Thuật ngữ nissaggiya (xả đọa), khi dùng trong ngữ cảnh điều học, có nghĩa là "phải xả vật." Khi dùng trong ngữ cảnh các đồ vật, nghĩa là "vật cần được xả." pācittiya là một từ có nguyên từ không rõ ràng. Parivāra đưa ra cách dẫn giải theo lối giáo huấn — rằng từ này có nghĩa là để cho các thiện pháp rơi mất (patati) với một tâm si mê (citta) — nhưng thuật ngữ này có khả năng liên quan hơn đến động từ pacinati (pp. pacita), nghĩa là nhận thức, phân biệt, hay biết rõ.
Mỗi điều học trong nhóm này liên quan đến một vật mà vị tỳ-kheo (bhikkhu) đã thủ đắc hay sử dụng không đúng cách, và phải xả vật đó trước khi có thể "trình bày tội" — tức là sám hối — trước một vị tỳ-kheo khác, một nhóm hai hoặc ba vị tỳ-kheo, hay trước toàn thể Tăng đoàn. Chính việc sám hối này mới giải trừ tội lỗi. Trong hầu hết các trường hợp, việc xả vật chỉ mang tính tượng trưng. Sau khi sám hối, người phạm tội nhận lại vật đó, để, như một vật cúng dường của thí chủ, không bị lãng phí. Ngay cả theo ba điều học đòi hỏi người phạm tội phải từ bỏ vật hẳn, các thủ tục xả vật vẫn cho phép Tăng đoàn được hưởng lợi từ vật đó, cũng là cách gìn giữ lòng tin của thí chủ.
Có ba mươi điều học trong nhóm này, chia thành ba phẩm (vagga) mười điều học mỗi phẩm.
#Một: Phẩm Y
Khi một vị tỳ-kheo đã hoàn thành y và khung đã được tháo dỡ (đặc quyền kaṭhina của vị ấy đã kết thúc), vị ấy được giữ vải y phụ trội tối đa mười ngày. Ngoài thời hạn đó, vật phải được xả và sám hối tội.
Câu chuyện nguyên khởi cho điều học này được kể lại như một phần của một câu chuyện dài hơn trong Mahāvagga (Đại Phẩm) (VIII.13.4-8). Vì bối cảnh do câu chuyện dài hơn cung cấp chính là điều làm cho câu chuyện trở nên thú vị, đây là phiên bản được dịch ở đây.
"(Đức Phật bảo các tỳ-kheo:) 'Khi Ta đang đi trên đường từ Rājagaha đến Vesālī, Ta thấy nhiều tỳ-kheo đi tới mang nặng vải y, đội vải y trên đầu như một lớp đệm, mang vải y trên lưng/vai như một lớp đệm, và mang vải y trên hông như một lớp đệm. Thấy họ, Ta nghĩ: "Những kẻ vô dụng này đã quá mau chóng bị cuốn vào sự sung túc về vải y. Liệu Ta có nên vạch ranh giới, thiết lập giới hạn về vải y cho các tỳ-kheo không?"
"'Bấy giờ, vào thời điểm đó, trong những đêm giữa mùa đông lạnh lẽo — tám đêm quanh ngày rằm (bốn đêm trước và sau trăng tròn vào tháng Hai, thời điểm lạnh nhất trong năm ở miền bắc Ấn Độ) — khi tuyết đang rơi, Ta ngồi ngoài trời mặc một y và không cảm thấy lạnh. Đến cuối canh đầu Ta cảm thấy lạnh. Ta mặc thêm y thứ hai và không lạnh nữa. Đến cuối canh giữa Ta lại cảm thấy lạnh. Ta mặc thêm y thứ ba và không lạnh. Đến cuối canh cuối, khi bình minh ló dạng và đêm mỉm cười, Ta cảm thấy lạnh. Ta mặc thêm y thứ tư và không lạnh. Ý nghĩ khởi lên trong Ta: "Những người xuất thân gia đình đàng hoàng trong giáo pháp và luật này — nhạy cảm với cái lạnh và sợ lạnh — ngay cả họ cũng có thể sống được với ba y. Giả sử Ta vạch ranh giới, thiết lập giới hạn về vải y cho các tỳ-kheo và cho phép ba y." Các tỳ-kheo, Ta cho phép các ông ba y: một y ngoài hai lớp, một thượng y một lớp, và một hạ y một lớp (như vậy, bốn lớp vải).'
"Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo, nghĩ rằng 'Đức Thế Tôn cho phép ba y,' vào làng mặc một bộ ba y, ở lại trong tự viện với một bộ khác, và đi xuống tắm với một bộ khác nữa. Các tỳ-kheo có lòng xấu hổ... phê phán, than phiền và truyền đi: 'Làm thế nào mà nhóm sáu tỳ-kheo lại mặc vải y phụ trội?' Họ đem việc này bạch lên Đức Thế Tôn. Ngài... bảo các tỳ-kheo rằng: 'Các tỳ-kheo, không được giữ vải y phụ trội'...
"Bấy giờ vải y phụ trội đến tay Tôn giả Ānanda, và ngài muốn cho Tôn giả Sāriputta, nhưng Tôn giả Sāriputta đang ở Sāketa. Ngài nghĩ: '... Bây giờ Ta nên hành xử như thế nào?' Ngài đem việc này bạch lên Đức Thế Tôn, (Ngài hỏi:) 'Nhưng còn bao lâu nữa, Ānanda, trước khi Sāriputta sẽ đến đây?'
"'Chín ngày hay mười ngày.'
"Rồi Đức Thế Tôn... bảo các tỳ-kheo: 'Ta cho phép giữ vải y phụ trội tối đa mười ngày.'
"Bấy giờ vải y phụ trội đến tay các tỳ-kheo. Họ nghĩ: 'Bây giờ chúng ta nên hành xử như thế nào?' Họ đem việc này bạch lên Đức Thế Tôn, (Ngài nói:) 'Ta cho phép đặt vải y phụ trội dưới quyền sở hữu chung.'"
Tội phạm theo điều học này bao gồm hai yếu tố.
1) Đối tượng: một mảnh vải y phụ trội, tức là một mảnh vải thích hợp để may thành y hay các vật dụng vải khác, đo đạc ít nhất bốn nhân tám tấc (ngón tay rộng), chưa được chính thức xác định để sử dụng hay đặt dưới quyền sở hữu chung. Loại này bao gồm các đồ vật hoàn chỉnh cũng như các mảnh vải đơn giản, nhưng không bao gồm vải y thuộc về Tăng đoàn.
2) Cố gắng: Vị ấy giữ nó hơn mười ngày (trừ trong thời gian được phép) mà không xác định để sử dụng, đặt dưới quyền sở hữu chung, từ bỏ (cho đi hay vứt bỏ); và không có việc vải bị mất, bị phá hủy, bị cháy, bị cướp đoạt, hay bị người khác lấy theo niềm tin trong thời gian đó.
Đối tượng
Theo Mv.VIII.3.1, sáu loại vải thích hợp để may thành các vật dụng vải: vải lanh, vải bông, vải lụa, vải len, vải đay (§), hay vải gai dầu (§). Phụ chú thích thêm rằng vải làm từ bất kỳ hỗn hợp nào của gai dầu với bất kỳ loại sợi nào trong số các loại kia sẽ được phép theo "gai dầu." Áp dụng Đại Tiêu Chuẩn, nylon, rayon và các sợi tổng hợp khác cũng sẽ được tính là thích hợp. Các vật liệu không phù hợp — như vải làm bằng lông tóc, lông ngựa, cỏ, vỏ cây, mảnh gỗ, hay da linh dương (và theo nghĩa rộng, da thuộc) — không thuộc vào điều học này. (Để biết danh sách đầy đủ các vật liệu không phù hợp, xem Mv.VIII.28 — BMC2, Chương 2.) Mv.VIII.29 đưa ra danh sách các màu sắc — như đen, xanh lam, và đỏ tươi — và các hoa văn không phù hợp cho y nhưng theo Chú giải, lại phù hợp cho các thứ như khăn trải giường hay vải lót (lớp bên trong?) trong y ngoài hai lớp (xem BMC2, Chương 2). Các mảnh vải nhuộm màu này hay in hoa văn này thực sự thuộc về điều học này.
Mv.VIII.21.1 quy định rằng nếu một vị tỳ-kheo nhận được một mảnh vải thích hợp đo đạc bốn nhân tám ngón tay trở lên nhưng chưa có kế hoạch sử dụng, vị ấy có thể đặt nó dưới quyền sở hữu chung (vikappana) cho đến khi cần dùng. Khi vị ấy quyết định sử dụng vải, vị ấy phải thu hồi quyền sở hữu chung (xem Pc 59) trước khi may thành đồ vật hoàn chỉnh (nếu chưa xong). Khi đã hoàn chỉnh, vị ấy có thể xác định để sử dụng (adhiṭṭhāna) hay lại đặt dưới quyền sở hữu chung, tùy theo bản chất của đồ vật:
Mỗi y trong ba y cơ bản, khăn tay, khăn trải giường, và tọa cụ phải được xác định, và không được đặt dưới quyền sở hữu chung.
Y tắm mưa (xem NP 24) có thể được xác định cho bốn tháng mùa mưa và phải được đặt dưới quyền sở hữu chung trong phần còn lại của năm.
Y mụn da (xem Pc 90) có thể được xác định khi cần và phải đặt dưới quyền sở hữu chung khi không dùng.
Các vật bằng vải khác có thể được xác định là "vải vật dụng."
(Các thủ tục xác định và đặt dưới quyền sở hữu chung được nêu trong Phụ lục IV & V.)
Bất kỳ vải nào làm từ các vật liệu thích hợp và có kích thước cần thiết đều tính là vải phụ trội nếu —
vải đó chưa được xác định để sử dụng hay đặt dưới quyền sở hữu chung,
vải đó được xác định hay đặt dưới quyền sở hữu chung không đúng cách, hay
sự xác định hay quyền sở hữu chung của nó đã mất hiệu lực.
Nhiều trường hợp trong đó sự xác định và quyền sở hữu chung mất hiệu lực cũng loại trừ vải khỏi điều học này: ví dụ, chủ sở hữu hoàn tục hay qua đời, vị ấy cho vải đi, vải bị cướp đoạt, bị phá hủy (bị những thứ như mối mọt ăn, Chú giải nói vậy), bị cháy, bị mất, hay người khác lấy đi theo niềm tin. Tuy nhiên, có một vài trường hợp, trong đó sự xác định và quyền sở hữu chung mất hiệu lực và vải thực sự thuộc vào điều học này. Đó là —
Dưới quyền sở hữu chung: Chủ sở hữu thứ nhất lấy vải theo niềm tin, hay chủ sở hữu thứ hai chính thức thu hồi quyền sở hữu chung.
Dưới sự xác định: Chủ sở hữu thu hồi sự xác định, hay (nếu vải đã được xác định là một trong ba y cơ bản) vải bị thủng lỗ. Trường hợp sau đây xuất hiện trong Chú giải, nơi đưa ra các tiêu chuẩn chính xác để quyết định loại lỗ nào làm sự xác định y mất hiệu lực và loại nào không:
1) Kích thước. Lỗ phải là một vết rách hoàn toàn (xuyên qua cả hai lớp vải, nếu ở y ngoài) ít nhất bằng kích thước móng tay ngón út. Nếu một hay nhiều sợi chỉ còn ngang qua lỗ, thì lỗ đó chỉ làm sự xác định y mất hiệu lực nếu một trong hai "nửa" chia bởi sợi chỉ có kích thước cần thiết.
2) Vị trí. Trên thượng y hay y ngoài, lỗ phải cách ít nhất một gang tay (25 cm.) từ cạnh dài hơn và tám ngón tay từ cạnh ngắn hơn; trên hạ y, ít nhất một gang từ cạnh dài hơn và bốn ngón tay từ cạnh ngắn hơn. Bất kỳ lỗ nào gần mép y hơn các khoảng đo này đều không làm sự xác định mất hiệu lực.
Vì những điều khoản này, Chú giải lưu ý rằng nếu vị ấy đang vá một chỗ mòn — không phải một lỗ như định nghĩa ở trên — cách mép y hơn khoảng cách tối đa, sự xác định mất hiệu lực nếu vị ấy cắt bỏ chỗ mòn trước khi vá, nhưng không mất nếu vá trước khi cắt chỗ mòn. Nếu sự xác định mất hiệu lực, việc tái xác định y là điều dễ dàng, nhưng vị ấy phải chú ý làm trong khoảng thời gian được phép theo điều học này.
Cố gắng
Theo Vibhaṅga (Phân Tích Giới), nếu vị ấy giữ một mảnh vải y phụ trội quá bình minh ngày thứ mười một (trừ khi đặc quyền mùa y đang có hiệu lực), vị ấy phạm toàn tội theo điều học này. Chú giải giải thích điều này bằng cách nói rằng bình minh vào buổi sáng của ngày vị ấy nhận vải, hay để sự xác định/quyền sở hữu chung mất hiệu lực, tính là bình minh đầu tiên. Như vậy bình minh thứ mười một thực ra là bình minh thứ mười sau khi vị ấy nhận, v.v., vải đó.
Vì Tạng Kinh hay Chú giải đều không đưa ra định nghĩa chính xác về bình minh hay thời điểm bình minh, ý nghĩa chính xác của chúng là một điểm gây tranh cãi. Định nghĩa rõ ràng nhất về thời điểm bình minh — và cái dường như nhất quán nhất với cách sử dụng thuật ngữ trong Tạng Kinh — là trong một phụ chú thích gọi là Vinayālaṅkāra, trong đó nêu rằng vào thời điểm bình minh "một dải đỏ ở hướng đông và màu trắng ở các hướng còn lại, do sự khuếch tán của ánh sáng mặt trời, có thể được nhận biết." Theo thuật ngữ hiện đại, điều này tương ứng với sự khởi đầu của buổi chạng vạng dân sự. Đây là định nghĩa được tuân theo trong cuốn sách này. Hơn nữa, thời điểm bình minh rõ ràng là khoảnh khắc bình minh bắt đầu, mặc dù đây là điểm gây tranh cãi. Để thảo luận thêm, xem Phụ lục I.
Mv.V.13.13 quy định rằng nếu vị ấy được thông báo về một món quà vải y, việc đếm khoảng thời gian không bắt đầu cho đến khi vải đã đến tay vị ấy. Chú giải của đoạn đó nhấn mạnh rằng điều này có nghĩa là khi vật thực sự đến tay vị ấy hay khi vị ấy được các thí chủ thông báo rằng vải y đang ở chỗ ai đó, hay khi vị ấy được người khác thông báo theo nghĩa tương tự. Tuy nhiên, cách giải thích này dường như mâu thuẫn trực tiếp với đoạn văn mà nó đang chú giải, đoạn văn này nêu rõ, "Không có việc tính khoảng thời gian chừng nào nó chưa đến tay vị ấy" — "vị ấy" trong trường hợp này là vị tỳ-kheo.
Tri giác không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây. Ngay cả nếu vị ấy đếm sai số ngày hay nhận thức y đã được xác định khi thực ra chưa phải vậy, vị ấy cũng không thoát khỏi tội. Y phải được xả và tội phải được sám hối.
Nếu, trước khi được xả, vị ấy sử dụng y hay mảnh vải y đáng phải được xả theo điều học này, hình phạt là dukkaṭa (đột-kiết-la). Đây là một trong chỉ sáu điều học pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya mà Vibhaṅga đề cập hình phạt này — các điều kia là NP 2, 3, 21, 28, & 29 — nhưng K/Chú giải mở rộng nguyên tắc này cho tất cả các điều học pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya: Sử dụng vật chưa xả đáng phải xả thì phạm dukkaṭa trong mọi trường hợp. (Tuy nhiên, chúng ta cần thêm rằng việc sử dụng vàng hay tiền thủ đắc trái với NP 18 hay 19 sẽ là một pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya nếu sử dụng trái với NP 19 hay 20.)
Vibhaṅga cũng quy định rằng, trong trường hợp y phụ trội chưa được giữ hơn mười ngày, nếu vị ấy nhận thức rằng y đã được giữ hơn mười ngày hay nếu vị ấy có nghi ngờ về vấn đề đó, hình phạt là dukkaṭa. Điều này có thể được giải thích theo một trong hai cách: Có dukkaṭa đơn giản vì tiếp tục giữ y, hay dukkaṭa vì sử dụng nó. Chú giải chọn cách giải thích thứ hai.
Đặc quyền mùa y
Tháng âm lịch thứ tư của mùa mưa — bắt đầu ngày sau ngày rằm đầu tiên vào tháng Mười và kéo dài đến thời điểm bình minh của ngày sau ngày rằm tiếp theo — được gọi là mùa y, một thời kỳ truyền thống dành cho việc may y. Trong những ngày đầu, khi hầu hết các tỳ-kheo trải qua mùa lạnh và mùa nóng trong cuộc sống lữ hành, và chỉ ở cố định tại một nơi trong suốt thời kỳ Cư Trú Mùa Mưa, đây sẽ là thời kỳ lý tưởng để họ chuẩn bị y cho cuộc du hành, và để người thế gian đã quen biết các tỳ-kheo trong suốt thời kỳ Cư Trú Mùa Mưa bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng của họ bằng cách tặng vải để phục vụ mục đích này.
Trong mùa y này, năm điều học — NP 1 & 3; Pc 32, 33, & 46 — được nới lỏng để các tỳ-kheo may y thuận tiện hơn. Ngoài ra, bất kỳ vải nào đến với một tự viện cụ thể trong thời kỳ này chỉ có thể được phân chia giữa các tỳ-kheo đã trải qua Cư Trú Mùa Mưa ở đó, chứ không phải với bất kỳ khách ghé thăm nào đến.
Trong một số trường hợp nhất định (xem BMC2, Chương 17), các tỳ-kheo đã trải qua Cư Trú Mùa Mưa cũng có quyền tham gia vào lễ kaṭhina (công đức dâng y), trong đó họ nhận một món quà vải từ người thế gian, tặng cho một trong số họ, rồi như một nhóm may thành y trước thời điểm bình minh của ngày hôm sau. (kaṭhina có nghĩa là khung, và ám chỉ khung dùng để căng vải y khi may, giống như khung dùng ở Mỹ để làm chăn ghép.) Sau khi tham gia lễ này, các tỳ-kheo có thể kéo dài mùa y thêm bốn tháng âm lịch, cho đến thời điểm bình minh sau ngày rằm đánh dấu kết thúc mùa lạnh vào cuối tháng Hai hoặc đầu đến giữa tháng Ba (gọi là Phagguna trong tiếng Pali). Trong thời gian này, họ cũng có thể tận dụng đặc quyền bổ sung là không phải tuân thủ NP 2. Tuy nhiên, đặc quyền kaṭhina của một vị tỳ-kheo có thể bị thu hồi — và mùa y của vị ấy kết thúc — sớm hơn vì một trong hai lý do:
1) Vị ấy tham dự một cuộc họp trong đó tất cả các tỳ-kheo trong tự viện, như một giao dịch Tăng đoàn, tự nguyện từ bỏ đặc quyền kaṭhina của họ. (Hành động này được thảo luận dưới Pc 30 của tỳ-kheo-ni — xem BMC2, Chương 17 và Phụ lục I.)
2) Vị ấy đã chấm dứt cả ràng buộc của mình đối với tự viện (āvāsa-palibodha) lẫn ràng buộc của mình đối với việc may y (cīvara-palibodha). (Xem Mv.VII.1.7; Mv.VII.2 & Pv.XIV.6.)
a) Ràng buộc với tự viện kết thúc khi một trong hai điều sau xảy ra:
— Vị ấy rời tự viện mà không có ý định quay lại.
