough—given its explanations of these cases—when the Commentary discusses the factor of “not intending to boast” under the non-offense clauses, it defines it as applying to a bhikkhu who, not motivated by desire, makes a non-deceptive claim of knowledge to his fellow bhikkhus. The Sub-commentary, however, notes that the Commentary’s definition does not fit the Vinīta-vatthu cases and so gives its own definition of “not intending to boast”: saying something that would fulfill the factor of effort yet without desiring to speak of a superior human state, and without being aware that one’s words imply such a state. Drawing on the examples in the Vinīta-vatthu, we can qualify the Sub-commentary’s explanation by noting that this exemption applies even if the reference to oneself is explicit, but not if the reference to the superior human state is.
Thus, if one makes an innocent statement that could be construed as implying a claim to a superior human state without explicitly mentioning such as state, then regardless of how other people might interpret it, if one’s purpose is not to boast or lay claim to that state then there is no offense. However, if the inference was intended—and a deliberate misrepresentation—the factor of intention here would be fulfilled. As for untrue statements that make explicit reference to a superior human state—e.g., “I have reached the fourth jhāna”—the inference is obviously intended, and so these automatically fulfill the factor of “intending to misrepresent the truth.”
As for evil desire: The Commentary—citing a passage from an Abhidhamma text, the Vibhaṅga, which in turn is based on [MN 5](/suttas/MN/MN5.html)—defines evil desire here as the wish to have others believe that skillful states not present within oneself are actually there. In other words, one must want one’s statement to be taken seriously. This means that motive is an essential part of this factor. To make a self-deprecating, sarcastic joke referring to one’s non-existent superior human attainments as if they were existent, but not intending to be taken seriously, would not fulfill the factor of intention here, regardless of how one’s listeners took the remark. However, because such a remark is a falsehood, it would fall under [Pc 1](./Section0016.html#Pc1), even though made in jest. For this reason, cases of this sort are not mentioned in the non-offense clauses under this rule because they do carry a pācittiya offense. However, even though the penalty they carry is relatively minor, jokes of this sort should not be viewed lightly. Not only can they lead to serious misunderstandings among one’s listeners, but they also betray an off-handed disrespect for the Dhamma, and in particular for the attainments that a bhikkhu should view as among the highest means and ends of his training.
Understanding
The Vibhaṅga discusses two sets of cases in which the factor of understanding plays a role in determining the offense. In the first set, bhikkhus intend to lie about attaining one superior human state (such as the second jhāna) but actually lie about attaining another one (such as the third). In the second set, they make claims about attainments, explicitly mentioning an attainment but not explicitly mentioning themselves (e.g., a bhikkhu, referring to the dwelling in which he lives, says, “Those who live in this dwelling are arahants”). Given that understanding plays a role here, the question is: Whose understanding is at issue here, the speaker’s or the listener’s? The Commentary assumes the listener’s understanding to be at issue. Furthermore—despite the Vibhaṅga’s applying this factor only to these two sets—the Commentary extrapolates from them to say that this condition applies to all cases covered by this rule: The listener must understand what the bhikkhu is saying for there to be a full offense.
This interpretation, however, appears to be based on a misreading of the Canon. Under other rules where the question of the listener’s understanding is a factor—such as the rules for disrobing and Saṅghādisesa 3—the pattern in the Vibhaṅga is to state explicitly, “If he understands,” “If he doesn’t understand,” “She didn’t understand,” with the “he” or “she” in a different case than that of the participles describing the bhikkhu. Here, however, when the Vibhaṅga mentions the factor of understanding, it uses a present participle in the same case as the participle describing the person speaking: sampajāna-musā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa—“For the one speaking a deliberate lie and understanding (it as such), an offense of defeat” and so forth. (Some have suggested that the paṭivijānantassa in this phrase is an example of the genitive absolute, which would apply to a different agent than the main agent of the sentence. However, the syntax of the sentence and the placement of the word do not follow the pattern for the genitive absolute, which has to be composed of a noun and a participle set apart from the rest of the sentence.) This means that the participle for “understanding” refers to the same person referred to as “speaking”: In other words, it refers to the bhikkhu, and not to the listener, who is nowhere mentioned in the passage.
This, of course, raises the question of why the speaker’s understanding of his own statement would be an issue, and the answer is this:
In the first set of cases—where the bhikkhu means to lay false claim to one superior human state but actually lays false claim to another—if he does not realize that he has made a slip of the tongue, the statement would not normally count as a conscious lie, as he is not aware of what he is saying at the moment he is saying it. Because he is not paying attention to his words, he should not receive the full penalty. However, if he is alert enough to know what he is saying, then—as the Commentary points out—all the factors of an offense are present. Because both his intended and his actual statements are corrupt, he should not be allowed to avoid the penalty simply because of a brief slip of the tongue. Thus, the Vibhaṅga assigns a pārājika in cases of this sort if the bhikkhu is aware of what he is saying, and a thullaccaya if not.