— Vị ấy đã rời tự viện, có kế hoạch quay lại, nhưng được biết rằng các tỳ-kheo trong tự viện đã chính thức quyết định từ bỏ đặc quyền kaṭhina của họ.
b) Ràng buộc với việc may y kết thúc khi bất kỳ điều nào sau đây xảy ra:
— Vị ấy hoàn tất việc may y/các y của mình.
— Vị ấy quyết định không may y.
— Vải y của vị ấy bị mất, bị cướp đoạt, hay bị phá hủy.
— Vị ấy mong đợi có được vải y, nhưng — sau khi không có được như mong đợi — vị ấy từ bỏ kỳ vọng của mình.
Chỉ khi Điểm 1 xảy ra, hoặc cả Điểm 2a lẫn 2b xảy ra, đặc quyền kaṭhina của vị ấy mới mất hiệu lực trước thời điểm bình minh sau ngày rằm đánh dấu kết thúc mùa lạnh.
Trong mùa y, vị ấy có thể giữ một mảnh vải y phụ trội hơn mười ngày mà không phạm tội theo điều học này. Tuy nhiên, khi các đặc quyền này mất hiệu lực, vị ấy phải xác định vải, đặt dưới quyền sở hữu chung, hay từ bỏ trong mười ngày. Nếu vị ấy không làm vậy trước thời điểm bình minh thứ mười một sau khi các đặc quyền mất hiệu lực, vải phải được xả và tội phải được sám hối.
Xả vật & Sám hối
Để được giải trừ tội theo điều học này, trước tiên vị ấy phải xả vải y đã giữ hơn mười ngày và sau đó sám hối tội. Điều này có thể được thực hiện trước sự hiện diện của một vị tỳ-kheo khác, một nhóm hai hoặc ba, hay một Tăng đoàn bốn vị trở lên. Sau khi sám hối tội, vị ấy nhận lại vải y. Đây là mẫu tuân theo theo tất cả các điều học pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya ngoại trừ một vài điều trong đó việc xả vật phải được thực hiện trước sự hiện diện của toàn thể Tăng đoàn và theo đó vật không được trả lại cho người phạm tội. (Chúng ta sẽ ghi chú những điều học này khi đến lượt chúng.)
Các công thức Pali dùng trong việc xả vật, sám hối, và trả lại vật cho điều học này và tất cả các điều học tiếp theo được nêu trong Phụ lục VI. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng theo Chú giải, vị ấy có thể thực hiện các thủ tục này bằng bất kỳ ngôn ngữ nào.
Trong điều học này và mọi điều học khác mà vật có thể được trả lại cho người phạm tội, vật phải được trả lại cho vị ấy. Theo Vibhaṅga, một vị tỳ-kheo nhận vật đang được xả mà không trả lại thì phạm dukkaṭa. Chú giải hạn chế điều này bằng cách nói rằng hình phạt này chỉ áp dụng cho vị tỳ-kheo cho rằng, khi nhận vật đang được xả theo cách này, đó là của mình để lấy tùy ý. Đối với vị tỳ-kheo biết rằng đó không phải của mình để lấy, tội lỗi được xử lý theo Pr 2, với hình phạt được xác định theo giá trị của vật. Khi đưa ra phán quyết này, Chú giải coi hành động chấp nhận vật được xả như một dạng chấp nhận vật được gửi bảo quản. Tuy nhiên, Chú giải đã bỏ qua không lưu ý rằng hành động xả vật được diễn đạt theo cách mà người phạm tội thực ra từ bỏ quyền sở hữu vải; vì vải sau đó không có chủ, nó sẽ không thỏa mãn các yếu tố để phạm tội theo Pr 2. Do đó, có vẻ tốt hơn khi tuân theo Vibhaṅga khi nói rằng, trong mọi trường hợp, một vị tỳ-kheo không trả lại vật đang được xả thì phạm dukkaṭa.
Một vị tỳ-kheo đã nhận lại vải y sau khi xả và sám hối tội có thể sử dụng lại mà không bị phạt, trừ khi vị ấy giữ nó như mảnh vải y phụ trội hơn mười bình minh nữa. Do đó, chính sách khôn ngoan là xác định vải hay đặt dưới quyền sở hữu chung ngay sau khi nhận lại.
Không phạm tội
Ngoài việc cho phép giữ vải y phụ trội hơn mười ngày trong mùa y, Vibhaṅga nói rằng không có tội nếu trong mười ngày, vải được xác định, đặt dưới quyền sở hữu chung, bị mất, bị cướp đoạt, bị phá hủy, bị cháy, bị người khác lấy theo niềm tin, bị vứt bỏ, hay được cho đi.
Liên quan đến điểm cuối cùng này, Chú giải thảo luận về các cách cho vật đúng và không đúng cách. Vật được tính là đã được cho đúng cách nếu vị ấy nói, "Tôi cho cái này cho ông," hay "Tôi cho cái này cho vị đó," hay "Hãy lấy cái này, nó là của ông," nhưng không phải nếu vị ấy nói những thứ như, "Hãy làm cho cái này trở thành của ông," hay "Mong cái này là của ông." Rõ ràng là nếu vị ấy chỉ trao vật mà không nói gì để cho thấy rằng vị ấy đang chuyển quyền sở hữu, thì cũng không tính. Như đã lưu ý ở trên, tri giác không phải là yếu tố giảm nhẹ theo điều học này. Nếu vị ấy cho vải y phụ trội đi theo cách không đúng, thì dù vị ấy có thể cho rằng vải đã được cho đi, nó vẫn tính là vải y phụ trội của riêng mình theo điều học này.
Thực hành hiện tại
Như câu chuyện nguyên khởi cho thấy, mục đích của điều học này là ngăn chặn các tỳ-kheo có nhiều hơn một bộ ba y tại bất kỳ thời điểm nào. Tuy nhiên, với sự trôi qua của thời gian, các món quà vải cho Tăng đoàn ngày càng nhiều hơn, và nhu cầu về sự nghiêm khắc trong vấn đề này ngày càng ít được cảm nhận. Chính xác khi nào y dự phòng được chấp nhận không được ghi lại, mặc dù một đoạn văn trong các bổn phận của đệ tử với thầy tế độ (Mv.I.25.9) cho thấy rằng tập tục có y hạ dự phòng đã là thực hành hiện hành khi phần đó của Tạng Kinh được biên soạn (xem Phụ lục X). Mv.VII.1 cũng đề cập đến một nhóm tỳ-kheo sống trong rừng hoang là "những người mặc ba y," như thể đây là đặc điểm phân biệt đặc biệt. Một số đoạn văn trong Tạng Kinh — bao gồm SN 16:8 và Thag 16:7 — đề cập đến tập tục chỉ sử dụng một bộ ba y là đặc biệt, và Visuddhimagga (thế kỷ thứ 5 CN) xếp tập tục này là một trong mười ba hạnh đầu đà (dhutaṅga) tùy chọn.
Như chúng ta sẽ thấy bên dưới, Pc 92 cho thấy rằng trong những ngày đầu, hạ y, thượng y, và y ngoài đều có kích thước gần như nhau, vì vậy sẽ không có khó khăn gì trong việc giặt một y và sử dụng hai y kia trong khi y đầu tiên phơi khô. Sau này, khi các nhà chú giải cổ đại đã mở rộng đáng kể kích thước thượng y và y ngoài sau khi quyết định rằng Đức Phật có chiều cao phi nhân, việc chỉ sử dụng một bộ ba y trở nên kém thuận tiện hơn. Do đó, nhiều vị thầy hiện nay đề xuất rằng ngay cả một vị tỳ-kheo tiết kiệm, khi ở trong tự viện, cũng nên dùng một hạ y dự phòng hay một hạ y và thượng y dự phòng — để vị ấy không gặp khó khăn trong việc giữ y sạch sẽ và có diện mạo chấp nhận được lúc nào cũng vậy — và lưu hạnh đầu đà ba y cho khi vị ấy một mình trong rừng hoang.
Dù sao, vì chỉ có một bộ ba y có thể được xác định như vậy, y dự phòng — một khi đã được chấp nhận rộng rãi — đã được xác định là "vải vật dụng." Điểm này có thể được suy ra từ giải thích của Chú giải về điều học này, và giải thích của Phụ chú về NP 7. Chú giải thậm chí còn chứa đựng một cuộc thảo luận về quan điểm của các trưởng lão khác nhau về việc liệu một vị tỳ-kheo muốn tránh các quy định đặc biệt xung quanh việc sử dụng ba y (chẳng hạn như điều học sau đây) có thể xác định bộ y cơ bản của mình là vải vật dụng hay không. Ý kiến đa số — với chỉ một giọng phản đối — là Có, mặc dù hiện nay nhiều cộng đồng không đồng ý với ý kiến này.
Phụ chú gợi ý một cách khác để xử lý y dự phòng: đặt chúng dưới quyền sở hữu chung và — vì không y nào trong ba y có thể được đặt dưới quyền sở hữu chung — gọi chúng đơn giản là "vải" (cīvara). Tuy nhiên, điều này gây rắc rối với Pc 59 và mục đích chung của quyền sở hữu chung trong Tạng Kinh như một cách giữ vải không sử dụng. Do đó, phương pháp trước — xác định y dự phòng là vải vật dụng — có vẻ tốt hơn.
Trong mọi trường hợp, từ khi y dự phòng được chấp nhận, tác dụng của điều học này chủ yếu là ngăn chặn vị tỳ-kheo tích trữ vải y bí mật và để một lỗ thủng trong bất kỳ y nào trong bộ ba y cơ bản của mình không được vá quá mười ngày. Tuy nhiên, tinh thần của điều học buộc mỗi vị tỳ-kheo phải giữ các vật dụng vải của mình ở mức tối thiểu.
Tóm tắt: Giữ một mảnh vải y hơn mười ngày mà không xác định để sử dụng hay đặt dưới quyền sở hữu chung — trừ khi đặc quyền mùa y đang có hiệu lực — là tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya.
Khi một vị tỳ-kheo đã hoàn thành y và khung đã được tháo dỡ (đặc quyền kaṭhina của vị ấy đã kết thúc): Nếu vị ấy sống xa cách (bất kỳ y nào trong số) ba y của mình dù chỉ một đêm — trừ khi được Tăng đoàn cho phép — y đó phải được xả và sám hối tội.
Trong câu chuyện nguyên khởi ở đây, một số tỳ-kheo đi du hành, để y ngoài lại với các bạn đồng tu ở tự viện. Cuối cùng các y bị ẩm mốc, và các tỳ-kheo ở tự viện phải vất vả đem phơi nắng để khử mốc. Do đó Đức Phật đặt ra điều học này để các tỳ-kheo phải chịu trách nhiệm tự chăm sóc y của mình.
Tội phạm ở đây bao gồm hai yếu tố: đối tượng và cố gắng.
Đối tượng
Bất kỳ y nào trong số các y mà vị tỳ-kheo đã xác định là bộ ba y cơ bản của mình — antaravāsaka (hạ y), uttarāsaṅga (thượng y), và saṅghāṭi (y ngoài). Vì vậy điều học này không áp dụng cho y dự phòng hay các vật dụng vải khác.
Cố gắng
Đón bình minh tại một nơi nằm ngoài khu vực mà bất kỳ y nào trong số các y của mình đặt, trừ khi các miễn trừ được đề cập trong điều học đang có hiệu lực.
Bình minh, như đã nêu theo điều học trước, tương ứng với sự khởi đầu của buổi chạng vạng dân sự. Ở Thái Lan, điểm này thường được đo theo một cách thực tế bằng cách nhìn vào lòng bàn tay khi được giơ thẳng cánh tay: Bình minh là thời điểm các đường chính của bàn tay có thể nhìn thấy bằng ánh sáng tự nhiên. Vào một đêm trăng sáng, bình minh được đo bằng cách nhìn vào tán lá của cây: Bình minh là thời điểm khi vị ấy có thể nhận ra màu xanh trong màu sắc của lá. Để thảo luận thêm về một số tranh cãi xung quanh bình minh và thời điểm bình minh, xem Phụ lục I.
Các khu vực
Đây là khía cạnh phức tạp nhất của điều học này. Khu vực mà vị tỳ-kheo phải ở vào lúc bình minh phụ thuộc vào loại địa điểm nơi các y của vị ấy được đặt, liệu tài sản xung quanh địa điểm có được vây kín hay không, và — nếu có vây kín — liệu nó thuộc về một hay nhiều hơn một kula (gia tộc).
"Vây kín," theo Chú giải, nghĩa là được bao quanh bởi tường, hàng rào, hay hào. Phụ chú thêm rằng một con sông hay hồ cũng sẽ đủ tiêu chuẩn như một loại bao vây, theo thuật ngữ hào.
Thuật ngữ kula thường nghĩa là dòng họ hay gia đình, nhưng trong bối cảnh của điều học này, nó có ý nghĩa khác nhau đối với các loại địa điểm khác nhau. Theo Chú giải, một làng là đơn kula nếu được cai trị bởi một người cai trị duy nhất, và đa kula nếu được cai trị bởi một hội đồng — như trong trường hợp của Vesālī và Kusinārā vào thời Đức Phật. (Vào thời Tạng Kinh và Chú giải, các nhà cai trị được coi là "sở hữu" hay có quyền "tiêu dùng" các lãnh thổ họ cai trị.) Hiện nay, các thị trấn được quản trị theo một khế ước xã hội — chẳng hạn như hiến chương thị trấn — sẽ tính là đa kula ngay cả khi quyền lực cao nhất trong chính phủ được trao cho một cá nhân duy nhất.
Một tòa nhà, một phương tiện giao thông hay một mảnh đất là đơn kula nếu thuộc về một gia đình, và đa kula nếu thuộc về nhiều hơn một (như trong một tòa nhà căn hộ).
Theo Phụ chú, một tự viện là đơn kula nếu những người khởi xướng nó thuộc về một kula — dù thuộc loại nào, rõ ràng — và đa kula nếu họ thuộc về nhiều kula.
Trong một số trường hợp, Vibhaṅga quy định rằng vị ấy nên đón bình minh trong một khu vực cụ thể "hay cách không quá một hatthapāsa (1,25 mét)." Đáng tiếc, nó không nêu rõ hatthapāsa được tính từ đâu — các y hay khu vực — vì vậy có những ý kiến khác nhau về ý nghĩa của đoạn văn này. Quan điểm của Chú giải là trong các trường hợp Vibhaṅga nói rằng nếu các y được giữ ở một khu vực nhất định, vị ấy phải ở trong khu vực đó hay cách không quá một hatthapāsa, thì hatthapāsa được tính từ ranh giới bên ngoài của khu vực. Ví dụ, nếu các y được giữ trong một ngôi nhà trong một làng không có hàng rào bao quanh, vị ấy được phép đón bình minh ở bất kỳ nơi nào trong ngôi nhà hay trong khu vực một hatthapāsa xung quanh ngôi nhà. (Điều này sẽ cho phép vị tỳ-kheo ra ngoài để giải quyết nhu cầu vào lúc bình minh mà không cần phải mang theo toàn bộ y của mình.) Tuy nhiên, trong các trường hợp Vibhaṅga không đề cập rằng vị ấy nên ở trong một khu vực nhất định, mà thay vào đó chỉ nói rằng vị ấy không được cách xa hơn một hatthapāsa — như trong một cánh đồng không có hàng rào bao quanh hay dưới một cái cây đa kula — thì hatthapāsa được tính từ các y.
Một số người phản đối quan điểm của Chú giải là không nhất quán và không phục vụ mục đích, và thay vào đó đề xuất rằng hatthapāsa được tính từ các y trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, điều này dẫn đến sự dư thừa: Ví dụ, nếu các y được giữ trong một phòng và vị ấy được phép (1) ở trong phòng hay (2) không xa hơn một hatthapāsa từ các y, thì hoặc (2) phủ nhận (1) — nói cách khác, vị ấy phải ở trong vòng một hatthapāsa của các y và không đi nơi khác trong phòng — hoặc (1) làm cho (2) trở nên thừa: Vị ấy có thể ở bất kỳ nơi nào trong phòng, mà không cần lo lắng chính xác y đang ở đâu trong phòng. Ngược lại, quan điểm của Chú giải không chỉ tránh được những sự dư thừa này mà còn thực sự phục vụ một mục đích. Ngoài sự tiện lợi đã đề cập ở trên, còn có một sự tiện lợi khác trong một tòa nhà hay tòa nhà đa kula lớn hơn: Nếu có một nhà vệ sinh nhỏ bên cạnh phòng nơi các y được giữ, vị ấy có thể sử dụng nhà vệ sinh vào lúc bình minh mà không cần mang y vào nhà vệ sinh. Vì những lý do này, chúng ta sẽ tuân theo cách giải thích của Chú giải ở đây.
1. Một làng:
a. Vây kín và đơn kula: Sau khi giữ các y trong khu vực vây kín, đón bình minh trong khu vực vây kín. (Vibhaṅga thực ra nói, "trong làng," nhưng như Chú giải về Mv.II.12.3 lưu ý, khi một làng được vây kín, mọi thứ trong khu vực vây kín đều tính là "làng," và đó là cách giải thích hợp lý nhất cho lời tuyên bố của Vibhaṅga ở đây. Đây là mẫu được tuân theo trong tất cả các trường hợp "vây kín và đơn kula.")
b. Vây kín và đa kula: Đón bình minh trong ngôi nhà nơi các y được giữ, trong hội trường công cộng, tại cổng thị trấn, hay trong khu vực một hatthapāsa xung quanh bất kỳ nơi nào trong số này (§). Nếu các y được giữ trong vòng một hatthapāsa của con đường đi đến hội trường công cộng, đón bình minh trong hội trường công cộng, tại cổng thị trấn, hay trong khu vực một hatthapāsa xung quanh một trong hai nơi. Nếu các y được giữ trong hội trường công cộng, đón bình minh trong hội trường công cộng, tại cổng thị trấn, hay trong khu vực một hatthapāsa xung quanh một trong hai nơi.
c. Không vây kín: Đón bình minh trong ngôi nhà nơi các y được giữ hay trong khu vực một hatthapāsa xung quanh nó (§). (Xem 2 & 3 bên dưới để biết thêm chi tiết.)
2. Một nơi ở có sân:
a. Vây kín và đơn kula: Sau khi giữ các y trong khu vực vây kín, đón bình minh trong khu vực vây kín.
b. Vây kín và đa kula: Đón bình minh trong phòng nơi các y được giữ, tại cổng vào khu vực vây kín, hay trong khu vực một hatthapāsa xung quanh một trong hai nơi (§).
c. Không vây kín: Đón bình minh trong phòng nơi các y được giữ, hay trong khu vực một hatthapāsa xung quanh nó (§).
3. Một nơi ở của tăng ni (vihāra — theo Phụ chú, điều này bao gồm toàn bộ tự viện):
a. Vây kín và đơn kula: Sau khi giữ các y trong khu vực vây kín, đón bình minh trong khu vực vây kín.
b. Vây kín và đa kula: Đón bình minh trong nơi ở nơi các y được giữ, tại cổng vào khu vực vây kín, hay trong khu vực một hatthapāsa xung quanh một trong hai nơi (§).
c. Không vây kín: Đón bình minh trong nơi ở nơi các y được giữ hay trong khu vực một hatthapāsa xung quanh nó (§).
4. Một cánh đồng, vườn cây, khu vườn (công viên), hay sân đập lúa:
a. Vây kín và đơn kula: Sau khi giữ các y trong khu vực vây kín, đón bình minh trong khu vực vây kín.
b. Vây kín và đa kula (ví dụ, nhiều cánh đồng, v.v., trong một khu vực vây kín duy nhất): Sau khi giữ các y trong khu vực vây kín, đón bình minh tại cổng vào cánh đồng, v.v., tại nơi y được giữ, hay trong khu vực một hatthapāsa xung quanh một trong hai nơi (§).
c. Không vây kín: Đón bình minh trong vòng một hatthapāsa của các y.
5. Các tòa nhà không có sân (như một pháo đài hay một tòa nhà căn hộ thành phố):
a. Đơn kula: Sau khi giữ các y trong tòa nhà, đón bình minh trong tòa nhà.
b. Đa kula: Đón bình minh trong phòng nơi các y được giữ, tại cổng vào (tòa nhà), hay trong khu vực một hatthapāsa xung quanh một trong hai nơi (§).
6. Một chiếc thuyền (và theo nghĩa rộng, các phương tiện khác):
a. Đơn kula: Sau khi giữ các y trong phương tiện, đón bình minh trong phương tiện.
b. Đa kula (như trong một máy bay thương mại hay xe buýt): Đón bình minh trong phòng nơi các y được giữ hay trong khu vực một hatthapāsa xung quanh nó (§). (Vì lý do này, một vị tỳ-kheo di chuyển bằng máy bay qua đêm nên mặc bộ y đầy đủ của mình hay mang nó theo trong hành lý xách tay, chứ không phải trong hành lý ký gửi.) Bản Thái của Tạng Kinh, không giống như các bản khác, bổ sung thêm rằng vị ấy cũng có thể đón bình minh tại cổng thuyền hay trong khu vực một hatthapāsa xung quanh nó.
7. Một đoàn lữ hành (theo Phụ chú, điều này bao gồm các nhóm đi bộ cũng như đi xe; các chuyến đi bộ đường dài theo nhóm cũng sẽ được bao gồm ở đây):
a. Đơn kula: Sau khi giữ các y trong đoàn lữ hành, đón bình minh ở bất kỳ đâu trong phạm vi bảy abbhantara (98 mét) phía trước hay phía sau đoàn lữ hành, và trong vòng một abbhantara (14 mét) về mỗi phía.
b. Đa kula: Sau khi giữ các y trong đoàn lữ hành, đón bình minh trong vòng một hatthapāsa của đoàn lữ hành.
8. Dưới gốc cây:
a. Đơn kula: Sau khi giữ các y trong khu vực được cây che bóng vào buổi trưa, đón bình minh trong khu vực đó. Theo Chú giải, điều này không bao gồm các chỗ có ánh sáng mặt trời lọt qua các kẽ hở trong tán lá, nhưng nhiều cộng đồng coi quy định này là quá mức.
b. Đa kula (ví dụ, một cây nằm trên ranh giới giữa hai mảnh đất): Đón bình minh trong vòng một hatthapāsa của các y.
9. Ngoài trời (theo Vibhaṅga, điều này có nghĩa là một khu vực hoang dã nơi không có làng mạc; Chú giải thêm rằng điều này bao gồm rừng rậm và các đảo không có người ở):
a. Đón bình minh trong vòng bán kính bảy abbhantara (98 mét) của các y. (Một số đã lập luận rằng quy định này chỉ nên áp dụng khi vị ấy ở ngoài nơi ở trong hoang dã; còn đối với một túp lều trong hoang dã, họ nói, khu vực theo (3) nên áp dụng. Vấn đề với cách giải thích này là ý nghĩa thực tế của nó: Nếu một vị tỳ-kheo giữ y trong một túp lều hoang dã muốn đón bình minh ngoài trời, vị ấy sẽ phải mang y ra khỏi túp lều. Sau đó vị ấy có thể tự do đi lại trong phạm vi 98 mét từ chúng. Điều này thực sự sẽ khiến các y phải đối mặt với nhiều nguy hiểm hơn nếu chúng được để lại trong túp lều. Do đó, có vẻ tốt hơn khi tuân theo định nghĩa của Vibhaṅga cho khu vực này: bất kỳ khu vực hoang dã nào không có làng mạc.)
Miễn trừ
1) Như điều học trước, điều học này không có hiệu lực khi đặc quyền kaṭhina đang có hiệu lực. Tuy nhiên — không giống điều học trước — nó có hiệu lực trong tháng đầu tiên sau kỳ Cư Trú Mùa Mưa, trừ khi vị ấy đã tham gia vào một kaṭhina.
2) Trong câu chuyện nguyên khởi của điều học này, Đức Phật cho phép một Tăng đoàn tỳ-kheo ủy quyền cho một vị tỳ-kheo bị bệnh được tách biệt khỏi y của mình vào thời điểm bình minh trong suốt quá trình bệnh mà không bị phạt. (Thủ tục và lời tuyên bố giao dịch cho sự ủy quyền này được nêu trong Phụ lục VIII.)
Chú giải thảo luận về thời hạn của sự ủy quyền này, và kết luận rằng một khi vị tỳ-kheo đã bình phục, vị ấy nên nỗ lực hết sức có thể để quay lại với y của mình càng sớm càng tốt mà không ảnh hưởng đến sức khỏe. Sau đó sự ủy quyền tự động chấm dứt, không cần thêm giao dịch nào để thu hồi. Nếu bệnh của vị ấy tái phát, sự ủy quyền tự động được khôi phục.
3) Trong Mv.II.12.1-3, Đức Phật hướng dẫn các tỳ-kheo tuyên bố một sīmā — hay lãnh thổ trong đó các giao dịch Tăng đoàn được thực hiện — như là một ticīvara-avippavāsa, có nghĩa là nếu y của vị tỳ-kheo ở bất kỳ đâu trong lãnh thổ, vị ấy có thể đón bình minh tại bất kỳ phần nào khác của lãnh thổ đó mà không phạm tội theo điều học này. Trong những ngày đầu, khi một lãnh thổ như vậy có thể bao gồm nhiều tự viện (kích thước tối đa được phép là 3x3 yojana, khoảng 48x48 kilômét), đây là một sự tiện lợi rõ ràng cho các tỳ-kheo phải rời tự viện để tham gia các cuộc họp Tăng đoàn tại một tự viện khác trong cùng lãnh thổ. Vì các lãnh thổ như vậy có thể bao gồm cả làng mạc và nhà cửa, Đức Phật đã bổ sung điều khoản bổ sung rằng y để lại trong nhà của người thế gian nằm trong lãnh thổ đó không được bảo vệ bởi miễn trừ này. Để biết thêm chi tiết, xem BMC2, Chương 13.
Hiện nay, tập tục là chỉ định các khu vực nhỏ hơn nhiều làm lãnh thổ — thường chỉ là một phần của đất trong một tự viện — và mặc dù chúng cũng có thể được chỉ định là ticīvara-avippavāsa, sự sắp xếp này trong những trường hợp như vậy không phải là sự tiện lợi lớn như trong các lãnh thổ lớn hơn.
Xả Vật & Sám Hối
Nếu một vị tỳ-kheo đón bình minh bên ngoài khu vực mà bất kỳ y nào trong số ba y đã xác định của mình được đặt — trừ khi các miễn trừ đang có hiệu lực — y đó phải được xả và tội phải được sám hối. Tri giác và ý định không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây. Nếu vị ấy nghĩ rằng mình đang ở trong cùng khu vực khi thực ra không phải vậy, nếu vị ấy nghĩ rằng y chưa được xác định khi thực ra đã xác định, hay nếu vị ấy có ý định ở trong cùng khu vực nhưng hoàn cảnh ngăn cản, vị ấy vẫn phạm tội như nhau. Nếu vị ấy dùng y trước khi xả và sám hối tội, vị ấy phạm một tội dukkaṭa (đột-kiết-la).
Vibhaṅga bổ sung thêm rằng, đối với y chưa từng rời xa mình, nếu vị ấy nhận thức rằng y đã rời xa hoặc vị ấy nghi ngờ về điều đó, thì hình phạt là một tội dukkaṭa. Chú giải không giải thích những lời này, nhưng từ các tình huống tương tự ở [NP 1] có vẻ như tội dukkaṭa ở đây là do dùng y.
Thủ tục xả vật, sám hối và nhận lại y giống như ở điều học trước. Để biết công thức Pali dùng trong xả vật, xem [Phụ Lục VI]. Khi y đã được xả, sự xác định của nó mất hiệu lực, vì vậy khi vị tỳ-kheo nhận lại, vị ấy phải xác định lại để sử dụng hoặc cho đi trong vòng mười ngày để không phạm tội theo điều học trước.
Các Trường Hợp Không Phạm Tội
Ngoài các miễn trừ đã đề cập ở trên, không có tội phạm nếu, trước bình minh, y bị mất, bị phá hủy, bị cháy, hay bị cướp đoạt; nếu người khác lấy theo niềm tin; hay nếu vị tỳ-kheo cho đi hoặc hủy bỏ sự xác định của y. Do điều khoản cuối cùng này, Chú giải khuyến nghị rằng nếu vị tỳ-kheo nhận ra mình sẽ không thể quay về y trước bình minh, vị ấy nên hủy bỏ sự xác định của y trước khi bình minh ló dạng để tránh phạm tội, rồi xác định lại y sau khi bình minh đã qua.
Ghi Chú Về Thực Hành Tại Thái Lan
Tác giả của Vinaya-mukha đã bỏ lỡ phần thảo luận của Phụ chú về nơi cư trú trong tự viện ở điều học này và vì vậy đi đến kết luận rằng không có văn bản nào thảo luận về vấn đề các khu vực trong tự viện. Kết quả là, ngài đề xuất hệ thống riêng của mình, coi mỗi nơi cư trú tự viện riêng biệt như một nhà thế tục có sân vườn. Hơn nữa, ngài đã không thảo luận về câu hỏi điều gì được tính là đơn kula và đa kula trong nơi cư trú như vậy. Trong trường hợp không có tiêu chuẩn nào khác, các tỳ-kheo Thái đã bắt đầu coi nơi cư trú có hai hay nhiều tỳ-kheo, trong đó các tỳ-kheo đến từ các gia đình khác nhau, là nơi cư trú đa kula. Nếu các tỳ-kheo ở trong các phòng riêng biệt, thì phòng nơi y được đặt, cộng thêm bán kính một hatthapāsa xung quanh, là khu vực của vị tỳ-kheo. Nếu hai hay nhiều tỳ-kheo ngủ đêm trong một phòng, mỗi vị tỳ-kheo phải đón bình minh trong vòng một hatthapāsa từ y của mình.
Mặc dù không có cơ sở nào trong Tạng và Chú giải cho tập tục này, nó được chấp nhận rộng rãi ở Thái Lan đến mức chính sách khôn ngoan cho bất kỳ ai qua đêm trong cùng nơi cư trú hay cùng phòng với một vị tỳ-kheo Thái là nên biết điều này và tuân thủ, để tránh những tranh cãi vô ích có thể nảy sinh về những vấn đề nhỏ nhặt như thế này.
Tóm tắt: Ở trong một khu vực khác biệt so với bất kỳ y nào trong ba y của mình vào lúc bình minh — trừ khi đặc quyền kaṭhina đang có hiệu lực hoặc vị ấy đã nhận được sự ủy quyền chính thức từ Tăng đoàn — là tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya.
Khi một vị tỳ-kheo đã hoàn thành y và khung đã được tháo dỡ (đặc quyền kaṭhina của vị ấy đã kết thúc): Nếu vải y ngoài mùa đến tay vị ấy, vị ấy có thể chấp nhận nếu muốn. Khi đã chấp nhận, vị ấy phải may xong ngay lập tức (thành một vật dụng vải). Nếu không đủ vải (§), vị ấy có thể để dành tối đa một tháng khi có kỳ vọng về việc bổ sung phần thiếu hụt. Nếu vị ấy giữ quá thời hạn đó, ngay cả khi có kỳ vọng (về vải thêm), vật phải được xả và sám hối tội.
Có hai yếu tố cho tội phạm ở đây.
1) Đối tượng: (a) vải y ngoài mùa, được làm từ bất kỳ loại nào trong sáu loại vật liệu thích hợp, theo từng miếng đo ít nhất bốn nhân tám tấc ngón tay; (b) vải không đủ để may vật dụng vải mà vị ấy có ý định, nhưng vị ấy có kỳ vọng sẽ nhận được thêm.
2) Cố gắng: Vị ấy giữ vải hơn 30 ngày, trừ khi đặc quyền kaṭhina đang có hiệu lực.
Đối Tượng
Vibhaṅga định nghĩa vải y trong mùa là bất kỳ vải y nào đến tay vị tỳ-kheo — từ Tăng đoàn, từ một nhóm, từ bà con, từ bạn bè, từ vải bỏ đi, hay từ tài nguyên của bản thân — trong tháng đầu tiên sau kỳ Cư Trú Mùa Mưa nếu vị ấy chưa tham gia kaṭhina, hay trong thời gian đặc quyền kaṭhina đang có hiệu lực nếu vị ấy đã tham gia. Như vậy, vải ngoài mùa là bất kỳ vải nào đến tay vị ấy vào bất kỳ thời gian nào khác. Tuy nhiên, Vibhaṅga cũng lưu ý rằng vải đến tay vị tỳ-kheo trong mùa y một tháng hay năm tháng có thể được tính là vải ngoài mùa nếu thí chủ dành riêng nó cho mục đích đó. Có hai lý do tại sao họ có thể muốn làm vậy.
1) Theo cách định nghĩa "vải y phụ trội" trong [NP 1], một món quà vải y trong mùa có thể được giữ — nếu chưa được xác định hay đặt dưới quyền sở hữu chung — trong mười ngày sau khi mùa y kết thúc. Tuy nhiên, nếu vải không đủ để may thành y, nó không thể được giữ — nếu chưa được xác định hay đặt dưới quyền sở hữu chung — trong thời gian một tháng được phép theo điều học này. Tuy nhiên, như Kinh/Chú giải về [NP 24] lưu ý, một món quà vải ngoài mùa có thể được giữ thêm một tháng theo điều học này. Vì vậy, nếu thí chủ muốn tạo cho người nhận thêm thời gian đó — điều này đặc biệt hữu ích nếu họ cho vải vào cuối mùa y — họ có thể dành riêng vải được cho trong mùa như vải ngoài mùa.
2) Theo [Mv.VIII.24-25], vải trong mùa được cho một Tăng đoàn chỉ có thể được chia sẻ cho những tỳ-kheo đã cư trú Mùa Mưa trong cộng đồng đó, chứ không phải cho các tỳ-kheo vãng lai. [NP 2] của Tỳ-kheo-ni kể về trường hợp các tỳ-kheo-ni có hạnh kiểm tốt nhưng ăn mặc nghèo nàn đến thăm một Tăng đoàn tỳ-kheo-ni khi đặc quyền mùa y đang có hiệu lực; thí chủ tại gia, muốn giúp đỡ họ, đã cho vải cho Tăng đoàn với điều kiện là nó được coi là vải y ngoài mùa để các tỳ-kheo-ni vãng lai cũng có phần.
Vải ngoài mùa, nếu đủ để may vật dụng vải mà vị ấy có ý định, được coi là vải y phụ trội theo [NP 1]: Trong thời gian ngoài mùa y, nó có thể được giữ tối đa mười ngày. Tuy nhiên, nếu không đủ, và vị ấy có kỳ vọng nhận được thêm vải từ bất kỳ nguồn nào — một lần nữa, từ Tăng đoàn, từ một nhóm, từ bà con, từ bạn bè, từ vải bỏ đi, hay từ tài nguyên của bản thân — nó có thể được giữ tối đa 30 ngày mà không cần phải xác định hay đặt dưới quyền sở hữu chung.
Vải thêm, khi nhận được, có thời hạn mười ngày, theo [NP 1], và vị ấy phải hoàn thành may vật dụng trong thời hạn được xác định bởi loại vải nào có thời hạn ngắn hơn. Vì vậy, nếu vị ấy nhận được vải dự kiến trong 20 ngày đầu, vật dụng phải được may xong trong mười ngày, đây là thời hạn của mảnh vải thứ hai. Nếu vị ấy nhận được sau ngày thứ 21, vật dụng phải được làm xong trước khi 30 ngày ban đầu hết.
Nếu mảnh vải thứ hai hóa ra có chất lượng khác với mảnh đầu tiên, vị ấy không bị bắt buộc phải ghép hai mảnh vải lại để may vật dụng nếu không muốn, và có thể tiếp tục chờ vải thêm, nếu còn có kỳ vọng về vải, miễn là thời hạn của mảnh vải đầu tiên còn cho phép. Chú giải khuyến nghị rằng nếu mảnh vải thứ hai kém chất lượng hơn mảnh đầu tiên, vị ấy có thể xác định nó làm vải vật dụng; nếu mảnh vải thứ hai có chất lượng tốt hơn, vị ấy có thể xác định mảnh vải đầu tiên làm vải vật dụng và bắt đầu một kỳ hạn 30 ngày mới từ ngày nhận mảnh vải thứ hai.
Cố Gắng
Các ngày được tính theo bình minh. Nếu vào bình minh thứ 30 sau khi vị ấy nhận được vải gốc, vị ấy chưa xác định, đặt dưới quyền sở hữu chung, hay từ bỏ, vải phải được xả và tội phải được sám hối. Phụ chú bổ sung thêm rằng nếu bất kỳ lúc nào sau mười ngày đầu tiên vị ấy từ bỏ bất kỳ kỳ vọng nào về vải thêm, vị ấy phải xác định vải gốc, đặt dưới quyền sở hữu chung, hay từ bỏ trước bình minh tiếp theo. Nếu không, vị ấy phạm tội theo [NP 1].
Như đã lưu ý ở [NP 1], [Mv.V.13.13] tuyên bố rằng nếu vị ấy được thông báo về món quà vải y, việc tính thời hạn không bắt đầu cho đến khi vải đến tay vị ấy.
Như trong các điều học trước, tri giác không phải là yếu tố giảm nhẹ. Nếu vị ấy đếm sai số bình minh hay nghĩ rằng vải đã được xác định đúng cách, v.v., khi thực ra không phải vậy, vẫn có tội như thường. Vibhaṅga tuyên bố rằng, đối với y chưa được giữ quá thời gian cho phép, nếu vị ấy nhận thức rằng nó đã được giữ quá thời hạn đó hay nếu vị ấy nghi ngờ về điều đó, hình phạt là một tội dukkaṭa. Như trong các điều học trước, hình phạt này dường như áp dụng cho việc dùng y.
Đối với vải ngoài mùa nhận được ngay trước khi mùa y bắt đầu, kỳ hạn đếm sẽ bắt đầu khi nhận, sẽ bị tạm ngưng trong suốt mùa y, và sẽ tiếp tục vào cuối mùa y.
Tuy nhiên, như với nhiều vấn đề ở trên, tình huống này hiếm khi xảy ra trong thực tế, vì đây là việc đủ đơn giản để xác định vải gốc làm vải vật dụng hay đặt dưới quyền sở hữu chung cho đến khi có đủ vải để may vật dụng, rồi rút nó ra khỏi những sắp xếp đó để may vật dụng, và như vậy tránh phải lo lắng về điều học này.