In the second set of cases, where the bhikkhu’s remarks concern a superior human state explicitly but himself only implicitly, he deserves a heavier penalty if he is aware of the implicit connection than if he is not. Thus the Vibhaṅga assigns a thullaccaya if he is, and a dukkaṭa if not.
For those interested in the Commentary’s interpretation—that the understanding is the duty of the listener, and that it must be present in all cases for there to be the full offense under this rule—here it is:
Understanding, according to the Commentary, means simply that the listener hears the statement clearly enough to know that it is a claim. Whether he/she understands the names for the states claimed—jhāna, clairvoyance, clairaudience, or whatever—is not an issue. The same is true of whether he/she believes the statement to be true or false. If the listener to whom an explicit claim to a superior human state is directed does not understand it, but a passer-by does, the penalty is still a pārājika.
The Commentary adds that if the listener does not hear the bhikkhu clearly enough to catch all he says, the penalty is a thullaccaya. If the listener at first has some doubt as to what the bhikkhu said but later realizes that it was a claim to a superior human state, the offense is still a thullaccaya. If the listener does not hear the bhikkhu at all, the Commentary—probably extrapolating from the Vinīta-vatthu cases concerning bhikkhus speaking in private—gives the bhikkhu a dukkaṭa.
If the bhikkhu makes a claim to a superior human state in which he mentions himself only implicitly—e.g., “The bhikkhus you support are non-returners”—the Commentary follows a similar pattern in assigning offenses: a thullaccaya if the listener understands, a dukkaṭa if he/she doesn’t, a dukkaṭa if he/she doesn’t even hear the claim.
As noted above, however, the Commentary’s judgments on this issue appear to be based on a misreading of the Vibhaṅga.
Special cases
Special cases in the Vinīta-vatthu:
1) Brahmans speaking with exaggerated faith or politeness address bhikkhus of no particular attainments as if they were arahants (“May the arahants come…. May the arahants be seated”). This puts the bhikkhus in a quandary and so they ask the Buddha how to behave in such a situation. His response: There is no offense in accepting invitations such as these from a “speaker with faith”—the point being that there is no offense in coming, sitting, etc., as long as the intention is just to accept the invitation and not to imply a claim.
2) Bhikkhus, hoping that people will esteem them, engage in special practices—the examples given in the Vinīta-vatthu include living in the jungle, going for alms, sitting, standing, walking, and lying down (apparently in meditation for long periods of time), but from them we can extrapolate to other practices such as any of the ascetic (dhutaṅga) practices or vegetarianism, etc., followed so as to impress others. The penalty: a dukkaṭa. Because this ruling might give the mistaken impression that one should not adopt the dhutaṅga practices or engage in long periods of sitting, etc., the Commentary includes a list of blameless reasons for living in the wilderness: seeing that village-dwelling makes one’s mind restless, desiring seclusion, desiring to attain arahantship, reflecting that the Buddha praised living in the wilderness, anticipating that one will be a good example to one’s fellows in the holy life. A bhikkhu who undertakes any of the dhutaṅga practices for these or similar reasons would incur no offense.
Non-offenses
In addition to the standard non-offenses, the Vibhaṅga lists two that we have already covered in connection with perception and intention: There is no offense if one makes a claim out of a mistaken and exaggerated understanding of one’s attainment; and no offense if one is not intending to boast, i.e., one makes a claim that may sound like an implicit reference to a superior human state but is not intended as such.
Summary: Deliberately lying to another person that one has attained a superior human state is a pārājika offense.
\ \ \*
A bhikkhu who violates any of these four pārājika rules is automatically no longer a bhikkhu. There is no need for him to go through a formal ceremony of disrobing, for the act of violating the rule is an act of disrobing in and of itself. As each of the rules states, he is no longer in affiliation, which the word-analysis defines as no longer having a single transaction (i.e., he can no longer participate in any Community meetings), no longer having a single recitation (i.e., he can no longer participate in the uposatha (see [BMC2, Chapter 15](./Section0055.html#BMC2chapter15))), no longer having a training in common with the bhikkhus.
Even if a bhikkhu who has violated any of these rules continues to pretend to be a bhikkhu, he does not really count as one; as soon as the facts are known he must be expelled from the Saṅgha. He can never again properly ordain as a bhikkhu in this life. If he tries to ordain in a Community that does not know of his offense, his ordination is invalid, and he must be expelled as soon as the truth is found out.
The Commentary to Pr 1 maintains that he is allowed to “go forth” as a novice, but because the Vibhaṅga does not clearly support this position, not all Communities accept it.
Ignorance of these rules does not exempt an offender from the penalty, which is why the Buddha ordered that they be taught to each new bhikkhu as soon as possible after ordination ([Mv.I.78.2-5](./Section0054.html#Mv.I.78.2-5)). Because the rules cover a number of cases that are legal in present-day society (e.g., recommending abortion, proving to oneself how supple one has become through yoga by inserting one’s penis in one’s mouth) or that are common practice among people who see nothing wrong with flirting with the edges of the law (e.g., hiding an article subject to customs duties when entering a country), it is especially important to inform each new bhikkhu of the rules’ full implications from the very start.