Xả Vật & Sám Hối
Thủ tục xả vật, sám hối và nhận lại vải giống như trong các điều học trước. Để biết công thức Pali dùng trong xả vải, xem [Phụ Lục VI]. Khi vải được nhận lại và giờ đủ để may vật dụng mà vị ấy có ý định, nó được phân loại là vải y phụ trội theo [NP 1]. Nếu không, kỳ hạn 30 ngày bắt đầu lại từ đầu.
Các Trường Hợp Không Phạm Tội
Không có tội phạm nếu, trước khi 30 ngày hết, vải gốc bị mất, bị phá hủy, bị cháy, hay bị cướp đoạt; nếu người khác lấy theo niềm tin; hay nếu chủ nhân xác định để sử dụng, đặt dưới quyền sở hữu chung, hay từ bỏ. Và, như đã nêu ở trên, điều học này không áp dụng khi đặc quyền mùa y đang có hiệu lực.
Tóm tắt: Giữ vải y ngoài mùa hơn 30 ngày khi không đủ để may vật dụng và có kỳ vọng về thêm — trừ khi đặc quyền mùa y đang có hiệu lực — là tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya.
Nếu một vị tỳ-kheo bảo một tỳ-kheo-ni (bhikkhunī) không phải bà con của mình giặt, nhuộm, hay đập y đã dùng rồi, vật phải được xả và sám hối tội.
Câu chuyện nguyên khởi ở đây là một trong những câu chuyện kinh điển của văn học Luật, mặc dù khó nói điều gì đáng nhớ hơn — văn phong khô khan, đơn giản mà câu chuyện kể các sự kiện khó tin, hay phản ứng của các tỳ-kheo-ni khi nghe điều đã xảy ra.
"Bấy giờ, vợ của Tôn giả Udāyin đã xuất gia trong hàng tỳ-kheo-ni. Bà thường đến nơi của ngài, và ngài thường đến nơi của bà. Một ngày, ngài đến nơi của bà để nhận thức ăn cúng dường. Mặc y (§) vào sáng sớm, mang bát và y ngoài, ngài đến chỗ bà và khi đến nơi thì ngồi xuống trước mặt bà, để lộ dương vật. Bà ngồi xuống trước mặt ngài, vén áo để lộ âm đạo. Ngài, với tâm đầy dục, nhìn chằm chằm vào âm đạo của bà. Tinh dịch chảy ra từ dương vật của ngài (§). Ngài nói với bà: 'Đi lấy nước đi, sư tỷ. Tôi sẽ giặt hạ y.'
"'Đưa đây, thưa thầy. Con sẽ giặt.'
"Rồi bà lấy một ít tinh dịch (§) vào miệng và đưa một phần vào âm đạo. Với đó, bà mang thai.
"Các tỳ-kheo-ni nói: 'Vị tỳ-kheo-ni này đã thực hành bất tịnh hạnh. Bà ấy có thai.'
"'Tôi không có thực hành bất tịnh hạnh.' Và bà kể cho họ nghe điều đã xảy ra. Các tỳ-kheo-ni chỉ trích, than phiền và truyền đi: 'Làm sao vị Tôn giả Udāyin này lại nhờ một tỳ-kheo-ni giặt y đã dùng của ngài?'"
Có ba yếu tố cho tội phạm ở đây: đối tượng, cố gắng, và kết quả.
Đối Tượng
Một y đã dùng. Y, ở đây, theo Chú giải, có nghĩa là bất kỳ y nào đã được nhuộm và đánh dấu đúng cách (xem [Pc 58]). Đây là cách Chú giải nói rằng y phải là một vật dụng vải hoàn chỉnh thuộc loại phù hợp để mặc, nhưng không nhất thiết phải được xác định là một trong ba y căn bản của vị ấy. Nói cách khác, nó cũng có thể là y chưa được xác định, hay một y dự phòng đã được xác định làm vải vật dụng.
Đã dùng, theo Vibhaṅga, có nghĩa là đã mặc quanh thân ít nhất một lần. Theo Chú giải, nó có thể có nghĩa là đã dùng theo các cách khác — như cuộn lại làm gối hay đeo vắt qua vai hay đầu — cũng vậy.
Vibhaṅga bổ sung rằng tọa cụ và khăn trải giường là căn cứ cho tội dukkaṭa; các vật dụng khác không phải là căn cứ cho tội phạm.
Cố Gắng
Vị ấy bảo một tỳ-kheo-ni không phải bà con giặt, nhuộm, hay đập y.
Tỳ-kheo-ni, ở đây, có nghĩa là người đã thọ giới kép, trước tiên trong Tăng đoàn Tỳ-kheo-ni và sau đó trong Tăng đoàn Tỳ-kheo (xem [BMC2, Chương 23]). Một tỳ-kheo-ni chỉ mới thọ giới lần đầu là căn cứ cho tội dukkaṭa. Thức-xoa-ma-na và sa-di-ni không phải là căn cứ cho tội phạm.
Không phải bà con được Vibhaṅga giải thích là không có quan hệ bà con ngược lên đến bảy đời ông nội, từ phía cha hoặc phía mẹ. Chú giải giải thích thêm rằng điều này có nghĩa là bảy đời tính ngược lên từ ông nội của mình. Như vậy tất cả con cháu của các cụ tổ bảy đời đều được tính là bà con. Tuy nhiên, thông gia thì không. Định nghĩa về không phải bà con này áp dụng ở bất cứ đâu Vibhaṅga đề cập đến từ này. Vào thời Đức Phật, mối quan hệ bà con được nhận thức trải rộng hơn so với ngày nay, và vị tỳ-kheo hiện đại sẽ nên khôn ngoan khi chỉ coi những người thân ruột thịt mà tình cảm họ hàng thực sự được cảm nhận là bà con của mình.
Tri giác không phải là vấn đề ở đây. Nếu vị tỳ-kheo nhận thức một tỳ-kheo-ni là bà con trong khi thực ra không phải, vị ấy vẫn phải chịu hình phạt đầy đủ. Nếu vị ấy nhận thức một tỳ-kheo-ni là bà con như một người không phải bà con, hay nếu vị ấy nghi ngờ về việc bà ấy có phải là bà con không, vị ấy phạm tội dukkaṭa khi nhờ bà ấy giặt, v.v., một y.
Bảo, theo Chú giải, bao gồm cả ra hiệu. Vì vậy, nếu một tỳ-kheo-ni đang giặt y của mình, và một vị tỳ-kheo ném y đã dùng của mình xuống bên cạnh bà, điều đó sẽ thỏa mãn yếu tố này.
Kết Quả
Tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, hay đập y theo yêu cầu.
Các Tội Phạm
Một vị tỳ-kheo bảo một tỳ-kheo-ni không phải bà con giặt, v.v., y đã dùng của mình phạm tội dukkaṭa khi ra lệnh. (Đối với mỗi nỗ lực mà bà ấy sau đó thực hiện hướng đến việc giặt, Chú giải thêm, vị ấy phạm thêm một tội dukkaṭa, nhưng không có cơ sở cho ý kiến này trong Vibhaṅga.) Nếu vị ấy bảo bà ấy giặt, thì khi y được giặt, y phải được xả và tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya phải được sám hối. Nếu vị ấy bảo bà ấy nhuộm, thì khi y được nhuộm, y phải được xả và tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya phải được sám hối. Nếu vị ấy bảo bà ấy đập, thì khi bà ấy đập y ít nhất một lần bằng que hay tay, y phải được xả và tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya phải được sám hối. Vị tỳ-kheo phạm một tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya và một tội dukkaṭa nếu vị ấy nhờ bà ấy thực hiện hai trong số ba hành động được đề cập trong điều học — như giặt và nhuộm y; và một tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya và hai tội dukkaṭa nếu vị ấy nhờ bà ấy thực hiện cả ba.
Thủ tục xả vật, sám hối và nhận lại y giống như trong các điều học trước. Khi y được nhận lại, nó được tính là vải y phụ trội theo [NP 1].
Các Trường Hợp Không Phạm Tội
Không có tội phạm nếu tỳ-kheo-ni là bà con của vị tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo-ni không phải bà con nhưng tự giặt y không được yêu cầu, nếu tỳ-kheo-ni không phải bà con giúp một tỳ-kheo-ni là bà con giặt, nếu y chưa được dùng, nếu vị ấy nhờ tỳ-kheo-ni không phải bà con giặt loại vật dụng khác (ngoài y, tọa cụ, hay khăn trải giường), hay nếu vị ấy nhờ thức-xoa-ma-na hay sa-di-ni không phải bà con giặt y đã dùng.
Chú giải thảo luận về trường hợp một vị tỳ-kheo đưa y đã dùng cho một thức-xoa-ma-na để giặt: Bà lấy y, trong khoảng thời gian đó thọ giới thành tỳ-kheo-ni, rồi giặt y. Phán quyết: Vị ấy phạm hình phạt đầy đủ theo điều học này. Để vui vẻ, Chú giải sau đó thảo luận về trường hợp một vị tỳ-kheo đưa y đã dùng cho một nam cư sĩ để giặt. Người nam này trải qua sự chuyển đổi giới tính tự phát và trở thành tỳ-kheo-ni trước khi giặt y, và một lần nữa, vị tỳ-kheo phạm hình phạt đầy đủ. Ý nghĩa nào được dụng ý ở đây thì khó nói.
Tóm tắt: Nhờ một tỳ-kheo-ni không phải bà con giặt, nhuộm, hay đập y đã được mặc ít nhất một lần là tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya.
Nếu một vị tỳ-kheo chấp nhận vải y từ tay một tỳ-kheo-ni không phải bà con của mình — ngoại trừ trường hợp trao đổi — vật phải được xả và sám hối tội.
Lý do đằng sau điều học này được diễn đạt bằng một câu duy nhất trong câu chuyện nguyên khởi: 'Thật khó khăn cho chúng tôi — những người phụ nữ — để có được đồ vật.' Trong phiên bản gốc của điều học, Đức Phật không có điều khoản cho việc chấp nhận vải y trong trường hợp trao đổi, nhưng điểm này được thêm vào sau theo yêu cầu của các tỳ-kheo-ni. Họ đã thử trao đổi vải y với các tỳ-kheo, những người từ chối vì điều học như nó đứng vào thời điểm đó, và điều này làm phiền các tỳ-kheo-ni. Như Chú giải giải thích, sự nghèo túng của họ mới là điều khiến họ than phiền: 'Nếu các Thầy không thân thiết với chúng con đến mức này, làm sao chúng con có thể tiếp tục sống được?'
Tội phạm theo điều học này gồm hai yếu tố: đối tượng và cố gắng.
Đối Tượng
Bất kỳ miếng vải y nào trong sáu loại thích hợp, đo ít nhất bốn nhân tám tấc ngón tay. Các vật dụng khác không phải là căn cứ cho tội phạm.
Cố Gắng
Vị tỳ-kheo nhận vải như vậy từ một tỳ-kheo-ni không phải bà con và không đưa cho bà ấy bất cứ thứ gì để đổi lại.
Tỳ-kheo-ni không phải bà con ở đây được định nghĩa trong cùng thuật ngữ như ở điều học trước: một tỳ-kheo-ni đã thọ giới kép và không có quan hệ bà con với vị tỳ-kheo ngược lên đến các cụ tổ đại x 7 của họ. Một tỳ-kheo-ni chỉ mới thọ giới lần đầu từ các tỳ-kheo-ni là căn cứ cho tội dukkaṭa. Thức-xoa-ma-na và sa-di-ni không phải là căn cứ cho tội phạm.
Tri giác ở đây không phải là yếu tố giảm nhẹ: Theo Vibhaṅga, ngay cả khi vị tỳ-kheo nhận thức một tỳ-kheo-ni không phải bà con là bà con, vị ấy vẫn phải chịu hình phạt. Nếu vị ấy nhận thức một tỳ-kheo-ni là bà con như một người không phải bà con hay nếu vị ấy nghi ngờ bà ấy có phải là bà con không, vị ấy phạm tội dukkaṭa khi nhận y từ bà ấy.
Chú giải bổ sung rằng ngay cả khi vị ấy không biết y đến từ một tỳ-kheo-ni — như khi nhiều thí chủ đặt y vào một đống cho vị tỳ-kheo, và một trong số các thí chủ, mà vị ấy không biết, là tỳ-kheo-ni — yếu tố này vẫn được thỏa mãn. Tuy nhiên, nếu một tỳ-kheo-ni đưa vải y cho người khác để trao lại cho vị tỳ-kheo, vị tỳ-kheo không phạm tội khi chấp nhận nó.
Chú giải cũng tuyên bố rằng việc nhận không nhất thiết phải là tay đổi tay. Nếu một tỳ-kheo-ni chỉ đặt vải y gần vị tỳ-kheo như cách bà ấy trao tặng và vị ấy chấp nhận như đã trao tặng, yếu tố này được thỏa mãn.
Đối với vật được trao đổi lại cho vải, Vibhaṅga tuyên bố rằng nó có thể có giá trị nhiều hơn vải hay ít hơn nhiều. Buddhaghosa trích dẫn Mahā Paccarī, một trong những Chú giải cổ xưa, nói rằng ngay cả khi, để đổi lấy vải, vị tỳ-kheo đưa cho tỳ-kheo-ni một miếng quả myrobalan vàng — một loại quả làm thuốc, một trong những thứ rẻ nhất có thể tưởng tượng được ở Ấn Độ — vị ấy thoát khỏi hình phạt theo điều học này.
Các Tội Phạm
Khi cố gắng nhận vải y từ một tỳ-kheo-ni không phải bà con mà không đưa thứ gì đổi lại, vị tỳ-kheo phạm tội dukkaṭa. Khi đã có được vải, vị ấy phải xả vật và sám hối tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya. Thủ tục xả vật, sám hối và nhận lại vải giống như trong các điều học trước.
Các Trường Hợp Không Phạm Tội
Không có tội phạm:
- nếu tỳ-kheo-ni là bà con;
- nếu tỳ-kheo-ni không phải bà con nhưng vị tỳ-kheo đưa cho bà ấy thứ gì đó để đổi lại;
- nếu vị tỳ-kheo lấy vải theo niềm tin;
- nếu vị ấy mượn vải;
- nếu vị ấy chấp nhận vật dụng không phải vải; hoặc
- nếu vị ấy chấp nhận vải y từ thức-xoa-ma-na hay sa-di-ni.
Trao Đổi
Câu chuyện nguyên khởi của điều học này là nơi Đức Phật cho phép rõ ràng cho các tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di nam, và sa-di nữ trao đổi vật phẩm với nhau. [NP 20] cấm các tỳ-kheo giao thương vật phẩm với người thế tục và người xuất gia theo các tôn giáo khác.
Tóm tắt: Chấp nhận vải y từ một tỳ-kheo-ni không phải bà con mà không đưa cho bà ấy bất cứ thứ gì để đổi lại là tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya.
Nếu một vị tỳ-kheo xin vải y từ một gia chủ nam hay nữ không phải bà con của mình, trừ vào dịp thích hợp, vật phải được xả và sám hối tội. Ở đây dịp thích hợp là như sau: Y của vị tỳ-kheo đã bị cướp đoạt hay bị phá hủy. Đây là dịp thích hợp ở đây.
"Bấy giờ, Tôn giả Upananda người Sakya rất thiện xảo trong việc thuyết Pháp. Con trai của một trưởng giả đến gặp ngài và, khi đến nơi, đảnh lễ ngài rồi ngồi xuống một bên. Khi người ấy đang ngồi đó, Tôn giả Upananda người Sakya đã chỉ dạy, khích lệ, làm phấn chấn và cổ vũ người ấy bằng một bài Pháp. Rồi con trai của trưởng giả... nói với ngài: 'Bạch tôn giả, xin cho con biết con có thể cúng dường ngài thứ gì ngài cần: Vải y? Thức ăn khất thực? Chỗ ở? Thuốc men cho người bệnh?'
"'Này hiền hữu, nếu ông muốn cho tôi thứ gì, thì hãy cho tôi một trong những tấm vải (ông đang mặc).'
"'Bạch tôn giả, con là con trai của một gia đình đàng hoàng. Làm sao con có thể đi lại chỉ mặc một tấm vải? Xin đợi đến khi con về nhà. Sau khi về nhà, con sẽ gửi ngài một trong những tấm vải này hay một tấm đẹp hơn.'
"Lần thứ hai... Lần thứ ba, Tôn giả Upananda nói với người ấy: 'Này hiền hữu, nếu ông muốn cho tôi thứ gì, thì hãy cho tôi một trong những tấm vải đó.'
"'Bạch tôn giả, con là con trai của một gia đình đàng hoàng. Làm sao con có thể đi lại chỉ mặc một tấm vải? Xin đợi đến khi con về nhà. Sau khi về nhà, con sẽ gửi ngài một trong những tấm vải này hay một tấm đẹp hơn.'
"'Này hiền hữu, đề nghị mà không muốn cho là sao, khi đã đề nghị rồi ông lại không cho?'
"Vậy là con trai của trưởng giả, bị Tôn giả Upananda thúc ép, ra về sau khi đã cho ngài một tấm vải. Người ta thấy anh liền hỏi: 'Thưa cậu chủ, sao cậu lại đi quanh chỉ mặc mỗi một tấm vải?'
"Anh kể cho họ nghe điều đã xảy ra. Vậy là người ta chỉ trích, than phiền và truyền đi: 'Những vị sa-môn Thích tử này kiêu ngạo và bất mãn. Đưa ra một đề nghị hợp lý cho họ đâu phải chuyện đơn giản. Làm sao họ, sau khi được con trai của trưởng giả đưa ra một đề nghị hợp lý, lại lấy tấm vải của anh ta?'"
Các yếu tố cấu thành tội ở đây có ba.
1) Đối tượng: một miếng thuộc bất kỳ loại nào trong sáu loại vải y thích hợp, đo ít nhất bốn nhân tám ngón tay.
2) Cố gắng: Vị ấy xin, trừ vào thời điểm thích hợp, loại vải như vậy từ một cư sĩ không có quan hệ bà con ngược lên đến các cụ tổ đại x 7 của mình. Tri giác không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây. Ngay cả khi vị ấy nhận thức cư sĩ là bà con trong khi thực ra không phải, điều đó vẫn thỏa mãn yếu tố ở đây.
3) Kết quả: Vị ấy có được vải.
Các dịp thích hợp
Bị cướp đoạt, theo Vibhaṅga, chỉ một y bị bất kỳ ai cướp lấy, kể cả một vị vua. Điều này bao hàm không chỉ các trường hợp y bị trộm mà còn cả khi y bị một viên chức chính quyền tịch thu. Bị phá hủy nghĩa là bị cháy, bị nước cuốn đi, bị những thứ như chuột hay mối ăn, hay bị mòn rách do sử dụng — mặc dù Phụ chú thêm ở đây rằng mòn rách do sử dụng nghĩa là mòn đến mức y không còn che phủ thân thể đúng cách được nữa.
Nếu tất cả các y của một vị tỳ-kheo bị cướp đoạt hay bị phá hủy, Vibhaṅga nói rằng vị ấy không được "đến" trong tình trạng khỏa thân, điều này rõ ràng nghĩa là vị ấy không nên đến gần người khác khi đang khỏa thân. Làm vậy thì phạm dukkaṭa (khác với pārājika/saṅghādisesa).">thullaccaya mà [Mv.VIII.28.1] áp cho một vị tỳ-kheo chọn đi lại khỏa thân khi vị ấy có y để mặc). Nếu một vị tỳ-kheo không có vải che thân tình cờ gặp một trú xứ Tăng đoàn không có người ở, vị ấy được phép lấy bất kỳ tấm vải nào tìm thấy ở đó — y, khăn trải, chiếu, vỏ gối, hay bất cứ thứ gì — để mặc làm y tạm, miễn là vị ấy có ý định trả lại khi có được một y thích hợp. Nếu không, vị ấy nên làm một tấm che bằng cỏ và lá.
Chú giải thêm vài điểm ở đây:
1) Nếu vị ấy hái lá hay cắt cỏ để làm tấm che cho mình trong những hoàn cảnh này, vị ấy được miễn hình phạt về việc làm hại thực vật theo [Pc 11]. Nói cách khác, sự cho phép ở đây được ưu tiên hơn điều cấm trong điều học đó, chứ không phải ngược lại. (Vibhaṅga không nêu rõ điều nào được ưu tiên hơn điều nào.) Các tỳ-kheo khác cũng được miễn hình phạt đó nếu họ hái cỏ và lá để giúp làm tấm che cho một vị tỳ-kheo có y bị cướp đoạt hay bị phá hủy.
2) Nếu, sau khi lấy y tạm từ một trú xứ Tăng đoàn không có người ở, vị ấy phải đi một quãng đường xa trước khi có được y thích hợp, vị ấy có thể để lại y tạm ở bất kỳ tu viện thuận tiện nào như tài sản của Tăng đoàn.
3) Nếu, trong những hoàn cảnh này, vị ấy xin cư sĩ vải và nhận được vải thuộc loại hay màu thường không được phép, thì không phạm tội khi mặc nó cho đến khi vị ấy có được vải thích hợp.
4) Nếu y của vị ấy bị một tỳ-kheo hay sa-di khác lấy theo niềm tin, chúng được tính là "bị cướp đoạt" cho mục đích của điều học này và điều học sau.
Điều học sau bổ sung thêm các điều khoản về lượng vải mà vị ấy có thể xin trong những hoàn cảnh như thế này.
Các tội phạm
Hành động xin vải y từ một cư sĩ không phải bà con không vào thời điểm thích hợp thì phạm dukkaṭa. Vải, một khi có được, phải được xả và tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya phải được sám hối. Thủ tục xả vật, sám hối và trả lại vải giống như trong các điều học trước. Công thức Pali dùng khi xả vải được nêu trong [Phụ lục VI].
Nếu vị ấy nhận thức một gia chủ có quan hệ bà con là không phải bà con, hay nếu vị ấy nghi ngờ về việc người đó có phải bà con hay không, vị ấy phạm dukkaṭa khi xin và nhận y từ người đó.
Các trường hợp không phạm tội
Theo Vibhaṅga, không phạm tội nếu —
- vị ấy xin vào đúng thời điểm,
- vị ấy xin từ bà con của mình,
- vị ấy xin từ những người đã mời vị ấy xin vải,
- vị ấy có được vải bằng tài nguyên của chính mình, hay
- vị ấy xin vì lợi ích của người khác. (Không văn bản nào nêu cụ thể liệu "người khác" ở đây chỉ bao gồm các tỳ-kheo khác, hay cả các tỳ-kheo-ni và sa-di. Chúng ta sẽ giả định rằng tất cả những người đồng đạo đều được bao hàm trong sự miễn trừ này.)
Chú giải giải thích rằng điểm cuối cùng này có nghĩa là hai điều: Vị ấy có thể xin vải vì lợi ích của người khác (người đồng đạo) (1) từ bà con của chính mình hay từ những người đã mời vị ấy xin vải, hoặc (2) từ bà con của người (đồng đạo) đó hay từ những người đã mời người ấy xin. Điểm này áp dụng cho tất cả các điều học mà vị ấy được phép xin vì lợi ích của người khác.
Nhìn bề ngoài, có vẻ như sự cho phép xin vì người khác cũng nên có nghĩa là vị ấy được phép xin từ bất kỳ ai vì lợi ích của một vị tỳ-kheo khác có y bị cướp đoạt hay bị phá hủy. Tuy nhiên, câu chuyện nguyên khởi của điều học sau cho thấy tại sao không phải vậy: Các thí chủ cư sĩ có thể cực kỳ rộng lượng khi họ biết rằng y của một vị tỳ-kheo đã bị cướp đoạt hay bị phá hủy, và điều quan trọng là phải đặt giới hạn về lượng vải có thể được xin, và về số tỳ-kheo có thể đi xin, để không lợi dụng bất công lòng rộng lượng đó.
Còn về việc có được vải bằng tài nguyên của chính mình, Phụ chú lưu ý rằng vị ấy nên cẩn thận làm điều đó theo cách không phạm tội theo [NP 20]. Một lần nữa, điều này áp dụng cho tất cả các điều học có chứa sự miễn trừ này.
Tóm tắt: Xin và nhận vải y từ một cư sĩ không phải bà con, trừ khi y của mình bị cướp đoạt hay bị phá hủy, là tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya.
Nếu gia chủ nam hay nữ không phải bà con đó tặng vị tỳ-kheo nhiều y (nhiều miếng vải y), vị ấy được nhận tối đa (đủ cho) một thượng y và một hạ y. Nếu vị ấy nhận nhiều hơn thế, vật phải được xả và sám hối tội.
Điều học này là phần tiếp nối của điều học trước, đề cập đến quy tắc trong việc xin vải y khi y của mình bị cướp đoạt hay bị phá hủy. Câu chuyện nguyên khởi như sau:
"Vào lúc đó, nhóm sáu tỳ-kheo, sau khi đến gặp các tỳ-kheo có y bị cướp đoạt, nói: 'Này các hiền hữu, Đức Thế Tôn đã cho phép những người có y bị cướp đoạt hay bị phá hủy xin vải y từ một gia chủ nam hay nữ không phải bà con. Này các hiền hữu, hãy đi xin vải y.'
"'Thôi khỏi, các hiền hữu. Chúng tôi đã nhận được (đủ) vải y rồi.'
"'Này các hiền hữu, chúng tôi xin vì lợi ích của các vị' (§ — đọc là āyasmantānaṁ atthāya theo bản Thái và bản Sri Lanka của Tạng Kinh).
"'Vậy thì cứ đi xin đi.'
"Vậy là nhóm sáu tỳ-kheo, sau khi đến gặp các gia chủ không phải bà con, nói: 'Có các tỳ-kheo đến với y bị cướp đoạt. Hãy cho vải y vì họ.' Và họ xin rất nhiều vải y. Rồi một người đàn ông nọ, đang ngồi trong hội trường, nói với một người khác: 'Này ông, có các tỳ-kheo đến với y bị cướp đoạt. Tôi đã cho vải y vì họ.'
"Và người kia nói: 'Tôi cũng đã cho.'
"Và một người khác nói: 'Tôi cũng đã cho.'
"Vậy là họ chỉ trích, than phiền và truyền đi: 'Làm sao các vị sa-môn Thích tử này, không biết chừng mực, lại xin nhiều vải y đến vậy? Phải chăng các sa-môn Thích tử sẽ buôn bán vải? Hay họ sẽ mở tiệm?'"
Quy tắc
Vibhaṅga nêu rằng khi y của một vị tỳ-kheo bị cướp đoạt hay bị phá hủy, lượng vải vị ấy có thể xin và nhận từ một gia chủ không phải bà con chưa từng mời vị ấy xin vải phụ thuộc vào số y bị cướp đoạt hay bị phá hủy. Nếu ba, vị ấy chỉ có thể xin và nhận đủ cho hai. Nếu hai, vị ấy chỉ có thể xin và nhận đủ cho một. Nếu một, vị ấy không nên xin bất kỳ vải nào cả.
K/Chú giải đề cập rằng các điều khoản này chỉ áp dụng khi các y thuộc bộ ba y đã xác định của vị ấy bị cướp đoạt hay bị phá hủy. Cách nó diễn đạt sự hạn chế này gợi ý rằng nếu các y dự phòng của vị ấy bị cướp đoạt hay bị phá hủy, vị ấy không có quyền xin vải y gì cả. Tuy nhiên, Phụ chú giải thích sự hạn chế này không phải như một sự hạn chế mà như một sự cho phép mở ra một kẽ hở, để nếu vị ấy mất bất kỳ y dự phòng nào, vị ấy có thể xin bao nhiêu vải tùy thích. Rồi nó cáo buộc K/Chú giải mâu thuẫn với Tạng Kinh và Chú giải, và bỏ qua mục đích của điều học, vốn là để dạy sự chừng mực và ít ham muốn. Kết luận của nó: Quy tắc này áp dụng khi bất kỳ y nào của vị ấy bị cướp đoạt hay bị phá hủy — dù chưa xác định, được xác định là bộ ba y cơ bản, hay được xác định là vải vật dụng.
Tuy nhiên, nếu chúng ta nhớ lại rằng ban đầu mỗi vị tỳ-kheo chỉ có một bộ ba y, và rằng sự cho phép trong điều học trước là để giảm bớt sự khó khăn của việc có ít hay không có gì để mặc, chúng ta có thể đồng ý với cách giải thích của K/Chú giải: rằng sự cho phép trong điều học trước chỉ áp dụng khi các y thuộc bộ ba y cơ bản của vị ấy bị cướp đoạt hay bị phá hủy, và rằng đây là trường hợp chúng ta đang quan tâm ở đây. Nếu các y dự phòng của vị ấy bị cướp đoạt hay bị phá hủy, vị ấy không được sử dụng sự cho phép xin vải y gì cả.
Vibhaṅga nêu thêm rằng nếu gia chủ tặng vị ấy rất nhiều vải, với lời mời lấy bao nhiêu tùy thích, vị ấy chỉ nên lấy đủ vải để may số y được phép. Các điều khoản không phạm tội bổ sung rằng vị ấy có thể lấy vải dư nếu vị ấy hứa trả lại phần dư khi đã may xong y của mình. Và nếu thí chủ bảo vị ấy giữ phần dư, vị ấy có thể làm vậy mà không bị phạt.
Các yếu tố cấu thành tội cho việc vượt quá giới hạn của quy tắc này có ba.
1) Đối tượng: bất kỳ miếng nào thuộc sáu loại vải y thích hợp, đo ít nhất bốn nhân tám ngón tay.
2) Cố gắng: Vị ấy xin nhiều hơn lượng vải y được phép từ một gia chủ không phải bà con chưa từng đưa ra lời mời xin. Tri giác không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây: Ngay cả khi vị ấy nhận thức gia chủ là bà con trong khi thực ra không phải — hay cảm thấy người đó sẽ vui lòng cúng phần vải dư dù người đó chưa đưa ra lời mời xin trước đó — yếu tố này vẫn được thỏa mãn như nhau.
3) Kết quả: Vị ấy có được vải y dư.
Các tội ở đây như sau: một dukkaṭa cho việc xin theo cách thỏa mãn yếu tố cố gắng, và một pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya khi cả ba yếu tố được thỏa mãn. Thủ tục cần tuân theo trong việc xả vật, sám hối và nhận lại vải giống như trong các điều học trước. Để biết công thức Pali dùng khi xả vải, xem [Phụ lục VI].
Nếu vị ấy nhận thức một gia chủ có quan hệ bà con là không phải bà con, hay nếu vị ấy nghi ngờ về việc người đó có phải bà con hay không, vị ấy phạm dukkaṭa khi xin và có được vải y dư từ người đó.
Các trường hợp không phạm tội
Ngoài hai trường hợp đã đề cập ở trên — vị ấy lấy vải dư với lời hứa trả lại phần dư khi đã may xong y, và thí chủ bảo vị ấy giữ phần dư — không phạm tội khi lấy vải dư nếu:
- các thí chủ cúng vải vì những lý do khác ngoài việc y của vị ấy bị cướp đoạt hay bị phá hủy (ví dụ, họ ấn tượng với sự học của vị ấy, Chú giải nói vậy);
- vị ấy xin từ bà con của mình hay những người trước đó đã đưa ra lời mời vị ấy xin vải (trước khi y của vị ấy bị cướp đoạt hay bị phá hủy, Phụ chú nói vậy);
- hay vị ấy có được vải bằng tài nguyên của chính mình.
Chú giải lưu ý đến sự việc rằng các điều khoản không phạm tội của Vibhaṅga không hề đề cập đến việc xin vì lợi ích của người khác. Rồi nó đưa ra kết luận, dựa trên sự việc rằng điều học được đặt ra để đáp lại việc các tỳ-kheo xin vải dư vì lợi ích của người khác, rằng trong những hoàn cảnh được đề cập trong điều học này, vị ấy không được xin vải dư vì lợi ích của người khác. Phụ chú không đồng ý với điều này, và đưa ra ba lập luận cho lý lẽ của mình, với lập luận thứ ba là thuyết phục nhất: Nếu xin vì lợi ích của người khác không được phép ở đây, thì nó cũng không nên được phép trong điều học trước. Tuy nhiên, Phụ chú đã bỏ lỡ điểm mấu chốt của câu chuyện nguyên khởi, đó là các thí chủ cư sĩ có thể đặc biệt rộng lượng khi họ biết rằng y của một vị tỳ-kheo đã bị cướp đoạt hay bị mất. Nếu tất cả các tỳ-kheo khác đều có thể xin vải vì lợi ích của vị ấy, thì không có giới hạn nào cho lượng vải họ có thể xin, và điều này sẽ là một sự lợi dụng bất công lòng rộng lượng của các thí chủ.
Tóm tắt: Xin và nhận vải y dư từ các cư sĩ không phải bà con khi y của mình bị cướp đoạt hay bị phá hủy là tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya.
Nếu một gia chủ nam hay nữ không có thân tộc (với tỳ-kheo) chuẩn bị một quỹ mua y vì lợi ích của một tỳ-kheo (bhikkhu), với ý nghĩ: "Sau khi mua y bằng quỹ mua y này, ta sẽ mặc y cho vị tỳ-kheo tên như vậy": Nếu tỳ-kheo ấy, không được mời trước, đến gặp (gia chủ) và đặt điều kiện về y, nói rằng: "Thưa ngài, thật tốt thay nếu ngài mặc y cho tôi, sau khi mua y loại như vậy như vậy bằng quỹ mua y này" — vì tham muốn thứ tốt hơn — thì phạm xả đọa (pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya).
"Vào lúc bấy giờ, có một gia chủ nói với vợ mình: 'Ta sẽ mặc y cho Tôn giả Upananda.' Một tỳ-kheo khi đi khất thực vô tình nghe được người đàn ông nói như vậy. Vị ấy bèn đến chỗ Tôn giả Upananda người Sakya và thưa rằng: 'Bạch tôn giả Upananda, ngài có nhiều phước đức lắm. Tại chỗ kia, có một người đàn ông nói với vợ rằng: "Ta sẽ mặc y cho Tôn giả Upananda."'
"'Ông ta là thí chủ của ta, bạn ơi.'
"Vậy là Tôn giả Upananda người Sakya đến chỗ người đàn ông ấy và khi đến nơi, nói với người ấy: 'Bạch thí chủ, có thật là ngài muốn mặc y cho tôi không?'
"'Thì tôi vừa nghĩ, "Ta sẽ mặc y cho Tôn giả Upananda" đó thôi!'
"'Vậy nếu ngài muốn mặc y cho tôi, thì hãy mặc y như thế này cho tôi. Được mặc loại y mà tôi không dùng thì có ích gì cho tôi?'
"Vậy là người đàn ông ấy phê phán, phàn nàn và truyền khắp nơi: 'Những vị sa-môn Thích tử này kiêu ngạo và bất mãn. Mặc y cho họ đâu phải chuyện đơn giản. Sao vị Upananda này lại có thể, mà không được mời trước, đặt điều kiện về y như vậy?'"
Tình huống mà điều học này bao hàm như sau: Một cư sĩ không có thân tộc đã dành riêng tài vật để mua vải y trao cho một tỳ-kheo nhưng chưa hỏi tỳ-kheo muốn loại vải gì. Các yếu tố cấu thành phạm tội ở đây có bốn.
Đối tượng
Vibhaṅga ở đây không quy định kích thước tối thiểu cho vải, cũng không liệt kê các loại chỉ mà vải phải được dệt từ đó. Vì trọng tâm thảo luận chủ yếu là về giá của vải, kích thước và loại vải rõ ràng là không liên quan. Bất kỳ mảnh vải nào, thuộc bất kỳ loại nào, dù nhỏ đến đâu, đều thỏa mãn yếu tố này.
Các văn bản cũng không đề cập liệu quỹ dành cho các vật dụng khác có là căn cứ cho tội nhẹ hơn hay không phạm tội theo điều học này, mặc dù theo tinh thần của điều học, sẽ là sáng suốt nếu một tỳ-kheo không đặt điều kiện, khi chưa được mời, với một cư sĩ đã chuẩn bị quỹ để mua bất kỳ loại vật dụng nào cho mình sử dụng.
Ý định
Người ta muốn nhận được mảnh vải tốt hơn so với điều mà cư sĩ đang dự định mua. Vibhaṅga định nghĩa "tốt hơn" là "chất lượng tốt hơn, giá cao hơn." Chú giải, vì lý do nào đó, giới hạn "tốt hơn" chỉ là "giá cao hơn," nhưng trong Vibhaṅga không có gì ủng hộ điều này.
Nỗ lực
Người ta yêu cầu cư sĩ không có thân tộc cải thiện loại vải. Các ví dụ trong Vibhaṅga là: "Làm cho dài hơn, làm cho rộng hơn, làm cho dệt chặt hơn, làm cho mềm hơn." Như trong các điều học trước, nhận thức không phải là yếu tố ở đây. Dù người ta nhận thức cư sĩ là thân tộc trong khi thực ra không phải, điều đó vẫn thỏa mãn yếu tố ở đây như nhau.
Kết quả
Người ta nhận được vải dài hơn, rộng hơn, v.v. mà gia chủ mua theo yêu cầu của mình. Cách Vibhaṅga định nghĩa yếu tố này cho thấy rằng việc liệu cư sĩ có thực sự chi nhiều hơn cho vải so với dự định hay không không phải là vấn đề ở đây.
Phạm tội
Khi thí chủ mua vải theo yêu cầu của mình, tội là đột-kiết-la (dukkaṭa). Khi nhận vải, phải xả và sám hối tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya. Các thủ tục xả vật, sám hối và nhận lại vật cũng giống như các điều học trước. Để biết công thức Pali dùng khi xả vật, xem _[Phụ lục VI](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0028.html#appendixVI)_.
Nếu người ta nhận thức gia chủ có thân tộc là không có thân tộc, hoặc nếu người ta nghi ngờ về việc người đó có phải thân tộc hay không, thì phạm đột-kiết-la khi yêu cầu và nhận vải từ người đó theo cách mà điều học này cấm.
Không phạm tội
Theo Vibhaṅga, không phạm tội nếu:
- cư sĩ là thân tộc hoặc đã mời người ta yêu cầu vải;
- người ta yêu cầu vì lợi ích của người khác;
- người ta nhận y bằng tài vật của chính mình; hoặc
- người ta khiến cư sĩ, ban đầu muốn mua vải đắt tiền hơn, mua vải rẻ hơn.
Chú giải bổ sung rằng cũng không phạm tội nếu yêu cầu cải thiện vải của người ta dẫn đến việc vải có giá ngang bằng với vải mà cư sĩ có trong đầu — nhưng, như đã lưu ý ở trên, Vibhaṅga không ủng hộ Chú giải ở đây.
Chú giải từ ngữ của Vibhaṅga đối với điều học này cũng cho thấy rằng sẽ không phạm tội nếu, sau khi người ta đã yêu cầu loại vải tốt hơn, cư sĩ bỏ qua yêu cầu đó và mua và trao tặng loại vải mà họ vốn dự định.