If a bhikkhu suspects that he has committed a pārājika, he should immediately inform a senior bhikkhu well versed in the rules. The way the senior bhikkhu should handle the case is well-illustrated by an incident reported in the Commentary to Pr 2: A king together with an enormous crowd once went to worship the Great Stūpa at a certain monastery in Sri Lanka. Among the crowd was a visiting bhikkhu from the South of the country who was carrying an expensive roll of cloth. The commotion of the event was so great that he dropped the cloth, was unable to retrieve it, and soon gave it up for lost. One of the resident bhikkhus happened to come across it and, desiring to steal it, quickly put it away before the owner might see it. Eventually, of course, he became tormented by guilt and went to the resident Vinaya expert to admit a pārājika and disrobe.
The Vinaya expert, though, wouldn’t let him disrobe until he had found the owner of the cloth and inquired about it more fully. Eventually, after a long search, the bhikkhu was able to track down the original owner at a monastery back South, who told him that at the time of the theft he had given the cloth up for lost and had abandoned all mental attachment for it. Thus, as the cloth was ownerless, the resident bhikkhu had incurred not a pārājika, but simply some dukkaṭas for the preliminary efforts with intention to steal.
This example shows several things: the great thoroughness with which a senior bhikkhu should investigate a possible pārājika, the compassion he should show to the offender, and the fact that the offender should be given the benefit of the doubt wherever possible: He is to be considered innocent until the facts prove him guilty.
There are, however, cases of another sort, in which a bhikkhu commits a pārājika and refuses to acknowledge the fact. If his fellow bhikkhus see, hear, or have any suspicions that this has happened, they are duty-bound to bring up the issue with him. If they are not satisfied with his assertions of his innocence, the case becomes an accusation issue, which must be resolved in line with the procedures outlined in [Sg 8](./Section0011.html#Sg8) and [Chapter 11](./Section0027.html#BMC1chapter11).
Finally, the Commentary concludes its discussion of the pārājikas by noticing that there are altogether 24—eight actual, twelve equivalent, and four derived—pārājikas for bhikkhus and bhikkhunīs.
The eight actual pārājikas are:
the four for bhikkhus (also observed by the bhikkhunīs), and
the four additional pārājikas for bhikkhunīs alone.
The twelve equivalent pārājikas include the eleven disqualified types who should not be ordained as bhikkhus in the first place. If they happen to be ordained, their ordination is invalid; once they are found out they must be expelled for life ([Mv.I.61-68](./Section0054.html#Mv.I.61.2); see [BMC2, Chapter 14](./Section0054.html#BMC2chapter14) for details). They are—
a paṇḍaka (essentially, a eunuch or a person born neuter—see Saṅghādisesa 2),
a “non-human” being, (this includes nāgas, petas, devas, and yakkhas),
a hermaphrodite,
a person who poses as a bhikkhu without having been ordained,
a bhikkhu who has ordained in another religion without first giving up his status as a bhikkhu,
a person who has murdered his father,
a person who has murdered his mother,
a person who has murdered an arahant,
a person who has sexually molested a bhikkhunī,
a person who has maliciously injured a Buddha to the point of causing him to bleed, and
a person who has dishonestly caused a schism in the Saṅgha, knowing or suspecting that his position was contrary to the Dhamma-Vinaya.
These eleven equivalent pārājikas apply to bhikkhunīs as well.
The twelfth equivalent pārājika, which applies only to bhikkhunīs, is the case where a bhikkhunī leaves the Bhikkhunī Saṅgha and takes up the role of a lay woman (Cv.X.26.1). Unlike the bhikkhus, the bhikkhunīs have no formal procedure for disrobing. If they leave the Saṅgha, they are not allowed to reordain for the rest of this lifetime.
In addition to the twenty actual and equivalent pārājikas, the Commentary gives separate listing to the four anulomika (derived) pārājikas, which are actually four cases included under Pr 1: the bhikkhu with a supple back who sticks his penis in his mouth, the bhikkhu with a long penis who inserts it into his anus, the bhikkhu who performs oral intercourse with someone else, and the bhikkhu who receives anal intercourse. Of these, three can be extrapolated to apply to bhikkhunīs, too. Why the Commentary lists these cases as separate pārājikas is hard to tell, unless it’s simply to ensure that these permutations of Pr 1 don’t get overlooked. Still, the entire list of 24 is important, for under the rules dealing with falsely accusing another bhikkhu of having committed a pārājika ([Sg 8](./Section0011.html#Sg8) & [9](./Section0011.html#Sg9)) or the rule dealing with concealing another bhikkhu’s pārājika offense ([Pc 64](./Section0022.html#Pc64)), the Commentary defines pārājika as including equivalent and derived pārājikas as well.