Tóm tắt: Khi một cư sĩ không phải thân tộc đang dự định mua vải y cho mình nhưng chưa hỏi mình muốn loại vải gì: Nhận vải sau khi đặt yêu cầu cải thiện nó là tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya.
Nếu hai gia chủ — nam hay nữ — không có thân tộc (với tỳ-kheo) chuẩn bị các quỹ mua y riêng biệt vì lợi ích của một tỳ-kheo, với ý nghĩ: "Sau khi mua các y riêng biệt bằng các quỹ mua y riêng biệt của chúng tôi, chúng tôi sẽ mặc y cho vị tỳ-kheo tên như vậy": Nếu tỳ-kheo ấy, không được mời trước, đến gặp (họ) và đặt điều kiện về y, nói rằng: "Thưa các ngài, thật tốt thay nếu các ngài mặc y cho tôi, sau khi mua một chiếc y bằng các quỹ mua y riêng biệt này, gộp cả hai (quỹ) lại cho một (chiếc y)" — vì tham muốn thứ tốt hơn — thì phạm pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya.
Các giải thích cho điều học này cũng giống như điều học trước, sự khác biệt duy nhất nằm ở yếu tố nỗ lực: Người ta yêu cầu hai thí chủ gộp quỹ của họ lại để mua một mảnh vải. Câu hỏi liệu yêu cầu đó có làm tăng số tiền họ phải chi hay không không phải là vấn đề ở đây. Một mảnh vải có giá ngang bằng với hai mảnh vải ban đầu vẫn thỏa mãn yếu tố nỗ lực ở đây. Tuy nhiên, Vibhaṅga nói rằng nếu người ta khiến thí chủ cung cấp một mảnh vải rẻ hơn so với dự định ban đầu, thì không phạm tội.
Chú giải bổ sung rằng, theo các điều kiện đã đề cập ở đây, việc yêu cầu ba hay nhiều người gộp quỹ mua y của họ thành một cũng thuộc phạm vi điều học này.
Tóm tắt: Khi hai hay nhiều cư sĩ không phải thân tộc đang dự định mua các mảnh vải y riêng biệt cho mình nhưng chưa hỏi mình muốn loại vải gì: Nhận vải từ họ sau khi yêu cầu họ gộp quỹ lại để mua một mảnh vải — vì tham muốn thứ tốt hơn — là tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya.
Nếu một vị vua, một quan lại hoàng gia, một bà-la-môn, hay một gia chủ gửi quỹ mua y vì lợi ích của một tỳ-kheo qua một sứ giả, (nói rằng:) "Sau khi mua y bằng quỹ mua y này, hãy mặc y cho vị tỳ-kheo tên như vậy": Nếu sứ giả đến gặp tỳ-kheo và nói: "Đây là quỹ mua y đang được chuyển đến vì lợi ích của tôn giả. Xin tôn giả nhận quỹ mua y này," thì tỳ-kheo cần nói với sứ giả: "Thưa bạn, chúng tôi không nhận quỹ mua y. Chúng tôi nhận y (vải y) như thích hợp theo mùa."
Nếu sứ giả hỏi tỳ-kheo: "Tôn giả có người giữ tịnh tài không?" thì, này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo muốn có y, vị ấy có thể chỉ ra một người giữ tịnh tài — hoặc là một tịnh nhân tu viện hoặc là một cư sĩ — (nói rằng:) "Thưa bạn, đó là người giữ tịnh tài của các tỳ-kheo."
Nếu sứ giả, sau khi đã hướng dẫn người giữ tịnh tài và đến gặp tỳ-kheo, nói: "Con đã hướng dẫn người giữ tịnh tài mà tôn giả đã chỉ ra. Xin tôn giả hãy đến (chỗ người ấy) và người ấy sẽ mặc y cho tôn giả đúng thời," thì tỳ-kheo, khi muốn y và đến gặp người giữ tịnh tài, có thể nhắc nhở và gợi ý hai hay ba lần: "Tôi có nhu cầu về y." Nếu (người giữ tịnh tài) cung cấp y sau khi được nhắc nhở và gợi ý hai ba lần, thì tốt.
Nếu người ấy không cung cấp y, (tỳ-kheo) nên im lặng đứng (trước mặt người giữ tịnh tài) bốn lần, năm lần, sáu lần là tối đa với mục đích đó. Nếu (người giữ tịnh tài) cung cấp y sau khi (tỳ-kheo) đã im lặng đứng vì mục đích đó bốn, năm, sáu lần là tối đa, thì tốt.
Nếu người ấy không cung cấp y (vào thời điểm đó), nếu sau đó người ấy cung cấp y sau khi (tỳ-kheo) đã cố gắng nhiều hơn mức đó, thì phải xả và sám hối.
Nếu người ấy không cung cấp (y), thì bản thân tỳ-kheo nên đến nơi xuất phát quỹ mua y, hoặc cử người đến (nói rằng): "Quỹ mua y mà các thí chủ đã gửi vì lợi ích của tỳ-kheo đã không mang lại lợi ích gì cho tỳ-kheo cả. Mong các thí chủ được đoàn tụ với những gì là của mình. Mong những gì là của các thí chủ không bị mất." Đây là cách xử sự đúng đắn ở đây.
Các thủ tục xung quanh những lễ vật bằng tiền và việc sử dụng đúng đắn chúng khá phức tạp — phức tạp hơn nhiều so với những gì điều học dài này có thể cho thấy — và đòi hỏi một sự giải thích chi tiết. Dưới đây là một nỗ lực làm rõ chúng. Nếu có vẻ dài dòng và phức tạp, hãy nhớ rằng mục đích của các thủ tục là giải phóng các tỳ-kheo khỏi những lo lắng và phức tạp còn phiền nhiễu hơn khi tham gia vào việc mua bán và các vấn đề tiền bạc nói chung.
Điều học này là một trong bốn điều học pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya bao hàm mối quan hệ đúng đắn của tỳ-kheo với tiền bạc. Các điều học kia là _[NP 18](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP18), [19](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP19), & [20](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP20)_. Mặc dù đôi khi có vẻ như đang mổ xẻ những chi tiết vụn vặt, chúng tập trung chính xác vào hai hành vi liên quan đến tiền bạc gây nặng nề nhất cho một tâm nhạy cảm: Trong hành vi nhận tiền, hay để người khác nhận thay mình, người ta đang nhận lấy mọi sự lo lắng, trách nhiệm và hiểm nguy đi kèm với việc sở hữu nó; trong hành vi sắp đặt một cuộc trao đổi, người ta đang chấp nhận trách nhiệm về sự công bằng của giao dịch — rằng nó không đánh giá thấp sự rộng lượng của người đã cúng dường tiền lẫn hàng hóa hay dịch vụ của người nhận tiền đổi lại.
Do đó, để bảo vệ tỳ-kheo khỏi những gánh nặng tâm lý này, điều học này thiết lập các thủ tục để các thí chủ cư sĩ có thể tiện lợi dâng cúng các khoản tiền và vật có giá trị khác để cung cấp cho nhu cầu của tỳ-kheo, và để tỳ-kheo có thể thọ hưởng những lễ vật như vậy mà không phải gánh chịu trách nhiệm của việc sở hữu hay phải sắp đặt các giao dịch công bằng.
Nếu tỳ-kheo tuân thủ các thủ tục được khuyến nghị ở đây, số tiền được đặt với người giữ tịnh tài vẫn thuộc về thí chủ, và trách nhiệm thực hiện giao dịch công bằng nằm ở người giữ tịnh tài. Trách nhiệm duy nhất của tỳ-kheo là thông báo cho thí chủ ban đầu nếu, sau một số lần nhắc nhở hợp lý, người giữ tịnh tài được giao phó tiền không cung cấp cho vị ấy vật dụng mà thí chủ có trong đầu, rồi để thí chủ lo liệu vấn đề nếu người đó muốn.
Mặc dù bản thân điều học chỉ đề cập đến quỹ dành cho vải y dành cho từng cá nhân tỳ-kheo, chúng ta nên lưu ý từ đầu rằng Chú giải sử dụng Đại Tiêu Chuẩn để mở rộng nó bao hàm tất cả các quỹ — bao gồm tiền, châu báu, hàng hóa, đất đai, gia súc, hay các vật có giá trị khác mà tỳ-kheo không được phép nhận — không chỉ cho vải y của một tỳ-kheo cá nhân mà còn cho bất kỳ loại vật dụng nào. Và Chú giải còn suy rộng ra từ điều học này để bao hàm các quỹ dành cho Tăng đoàn và các nhóm tỳ-kheo, cũng như các quỹ phi cá nhân cho những thứ như công trình xây dựng và — trong thế giới hiện đại — việc in ấn kinh sách.
Các quy tắc về tiền bạc và những khai mở: Tổng quan
NP 18 cấm tỳ-kheo nhận tiền bạc được cúng dường, nhờ người khác nhận thay, và đồng ý với tiền bạc dành cho mình được đặt xuống cạnh mình. _[NP 19](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP19) & [20](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP20) cấm vị ấy tham gia vào việc mua, bán, hay trao đổi hàng hóa, bất kể có liên quan đến tiền bạc hay không. Tuy nhiên, [Mv.VI.34.21](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0043.html#Mv.VI.34.21)_ chứa đựng khai mở sau đây, gọi là Khai Mở Meṇḍaka, theo tên của thí chủ đã truyền cảm hứng cho nó:
"Này các tỳ-kheo, có những người có tín tâm và niềm tin, họ đặt vàng vào tay người giữ tịnh tài, (nói rằng:) 'Với điều này, hãy cúng cho bậc Thầy bất cứ thứ gì được phép.' Này các tỳ-kheo, ta cho phép các ông nhận bất cứ thứ gì được phép đến từ đó. Nhưng ta không nói rằng vàng hay bạc là thứ được nhận hay tìm kiếm dưới bất kỳ hình thức nào."
Tuy nhiên, ngay cả với khai mở này, điều quan trọng là tỳ-kheo, trong giao dịch của mình với người giữ tịnh tài, không nói hay làm bất cứ điều gì vi phạm _[NP 18-20](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP18)_. Đồng thời, điều quan trọng là vị ấy không lạm dụng dịch vụ của người giữ tịnh tài. Nếu không, người giữ tịnh tài sẽ không bao giờ muốn thực hiện dịch vụ này cho các tỳ-kheo nữa. Đây là điểm chính của câu chuyện nguồn gốc của điều học này:
"Lúc ấy Tôn giả Upananda người Sakya đến gặp cư sĩ (người giữ tịnh tài của mình) và khi đến nơi, nói: 'Bạch thí chủ, tôi có nhu cầu về y.'
"'Thưa tôn giả, xin hãy đợi đến hết ngày hôm nay. Hôm nay có một cuộc họp làng, và làng đã đồng ý rằng ai đến trễ sẽ bị phạt 50 (kahāpaṇa).'
"'Bạch thí chủ, hãy cho tôi y ngay hôm nay!' (Nói vậy,) vị ấy nắm lấy thắt lưng của người ấy. Vì vậy, cư sĩ, bị Tôn giả Upananda người Sakya thúc ép, đã mua y cho vị ấy và đến trễ. Người ta nói với cư sĩ: 'Thưa thí chủ, sao ngài đến trễ vậy? Ngài đã mất 50 rồi!' Vậy là người ấy kể lại chuyện đã xảy ra. Họ phê phán, phàn nàn và truyền khắp nơi: 'Những vị sa-môn Thích tử này kiêu ngạo và bất mãn. Ngay cả việc phục vụ họ cũng không đơn giản. Sao Tôn giả Upananda, khi cư sĩ nói "Thưa tôn giả, xin hãy đợi đến hết ngày hôm nay," lại không đợi?'"
Người giữ tịnh tài
Theo Chú giải, có ba loại người giữ tịnh tài mà tiền có thể được đặt với: (1) được chỉ ra bởi tỳ-kheo, (2) được chỉ ra bởi thí chủ hay sứ giả của thí chủ, và (3) không được chỉ ra bởi ai.
1) Được chỉ ra bởi tỳ-kheo bao hàm hai loại trường hợp:
a) Thí chủ hỏi tỳ-kheo người giữ tịnh tài của vị ấy là ai, và tỳ-kheo chỉ ra người đó, như đã đề cập trong điều học.
b) Thí chủ, biết rằng một cư sĩ nhất định đã tình nguyện làm người giữ tịnh tài hoặc quen biết với tỳ-kheo, đưa tiền cho cư sĩ và thông báo cho tỳ-kheo — hoặc nhờ người khác thông báo — trước hoặc sau sự kiện.
2) Được chỉ ra bởi thí chủ bao hàm các trường hợp thí chủ chọn một trong những người bạn hay người làm của mình làm người giữ tịnh tài cho món quà cụ thể đó, và thông báo cho tỳ-kheo — hoặc nhờ người khác thông báo — trước hoặc sau sự kiện.
3) Không được chỉ ra bởi ai bao hàm hai trường hợp riêng biệt:
a) Thí chủ hỏi tỳ-kheo người giữ tịnh tài của vị ấy là ai, và tỳ-kheo nói rằng mình không có ai. Một người khác tình cờ nghe cuộc trò chuyện và tình nguyện — trước mặt cả hai — làm người giữ tịnh tài cho món quà cụ thể đó.
b) Thí chủ đưa món quà cho cư sĩ thường là người giữ tịnh tài của tỳ-kheo hoặc quen biết với tỳ-kheo, nhưng không thông báo cho tỳ-kheo hay nhờ ai thông báo cho vị ấy.
Theo Chú giải, điều học này chỉ bao hàm các trường hợp loại thứ nhất — người giữ tịnh tài được chỉ ra bởi tỳ-kheo — nhưng không phải hai loại kia. Tuy nhiên, đây là điểm gây tranh cãi. Để hiểu sự tranh cãi, chúng ta trước tiên cần thảo luận về các thủ tục nhận quỹ và xin vật dụng từ người giữ tịnh tài như được quy định trong điều học này. Rồi chúng ta sẽ quay lại vấn đề này trong phần "Phạm vi áp dụng" dưới đây.
Quy trình nhận tịnh tài
Vibhaṅga đưa ra các hướng dẫn sau:
Nếu thí chủ cúng dường tiền, họ cần được nói rằng các tỳ-kheo không nhận tiền.
Nếu họ hỏi người giữ tịnh tài của các tỳ-kheo là ai, người ta có thể chỉ ra bất kỳ cư sĩ nào, nói: "Đó là người giữ tịnh tài." Không được nói: "Hãy đưa cho người ấy" hay "Người ấy sẽ giữ (tiền)," vì điều đó sẽ là nhận quyền sở hữu và trách nhiệm về tiền, và do đó vi phạm điều học cấm nhận tiền. Cũng không được nói: "Người ấy sẽ mua (vật dụng)" hay "Người ấy sẽ đổi lấy nó," vì ngay cả điều này cũng sẽ vi phạm điều học cấm buôn bán.
Chú giải K/Commentary bổ sung rằng nếu thí chủ hỏi: "Tôi nên đưa tiền cho ai?" hay "Ai sẽ giữ điều này?" thì không được chỉ ra ai. Chú giải không nói người ta có thể làm gì trong tình huống như vậy, mặc dù một chính sách khôn ngoan là đề cập đến chủ đề người giữ tịnh tài để thí chủ sẽ hỏi một câu mà người ta có thể đưa ra câu trả lời được phép.
Quy trình xin vật dụng từ quỹ
Điều học nêu rằng tỳ-kheo có thể nhắc nhở người giữ tịnh tài của mình tối đa ba lần bằng lời và sáu lần im lặng để xin vật dụng từ quỹ. Vibhaṅga tính ra một sắp xếp theo đó vị ấy có thể đổi hai lần im lặng lấy một lần bằng lời, điều này dẫn Chú giải đến việc đặt ra sơ đồ sau: Tỳ-kheo có thể thực hiện tối đa —
- 6 lần bằng lời & 0 lần im lặng
- 5 lần bằng lời & 2 lần im lặng
- 4 lần bằng lời & 4 lần im lặng
- 3 lần bằng lời & 6 lần im lặng
- 2 lần bằng lời & 8 lần im lặng
- 1 lần bằng lời & 10 lần im lặng, hoặc
- 0 lần bằng lời & 12 lần im lặng.
Vibhaṅga bổ sung rằng khi nhắc nhở bằng lời, người ta chỉ có thể nói: "Tôi cần y (hay bất cứ vật dụng nào đó)" hay các câu có hiệu quả tương tự. Không được nói: "Hãy đưa cho tôi y," "Hãy kiếm cho tôi y," "Hãy mua cho tôi y," hay "Hãy đổi lấy y cho tôi," vì hai câu cuối này đặc biệt sẽ phạm tội theo _[NP 20](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP20)_.
Theo Chú giải, việc nhắc nhở được tính không phải theo số lần đến gặp người giữ tịnh tài mà theo số lần tỳ-kheo nêu nhu cầu/mong muốn đối với vật dụng. Vậy nếu trong một lần đến, vị ấy nêu nhu cầu về y ba lần, thì được tính là ba lần nhắc nhở bằng lời.
Còn về việc im lặng đứng — hay "các lần đứng" — tỳ-kheo chỉ đơn giản đứng trước mặt người giữ tịnh tài. Nếu người giữ tịnh tài hỏi: "Ngài đến vì việc gì?" thì tỳ-kheo nên nói: "Ngài biết rồi đó" hay "Ngài nên biết."
Vibhaṅga cũng lưu ý rằng trong thời gian tỳ-kheo chưa nhận được vật dụng, vị ấy không nên nhận lời mời ngồi tại chỗ người giữ tịnh tài, nhận thức ăn, hay giảng Pháp ở đó. Nếu làm bất kỳ điều nào trong số này, điều đó sẽ làm giảm số lần im lặng được phép của vị ấy. Phụ chú giải nêu câu hỏi về ý nghĩa chính xác của điều này: Khi tỳ-kheo thực hiện nhiều hành động này trong một lần đến, mỗi hành động có lấy đi một lần im lặng, hay chỉ lần đến đó bị trừ khỏi số lần im lặng được phép? Sau một thảo luận dài, Phụ chú giải đứng về quyết định trong Three Gaṇṭhipadas: Mỗi lần tỳ-kheo ngồi, nhận thức ăn, hay giảng một câu Pháp (xem _[Pc 7](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc7)_) trong những hoàn cảnh này, dù trong một lần đến, đều làm giảm số lần im lặng được phép của vị ấy đi một.
Vibhaṅga nêu rằng nếu người ta nhận được vật dụng sau khi thực hiện số lần nhắc nhở bằng lời và im lặng được phép — hoặc ít hơn — thì không phạm tội. Nếu người ta không nhận được vật dụng sau số lần nhắc nhở tối đa được phép, người ta nên thông báo cho thí chủ ban đầu rồi để vấn đề tùy thí chủ quyết định. Nếu thí chủ, được thông báo, rồi sắp xếp để cung cấp vật dụng cho tỳ-kheo, thì không phạm tội.
Chú giải bổ sung rằng không thông báo cho thí chủ ở đây phạm đột-kiết-la với lý do người ta đang bỏ qua một nghĩa vụ. Tuy nhiên, tuyên bố này cần được giới hạn chỉ áp dụng trong các trường hợp người ta biết thí chủ nào đã đưa quỹ nào cho người giữ tịnh tài nào. Nếu một quỹ duy nhất do người giữ tịnh tài quản lý chứa các khoản đóng góp từ nhiều thí chủ, người ta khó có thể ở vị trí thông báo cho tất cả các thí chủ nếu người giữ tịnh tài không đáp ứng yêu cầu. Trong những trường hợp như vậy, người ta chỉ có nghĩa vụ thông báo cho một trong số các thí chủ mà thôi.
Phạm vi áp dụng
Như đã đề cập ở trên, Chú giải cho rằng điều học này chỉ áp dụng trong trường hợp thứ nhất trong ba trường hợp được liệt kê ở đó: Người giữ tịnh tài được chỉ ra bởi tỳ-kheo. Còn về trường hợp thứ hai — người giữ tịnh tài được chỉ ra bởi thí chủ — Chú giải cho rằng người ta có thể nhắc nhở bất kỳ số lần nào mà không phạm tội. Nếu vật dụng không được cung cấp, người ta có thể nhờ một cư sĩ khác xử lý vấn đề (mặc dù người ta nên cẩn thận trong cách diễn đạt yêu cầu với cư sĩ này để không vi phạm các điều học cấm nhận tiền hay buôn bán). Nếu vật dụng không được cung cấp, người ta không có nghĩa vụ thông báo cho thí chủ ban đầu. Mặc dù không có gì trong Kinh điển mâu thuẫn với bất kỳ điểm nào trong số này, cũng không có gì xác nhận chúng. Phép lịch sự đơn giản sẽ gợi ý rằng người ta không nên làm phiền người giữ tịnh tài quá mức và nên thông báo cho thí chủ nếu vật dụng không được cung cấp, để thí chủ quyết định xem có điều gì cần làm hay không. Vì vậy, sẽ có lý khi sử dụng Đại Tiêu Chuẩn để áp dụng điều học này ngay cả trong các trường hợp loại này.
Còn về trường hợp thứ ba, trong đó người giữ tịnh tài không được chỉ ra bởi thí chủ hay bởi tỳ-kheo, Chú giải nói rằng, liên quan đến quỹ đó, người giữ tịnh tài nên được đối xử như một người không có thân tộc và chưa đưa ra lời mời để hỏi. Nói cách khác, người ta không thể đưa ra bất kỳ yêu cầu nào đối với người giữ tịnh tài trừ khi người đó tình cờ mời người ta yêu cầu. Chú giải không đưa ra lý do cho những quan điểm này, và chúng khó suy ra. Trong trường hợp thứ nhất trong hai trường hợp dưới tiểu phân mục này — người giữ tịnh tài tạm thời tình nguyện — Chú giải mô tả người giữ tịnh tài tình nguyện trước mặt cả tỳ-kheo lẫn thí chủ, và điều này có vẻ đặt người giữ tịnh tài dưới một nghĩa vụ nào đó đối với cả hai. Vì vậy, tỳ-kheo dường như có quyền thực hiện một số lần nhắc nhở hợp lý; và thí chủ, có quyền biết nếu vật dụng không được cung cấp.
Còn về trường hợp thứ hai trong hai trường hợp đó — thí chủ đưa món quà cho người giữ tịnh tài thông thường của tỳ-kheo nhưng không thông báo cho tỳ-kheo hay nhờ ai thông báo — người giữ tịnh tài có thể thông báo cho tỳ-kheo hay không. Nếu người ấy chọn thông báo cho tỳ-kheo, thì theo Chú giải tỳ-kheo sẽ có quyền thực hiện bất kỳ số lần nhắc nhở nào, vì người giữ tịnh tài nay được tính là đã đưa ra lời mời. Vì vậy người giữ tịnh tài sẽ không được bảo vệ bởi thủ tục theo điều học này, điều này có vẻ không đúng. Tuy nhiên, nếu người giữ tịnh tài chọn không thông báo cho tỳ-kheo, có hai khả năng thêm: Hoặc tỳ-kheo không bao giờ biết về sắp xếp đó, trong trường hợp vấn đề không liên quan; hoặc vị ấy biết qua người thứ ba, trong trường hợp đó tỳ-kheo dường như có quyền hỏi người giữ tịnh tài liệu báo cáo của người thứ ba có đúng không. Nếu người giữ tịnh tài nói dối và nói Không, thì đó là nghiệp của người giữ tịnh tài. Nếu người giữ tịnh tài thật thà báo cáo Có, thì có vẻ hợp lý để áp dụng thủ tục theo điều học này.
Vậy, với những cân nhắc này, dường như có ít lý do để giới hạn các thủ tục theo điều học này chỉ cho các trường hợp người giữ tịnh tài được chỉ ra bởi tỳ-kheo, và có lý do mạnh hơn, sử dụng Đại Tiêu Chuẩn, để áp dụng các thủ tục cho cả ba trường hợp: khi người giữ tịnh tài được chỉ ra bởi tỳ-kheo, bởi thí chủ, hay bởi không ai.
Như chúng ta sẽ lưu ý dưới _[NP 18](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP18)_, một ngân hàng có thể đóng vai trò người giữ tịnh tài cho tỳ-kheo. Tuy nhiên, do các thủ tục xung quanh mối quan hệ của tỳ-kheo với người giữ tịnh tài, vị ấy không thể ký séc — vốn là lệnh trả tiền theo lệnh của người thụ hưởng — ngay cả khi tờ séc rút tiền từ một tài khoản được lập ra đứng tên vị ấy. Vị ấy cũng không được trình cho ngân hàng một bản khai rút tiền để rút tiền từ tài khoản.
Các yếu tố cấu thành phạm tội
Các yếu tố cấu thành phạm tội ở đây có ba.
1) Đối tượng: quỹ dành cho việc mua vải y được gửi với người giữ tịnh tài. Như đã lưu ý ở trên, Chú giải mở rộng yếu tố này để bao hàm bất kỳ quỹ nào được dành riêng cho vật dụng của chính mình.
2) Nỗ lực: Người ta nhắc nhở quá số lần được phép.
3) Kết quả: Người ta nhận được vật dụng được yêu cầu.
Phạm đột-kiết-la vì việc nhắc nhở quá mức. Vật dụng, khi nhận được, phải được xả và sám hối tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya. Các thủ tục xả vật, sám hối và nhận lại vật cũng giống như các điều học trước. Để biết công thức Pali dùng khi xả vật, xem _[Phụ lục VI](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0028.html#appendixVI)_.
Nếu người ta chưa nhắc nhở quá mức nhưng nhận thức rằng mình đã nhắc nhở quá, hay nghi ngờ về vấn đề này, thì tội nhận vật dụng là đột-kiết-la.
Các loại quỹ khác
Chú giải bao gồm một thảo luận dài về cách điều học này áp dụng cho các quỹ không phải là những quỹ dành cho vật dụng cá nhân của tỳ-kheo, chẳng hạn như quỹ cho vật dụng Tăng đoàn hoặc nhóm, quỹ xây dựng, v.v. (quỹ in sách sẽ thuộc về đây). Có người đề xuất rằng vì điều học này chỉ áp dụng cho quỹ dành cho mục đích sử dụng của chính mình, Chú giải đã sai khi thảo luận các quỹ khác trong bối cảnh này, và rằng chúng thay vào đó nên được thảo luận theo _[Pc 84](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0024.html#Pc84), điều học liên quan đến vật có giá trị mà cư sĩ đã bỏ lại trong tu viện. Tuy nhiên, vì Kinh điển không thảo luận về các quỹ như vậy gì cả, chúng phải được xử lý theo Đại Tiêu Chuẩn, có nghĩa là chúng phải được xử lý phù hợp với điều học (các điều học) bao hàm các tình huống tương tự nhất với chúng. Các thủ tục theo [Pc 84](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0024.html#Pc84)_ giải quyết vấn đề cách trả lại đồ vật bị mất cho chủ sở hữu một cách an toàn — người chủ không có ý định chúng làm quà tặng và vẫn nhận quyền sở hữu chúng; còn các thủ tục ở đây giải quyết cách chuyển tiền đến người giữ tịnh tài và cách để người giữ tịnh tài cung cấp những gì cần thiết với số tiền đó. Vì những vấn đề sau này là những vấn đề liên quan nhất đến việc quản lý đúng đắn các quỹ khác này, có mọi lý do để đồng ý với Chú giải khi thảo luận chúng theo điều học này.
Một vài trường hợp liên quan hơn trong thảo luận của Chú giải:
Quỹ tiền cho vật dụng của Tăng đoàn hoặc nhóm
Nếu thí chủ đến với món quà bằng tiền và nói rằng nó đang được cúng dường cho Tăng đoàn hay một nhóm vì bất kỳ mục đích nào, người ta nên tuân theo thủ tục nhận như trong điều học này. Ví dụ, nếu thí chủ nói: "Tôi đang cúng dường điều này cho Tăng đoàn để các vị sử dụng tứ vật dụng," người ta không được nhận nó theo bất kỳ ba cách nào được bao hàm bởi _[NP 18](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP18)_. (Để biết chi tiết, xem thảo luận theo điều học đó.) Cũng có một đột-kiết-la, Phụ chú giải cho biết, cho mỗi tỳ-kheo sử dụng bất kỳ vật dụng nào mua bằng tiền đó.
Tuy nhiên, nếu thí chủ nói: "Tiền sẽ để với người giữ tịnh tài của các ngài" hay "với người của tôi" hay "với tôi: Tất cả những gì các ngài cần làm là sử dụng tứ vật dụng," thì không phạm tội khi nhận và sử dụng sắp xếp này. Phép lịch sự cần tuân theo khi xin vật dụng phụ thuộc vào việc tiền được để với ai: Nếu với người giữ tịnh tài của các tỳ-kheo, tuân theo thủ tục theo điều học này; nếu với người làm của thí chủ, người ta có thể nhắc nhở bất kỳ số lần nào; nếu với thí chủ, tuân theo hướng dẫn theo _[Pc 47](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0020.html#Pc47)_. (Trong hai trường hợp đầu ở đây, Chú giải đang tuân theo quyết định của mình, đã thảo luận ở trên, rằng các thủ tục cần tuân theo với người làm của thí chủ khác với những thủ tục cần tuân theo với người giữ tịnh tài của chính mình. Nhưng theo thảo luận của chúng ta ở trên, cả hai trường hợp đều sẽ thuộc các thủ tục quy định bởi điều học này.)
Quỹ phi tiền tệ cho vật dụng của Tăng đoàn hoặc nhóm
_[DN 2](https://www.dhammatalks.org/suttas/DN/DN02.html) chứa một danh sách các vật phẩm khác mà một tỳ-kheo viên mãn về giới không nhận. Chú giải — có lẽ theo quy tắc chung về hành vi sai trái ([Cv.V.36](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0049.html#Cv.V.36)) — áp đặt một đột-kiết-la cho hành vi nhận bất kỳ thứ nào trong số đó. Các vật phẩm này bao gồm ngũ cốc chưa nấu và thịt sống; phụ nữ và bé gái; nô lệ nam và nữ; dê và cừu, gia cầm và lợn, voi, bò, ngựa và ngựa cái; ruộng đất và tài sản. Suy rộng ra từ Vibhaṅga đến [Pc 84](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0024.html#Pc84), vốn cấm các tỳ-kheo nhặt ngọc trai và đá quý ngoại trừ trong một số hoàn cảnh nhất định — và không cho phép những vật phẩm như vậy được lấy trên cơ sở tin tưởng, mượn, hay nhặt với nhận thức rằng chúng đã bị bỏ đi — Chú giải cũng gán một đột-kiết-la cho việc nhận những vật phẩm này. Hai danh sách đồ vật này sẽ xuất hiện lại dưới [NP 18](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP18) & [19](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP19)_; để dễ tham chiếu, chúng ta sẽ gọi chúng là các vật phẩm đột-kiết-la.
Nếu thí chủ muốn cúng dường những thứ như vậy cho Tăng đoàn, Chú giải nói, câu hỏi liệu chúng có thể được nhận hay không phụ thuộc vào cách diễn đạt việc cúng dường. Nếu thí chủ nói: "Tôi đang cúng dường điều này cho Tăng đoàn," vì bất kỳ mục đích nào, món quà không thể được nhận. Như trong trường hợp trước, có một đột-kiết-la cho người nhận nó và cũng cho người sử dụng vật dụng có được từ tiền thu được của món quà.
Nếu thí chủ nói: "Đây là cho mục đích tứ vật dụng" hay "Hãy nhận bất cứ thứ gì được phép đến từ điều này," mà không đề cập đến bất kỳ tỳ-kheo cá nhân, nhóm tỳ-kheo hay Tăng đoàn nào là người quản lý hay người nhận vật phẩm không được phép, thì sắp xếp có thể được nhận mà không bị phạt. Ví dụ, nếu thí chủ muốn trao một đàn bò, nói: "Đây là để cung cấp các sản phẩm từ sữa cho Tăng đoàn," đây là một sắp xếp được chấp nhận: Bò không được phép cho các tỳ-kheo nhận, trong khi các sản phẩm sữa thì được. Nhưng nếu thí chủ nói: "Tôi đang cúng những con bò này cho Tăng đoàn để cung cấp sản phẩm sữa cho Tăng đoàn," thì không được.
Nếu thí chủ đề xuất cúng lợn, gà, hay các con vật khác chỉ dùng làm thịt cho Tăng đoàn, các tỳ-kheo nên nói: "Chúng tôi không thể nhận những món quà như thế này, nhưng chúng tôi sẽ vui lòng thả chúng tự do cho ngài."
Nếu, sau khi thiết lập một sắp xếp được phép, thí chủ yêu cầu các tỳ-kheo bổ nhiệm một người giữ tịnh tài để trông coi nó, họ có thể. Nếu không, họ không được làm gì về sắp xếp đó cả.
Cách sử dụng tiền thu được từ những sắp xếp như vậy phụ thuộc vào chúng là gì: Nếu là tiền, và một tỳ-kheo nói với người giữ tịnh tài: "Hãy dùng tiền này mua thứ như vậy như vậy," thì không tỳ-kheo nào được sử dụng những gì mua được bằng tiền đó. Nếu tiền thu được là hàng hóa, chẳng hạn như lúa chưa xay, và một tỳ-kheo nói với người giữ tịnh tài: "Hãy dùng lúa này đổi lấy thứ như vậy như vậy," thì tỳ-kheo đưa ra lệnh không được sử dụng bất cứ thứ gì thu được từ việc trao đổi, nhưng các tỳ-kheo khác có thể mà không phạm tội. Nếu tiền thu được là hàng hóa được phép, chẳng hạn như trái cây, và một tỳ-kheo nói với người giữ tịnh tài: "Hãy dùng trái cây này đổi lấy thứ như vậy như vậy," Chú giải nói rằng bất kỳ tỳ-kheo nào cũng có thể sử dụng những gì thu được từ việc trao đổi.
Rõ ràng là Chú giải xem sắp xếp này là có thể chấp nhận được vì cách giải thích của mình rằng _[NP 20](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP20)_ chỉ áp dụng cho các trường hợp tỳ-kheo bảo người giữ tịnh tài tiến hành trao đổi với các tài nguyên cá nhân của tỳ-kheo. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ lưu ý trong thảo luận về điều học đó, cách giải thích này có vẻ sai lầm, và điều học áp dụng cho bất kỳ quỹ nào mà tỳ-kheo chịu trách nhiệm. Điều này có nghĩa là, trong bối cảnh sắp xếp cuối này, tỳ-kheo đưa ra lệnh sẽ phải xả tiền thu được từ việc trao đổi, nhưng tất cả các tỳ-kheo có thể sử dụng chúng sau khi xả.
Quỹ phi cá nhân
Nếu thí chủ đến với tiền hay bất kỳ món quà không được phép nào khác và nói: "Tôi đang cúng điều này cho Tăng đoàn vì thiền đường (hay bất kỳ mục đích phi cá nhân nào khác, chẳng hạn như quỹ sách hay quỹ xây dựng chung)," thì món quà không thể được nhận. Nhưng nếu thí chủ nói: "Tôi đang cúng điều này cho (hay vì) thiền đường," mà không đề cập đến bất kỳ tỳ-kheo cá nhân, nhóm tỳ-kheo hay Tăng đoàn nào là người quản lý hay người nhận món quà, thì sắp xếp này không được từ chối, và người giữ tịnh tài tu viện cần được thông báo về những gì thí chủ đã nói.
Trong bối cảnh _[NP 18](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP18)_, điều này có nghĩa là các tỳ-kheo không được lấy tiền trực tiếp, hay nhờ người khác lấy, nhưng có thể đồng ý để nó được đặt cạnh mình, vì nó không phải là món quà dành cho họ.
Nhiều tu viện có hòm quyên góp, và có câu hỏi liệu các tỳ-kheo có thể nói với thí chủ trong trường hợp này hãy bỏ tiền vào hòm. Chú giải về _[NP 18](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP18)_ nêu rằng khi một khoản quyên góp đã được đặt xuống vì lợi ích của tỳ-kheo — bất chấp sự phản đối của vị ấy — và ai đó ngoài thí chủ đề nghị đặt nó vào nơi an toàn, tỳ-kheo có thể chỉ ra nơi an toàn để đặt tiền nhưng không thể bảo người đó đặt nó ở đó, vì điều đó ngụ ý rằng vị ấy đang chấp nhận trách nhiệm về tiền. Nếu quy định này cũng áp dụng cho các quỹ được cúng "vì một công trình xây dựng," thì các tỳ-kheo có thể nói với thí chủ của các quỹ như vậy: "Hòm quyên góp ở đó," nhưng không phải: "Hãy bỏ vào đó."
Sau khi thí chủ đã đặt tiền, các tỳ-kheo có thể thông báo cho người giữ tịnh tài tu viện về những gì thí chủ đã nói, nhưng không được bảo người ấy lấy tiền, vì điều này sẽ vi phạm _[NP 18](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP18)_. Họ cũng cần tuân theo thủ tục trong điều học này khi thông báo cho người giữ tịnh tài về nhu cầu vật liệu xây dựng, tiền công cho thợ, và các nhu cầu thiết yếu khác phát sinh trong quá trình xây dựng hay bảo trì công trình.
Chú giải đề cập đến hai sắp xếp có thể chấp nhận khác:
1) Thí chủ đặt tiền với thợ thủ công và nói với các tỳ-kheo rằng trách nhiệm duy nhất của họ là kiểm tra xem công việc có được thực hiện tốt hay kém.
2) Thí chủ nói rằng tiền sẽ được giữ với người ấy hay với nhân viên của người ấy và trách nhiệm duy nhất của các tỳ-kheo là thông báo cho họ biết tiền nên được đưa cho ai.
Tuy nhiên, sắp xếp thứ hai này về cơ bản khiến tỳ-kheo chịu trách nhiệm sắp xếp một giao dịch: Vị ấy đang nói với thí chủ hay nhân viên của người ấy ai xứng đáng được trả tiền đổi lấy hàng hóa hay lao động, điều này một lần nữa sẽ vi phạm _[NP 20](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP20)_. Nhiều nhất, tỳ-kheo có thể nói với thí chủ, v.v., lượng công việc thợ đã làm hoặc lượng vật liệu xây dựng đã được giao đến công trình, và để thí chủ, v.v., tự tính toán ai xứng đáng được trả bao nhiêu. Ngoài ra, nếu một tài khoản thanh toán được lập ra vì mục đích phi cá nhân như xây dựng và bảo trì các công trình tu viện, tỳ-kheo không thể ký séc rút tiền từ tài khoản đó.
Chú giải nói rằng vì người giữ tịnh tài trong các sắp xếp (1) và (2) được chỉ ra bởi thí chủ, các tỳ-kheo có thể đưa ra bất kỳ số yêu cầu nào họ thích — tức là, trong trường hợp đầu tiên, bảo thợ thủ công phải làm gì; trong trường hợp thứ hai, bảo người giữ tịnh tài hay thí chủ ai cần được trả tiền — nhưng như chúng ta đã lưu ý ở trên, dường như không có lý do để tuân theo Chú giải trong việc cho phép điều này.
Ngoài quỹ xây dựng, có vẻ như bất kỳ quỹ từ thiện nào cho trường học, bệnh viện, v.v. — chẳng hạn như một số tu viện giàu có — sẽ thuộc phạm trù quỹ phi cá nhân, miễn là quỹ không phải vì vật dụng cho Tăng đoàn, dù là theo nhóm hay cá nhân.
Quản lý quỹ
Chú giải nêu rằng nếu một quỹ Tăng đoàn đã được lập ra cho một vật dụng cụ thể, thì theo nguyên tắc chung, nó nên được dùng để mua chỉ vật dụng đó. Tuy nhiên, nếu Tăng đoàn có đủ loại lahubhaṇḍa (hàng hóa nhẹ có thể phân phát) này nhưng không đủ loại kia, quỹ cho loại thứ nhất có thể được chuyển cho loại thứ hai bằng một apalokana-kamma: một kamma Tăng đoàn trong đó đề nghị được diễn đạt bằng lời của chính mình và được chấp nhận nhất trí.
Tuy nhiên, các quỹ cho chỗ ở và đồ nội thất, vì chúng là garubhaṇḍa (hàng hóa nặng hay đắt tiền không thể phân phát giữa các tỳ-kheo), không thể được chuyển sang lahubhaṇḍa gì cả. Nhưng nếu đồ nội thất Tăng đoàn đang không được sử dụng và có nguy cơ hư hỏng trước khi được sử dụng, Tăng đoàn có thể sắp xếp để trao đổi — sử dụng thủ tục được phép theo _[NP 20](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0014.html#NP20)_, và đảm bảo không để nó đi với giá thấp hơn giá trị đầy đủ của nó — và sau đó dùng tiền thu được cho lahubhaṇḍa. Chú giải bổ sung rằng tiền thu được loại này nên được sử dụng "tiết kiệm, vừa đủ để duy trì cuộc sống." Nói cách khác, nếu Tăng đoàn không trong hoàn cảnh khó khăn, tiền thu được không nên được sử dụng cho lahubhaṇḍa gì cả, và thay vào đó nên được giữ lại cho garubhaṇḍa khi nhu cầu phát sinh. Tuy nhiên, nếu Tăng đoàn đang phải chịu đựng những thảm họa như dịch bệnh hay nạn đói, họ có thể cho phép dùng tiền thu được cho lahubhaṇḍa khi cần thiết, nhưng không phung phí vào bất cứ thứ gì quá mức.
Không phạm tội
Không phạm tội nếu:
- người giữ tịnh tài cúng vật dụng sau khi tỳ-kheo đã thực hiện số lần nhắc nhở được phép hay ít hơn; hoặc
- thí chủ (các thí chủ) cúng vật dụng sau khi được thông báo rằng người giữ tịnh tài đã không cúng vật dụng sau khi được nhắc nhở đủ số lần được phép.
Lưu ý rằng các điều khoản không phạm tội của Vibhaṅga không có ngoại lệ cho thân tộc hay người đã mời người ta yêu cầu. Điều này có nghĩa là ngay cả khi thí chủ hay người giữ tịnh tài hoặc cả hai là thân tộc của tỳ-kheo hoặc đã cho vị ấy lời mời để yêu cầu, vị ấy vẫn phải tuân theo thủ tục theo điều học này.
Tóm tắt: Khi một quỹ dành cho mục đích sử dụng cá nhân của mình đã được gửi với người giữ tịnh tài, nhận được vật dụng từ quỹ đó do đã nhắc nhở người giữ tịnh tài nhiều hơn số lần được phép là tội pācittiya — tội xả vật + sám hối.">nissaggiya pācittiya.
CHAPTER SEVEN
Nissaggiya Pācittiya
The term nissaggiya, used in connection with training rules, means “entailing forfeiture.” Used in connection with articles, it means “to be forfeited.” Pācittiya is a word of uncertain etymology. The Parivāra gives a didactic derivation—that it means letting skillful qualities fall away (patati) with a deluded mind (citta)—but the term is more likely related to the verb pacinati (pp. pacita), which means to discern, distinguish, or know.
Each of the rules in this category involves an item that a bhikkhu has acquired or used wrongly, and that he must forfeit before he may “make the offense known”—confess it—to a fellow bhikkhu, a group of bhikkhus, or to the Community as a whole. This confession is what clears him of the offense. In most cases, the forfeiture is symbolic. After his confession, the offender receives the item in return so that, as a donor’s gift, it does not go to waste. Even under the three rules requiring that the offender give up the item for good, the forfeiture protocols allow for the Community to benefit from the item, again as a way of preserving the donor’s faith.
There are thirty rules in this category, divided into three chapters (vagga) of ten rules each.
#One: The Robe-cloth Chapter
1
When a bhikkhu has finished his robe and the frame is dismantled (his kaṭhina privileges are ended), he is to keep extra robe-cloth ten days at most. Beyond that, it is to be forfeited and confessed.
The origin story for this rule is retold as part of a longer narrative in the Mahāvagga (VIII.13.4-8). Because the context provided by the longer narrative is what makes it interesting, that is the version translated here.
“(The Buddha addresses the bhikkhus:) ‘As I was traveling on the road from Rājagaha to Vesālī, I saw many bhikkhus coming along loaded down with robe-cloth, having made a mattress of robe-cloth on their heads and a mattress of robe-cloth on their backs/shoulders and a mattress of robe-cloth on their hips. Seeing them, I thought, “All too quickly have these worthless men been spun around into abundance in terms of robe-cloth. What if I were to tie off a boundary, to set a limit on robe-cloth for the bhikkhus?”
“‘Now at that time, during the cold winter middle-eight nights (the four nights on either side of the full moon in February, the coldest time of the year in northern India) when snow was falling, I sat in the open air wearing one robe and was not cold. Toward the end of the first watch I became cold. I put on a second robe and was not cold. Toward the end of the middle watch I became cold. I put on a third robe and was not cold. Toward the end of the final watch, as dawn rose and the night smiled, I became cold. I put on a fourth robe and was not cold. The thought occurred to me, “Those in this doctrine and discipline who are sons of respectable families—sensitive to cold and afraid of the cold—even they are able to get by with three robes. Suppose I were to tie off a boundary, to set a limit on robe-cloth for the bhikkhus and were to allow three robes.” Bhikkhus, I allow you three robes: a double-layer outer robe, a single-thickness upper robe, and a single-thickness lower robe (thus, four layers of cloth).’
“Now at that time, some group-of-six bhikkhus, thinking, ‘The Blessed One allows three robes,’ entered the village wearing one set of three robes, stayed in the monastery wearing another set, and went down to bathe in still another. Modest bhikkhus… criticized and complained and spread it about, ‘How can the group-of-six bhikkhus wear extra robe-cloth?’ They told this matter to the Blessed One. He… addressed the bhikkhus, saying, ‘Bhikkhus, extra robe-cloth is not to be kept’….
“Now at that time extra robe-cloth accrued to Ven. Ānanda, and he wanted to give it to Ven. Sāriputta, but Ven. Sāriputta was at Sāketa. He thought, ‘… Now what line of conduct should I follow?’ He told this matter to the Blessed One, (who said,) ‘But how long is it, Ānanda, before Sāriputta will come here?’
“‘Nine days or ten.’
“Then the Blessed One… addressed the bhikkhus, ‘I allow that extra robe-cloth to be kept at most ten days.’
“Now at that time extra robe-cloth accrued to the bhikkhus. They thought, ‘Now what line of conduct should we follow?’ They told this matter to the Blessed One, (who said,) ‘I allow that extra robe-cloth be placed under shared ownership.’”
The offense under this rule involves two factors.
1) Object: a piece of extra robe-cloth, i.e., a piece of cloth suitable to be made into a robe or other cloth requisite, measuring at least four by eight inches (fingerbreadths), that has not been formally determined for use or placed under shared ownership. This category includes finished requisites as well as simple pieces of cloth, but does not include robe-cloth belonging to the Community.
2) Effort: One keeps it for more than ten days (except during the allowed period) without determining it for use, placing it under shared ownership, abandoning it (giving or throwing it away); and without the cloth’s being lost, destroyed, burnt, snatched away, or taken by someone else on trust within that time.
Object
According to [Mv.VIII.3.1](./Section0041.html#Mv.VIII.3.1), six kinds of cloth are suitable for making into cloth requisites: linen, cotton, silk, wool, jute (§), or hemp (§). The Sub-commentary adds that cloth made of any mixture of hemp with any of the other types of thread would be allowed under “hemp.” Applying the Great Standards, nylon, rayon, and other synthetic fibers would count as suitable as well. Unsuitable materials—such as cloth made of hair, horse-hair, grass, bark, wood-shavings, or antelope hide (and by extension, leather)—do not come under this rule. (For a full list of unsuitable materials, see [Mv.VIII.28](./Section0028.html#Mv.VIII.28.1)—[BMC2, Chapter 2](./Section0041.html#BMC2chapter2).) [Mv.VIII.29](./Section0041.html#Mv.VIII.29) gives a list of colors—such as black, blue, and crimson—and patterns that are not suitable for robes but that, according to the Commentary, are suitable for things like bed sheets or for linings (inside layers?) in double-layer robes (see [BMC2, Chapter 2](./Section0041.html#BMC2chapter2)). Pieces of cloth dyed these colors or printed with these patterns would come under this rule.
[Mv.VIII.21.1](./Section0041.html#Mv.VIII.21.1) states that if a bhikkhu receives a piece of suitable cloth measuring four by eight fingerbreadths or more but does not yet plan to use it, he may place it under shared ownership (vikappana) until he has need for it. Once he decides to make use of the cloth, he must rescind the shared ownership (see [Pc 59](./Section0021.html#Pc59)) before making it into a finished requisite (if it isn’t already). Once it is finished, he may then determine it for use (adhiṭṭhāna) or place it under shared ownership again, depending on the nature of the article:
Each of the three basic robes, handkerchiefs, bed sheets, and the sitting cloth are to be determined, and may not be placed under shared ownership.
A rains-bathing cloth (see [NP 24](./Section0015.html#NP24)) may be determined for the four months of the rainy season and is to be placed under shared ownership for the remainder of the year.
A skin-eruption cloth (see [Pc 90](./Section0024.html#Pc90)) may be determined when needed and is to be placed under shared ownership when not.
Other items of cloth may be determined as “requisite cloths.”
(The procedures for determining and placing under shared ownership are given in [Appendices IV](./Section0028.html#appendixIV) & [V](./Section0028.html#appendixV).)
Any cloth made of any of the suitable materials and of the requisite size counts as an extra cloth if—
it has not been determined for use or placed under shared ownership,
it has been improperly determined or placed under shared ownership, or
its determination or shared ownership has lapsed.
Many of the cases in which determination and shared ownership lapse also exempt the cloth from this rule: e.g., the owner disrobes or dies, he gives the cloth away, it gets snatched away, destroyed (bitten by things such as termites, says the Commentary), burnt, lost, or someone else takes it on trust. There are a few cases, however, where determination and shared ownership lapse and the cloth does fall under this rule. They are—
Under shared ownership: The first owner takes the cloth on trust, or the second owner formally rescinds the shared ownership.
Under determination: The owner rescinds the determination, or (if the cloth has been determined as one of the three basic robes) the cloth develops a hole. This latter case comes in the Commentary, which gives precise standards for deciding what kind of hole does and does not make the determination of the robe lapse:
1) Size. The hole has to be a full break (through both layers of cloth, if in the outer robe) at least the size of the nail on one’s little finger. If one or more threads remain across the hole, then the hole makes the determination lapse only if either of the two “halves” divided by the thread(s) is the requisite size.
2) Location. On an upper robe or outer robe, the hole has to be at least one span (25 cm.) from the longer side and eight fingerbreadths from the shorter; on a lower robe, at least one span from the longer side and four fingerbreadths from the shorter. Any hole closer to the edge of the robe than these measurements does not make the determination lapse.
Because of these stipulations, the Commentary notes that if one is patching a worn spot—not a hole as defined above—more than the maximum distance away from the edge of one’s robe, the determination lapses if one cuts out the worn spot before applying the patch, but not if one applies the patch before cutting out the worn spot. If the determination lapses, it is an easy matter to re-determine the robe, but one must be mindful to do it within the time span allotted by this rule.
Effort
According to the Vibhaṅga, if one keeps a piece of extra robe-cloth past the eleventh dawnrise (except when the robe-season privileges are in effect), one commits the full offense under this rule. The Commentary explains this by saying that the dawnrise at the morning of the day on which one receives the cloth, or lets its determination/shared ownership lapse, counts as the first dawn. Thus the eleventh dawnrise would actually be the tenth dawnrise after one receives, etc., the cloth.
Because neither the Canon nor the Commentary gives a precise definition of dawn or dawnrise, their exact meaning is a controversial point. The clearest definition of dawnrise—and the one that seems most consistent with the Canon’s use of the term—is in a sub-commentary called the Vinayālaṅkāra, which states that at dawnrise “a red band in the eastern direction and a whiteness in the remaining directions, due to the diffusion of sunlight, can be discerned.” In modern terminology, this corresponds to the onset of civil twilight. This is the definition followed in this book. Further, dawnrise is apparently the moment at which dawn begins, although this is a controversial point. For further discussion, see [Appendix I](./Section0028.html#appendixI).
[Mv.V.13.13](./Section0041.html#Mv.V.13.13) states that if one is informed of a gift of robe-cloth, the counting of the time span does not begin until the cloth has reached one’s hand. The Commentary to that passage insists that this means either when physically coming to one’s possession or when one is informed by the donors that the robe-cloth is with so-and-so or when one is informed by another to the same effect. However, this interpretation seems to directly contradict the passage it is commenting on, which expressly says, “There is no counting of the time span as long as it has not come to his hand”—“his” in this case meaning the bhikkhu’s.
Perception is not a mitigating factor here. Even if one miscounts the days or perceives a robe to be determined when it actually is not, one is not immune from the offense. The robe is to be forfeited and the offense confessed.
If, before it has been forfeited, one uses a robe or piece of robe-cloth that deserves to be forfeited under this rule, the penalty is a dukkaṭa. This is one of only six nissaggiya pācittiya rules where the Vibhaṅga mentions this penalty—the others are NP 2, 3, [21](./Section0015.html#NP21), [28](./Section0015.html#NP28), & [29](./Section0015.html#NP29)—but the K/Commentary extends the principle to all nissaggiya pācittiya rules: To use an unforfeited item that deserves to be forfeited incurs a dukkaṭa in every case. (We should add, though, that the use of gold or money acquired in defiance of [NP 18](./Section0014.html#NP18) or [19](./Section0014.html#NP19) would carry a nissaggiya pācittiya if used in defiance of [NP 19](./Section0014.html#NP19) or [20](./Section0014.html#NP20).)
The Vibhaṅga also states that, in the case of an extra robe that has not been kept more than ten days, if one perceives it to have been kept more than ten days or if one is in doubt about it, the penalty is a dukkaṭa. This can be interpreted in one of two ways: There is a dukkaṭa simply in continuing to keep the robe, or a dukkaṭa in using it. The Commentary opts for the second interpretation.
Robe-season privileges
The fourth lunar month of the rainy season—beginning the day after the first full moon in October and lasting to dawnrise of the day following the next full moon—is termed the robe season, a period traditionally devoted to robe-making. In the early days, when most bhikkhus spent the cold and hot seasons wandering, and stayed put in one place only during the Rains-residence, this would have been the ideal period for them to prepare robes for their wandering, and for lay people who had come to know the bhikkhus during the Rains-residence to show their gratitude and respect for them by presenting them with gifts of cloth for this purpose.
During this robe season, five of the training rules—NP 1 & 3; [Pc 32](./Section0019.html#Pc32), [33](./Section0019.html#Pc33), & [46](./Section0020.html#Pc46)—are relaxed to make it more convenient for the bhikkhus to make robes. Also, any cloth accruing to a particular monastery during this period may be shared only among the bhikkhus who spent the Rains-residence there, and not with any incoming visitors.
Under certain circumstances (see [BMC2, Chapter 17](./Section0057.html#BMC2chapter17)) bhikkhus who have spent the Rains-residence are also entitled to participate in a kaṭhina ceremony in which they receive a gift of cloth from lay people, bestow it on one of their members, and then as a group make it into a robe before dawnrise of the following day. (Kaṭhina means frame, and refers to the frame over which the robe-cloth is stretched while sewing it, much like the frame used in America to make a quilt.) After participating in this ceremony, the bhikkhus may extend their robe season for an additional four lunar months, up to the dawn after the full-moon day that ends the cold season in late February or early-to-mid March (called Phagguna in Pali). During this period they may also take advantage of the additional privilege of not having to observe NP 2. However, a bhikkhu’s kaṭhina privileges may be rescinded—and his robe season ended—earlier than that for either of two reasons:
1) He participates in a meeting in which all the bhikkhus in the monastery, as a Community transaction, voluntarily relinquish their kaṭhina privileges. (This act is discussed under bhikkhunīs’ [Pc 30](/vinaya/bhikkhuni-pati.html#pc-part3)—see [BMC2, Chapter 17](./Section0057.html#BMC2chapter17) and [Appendix I](./Section0028.html#appendixI).)
2) He comes to the end both of his constraint with regard to the monastery (āvāsa-palibodha) and of his constraint with regard to making a robe (cīvara-palibodha). (See [Mv.VII.1.7](./Section0057.html#Mv.VII.1.7); [Mv.VII.2](./Section0057.html#Mv.VII.2) & Pv.XIV.6.)
a) A constraint with regard to a monastery ends when either of the following things happens:
—One leaves the monastery without intending to return.
—One has left the monastery, planning to return, but learns that the bhikkhus in the monastery have formally decided to relinquish their kaṭhina privileges.
b) A constraint with regard to making a robe ends when any of the following occurs:
—One finishes making one’s robe(s).
—One decides not to make a robe.
—One’s robe-cloth gets lost, snatched away, or destroyed.
—One expects to obtain robe-cloth, but—after not obtaining it as expected—one abandons one’s expectation.
Only if Point 1 happens, or both Points 2a and 2b happen, do one’s kaṭhina privileges lapse before the dawn after the full moon day marking the end of the cold season.
During the robe season, one may keep an extra piece of robe-cloth for more than ten days without committing an offense under this rule. Once these privileges lapse, though, one must determine the cloth, place it under shared ownership, or abandon it within ten days. If one fails to do so by the eleventh dawnrise after the privileges lapse, the cloth is to be forfeited and the offense confessed.
Forfeiture & confession
To be absolved of the offense under this rule, one must first forfeit the robe-cloth kept more than ten days and then confess the offense. This may be done in the presence of one other bhikkhu, a group of two or three, or a Community of four or more. After confessing the offense, one receives the robe-cloth in return. This is the pattern followed under all the nissaggiya pācittiya rules except for the few in which forfeiture must be done in the presence of a full Community and under which the article may not be returned to the offender. (We will note these rules as we come to them.)
The Pali formulae to use in forfeiture, confession, and return of the article for this and all the following rules are given in [Appendix VI](./Section0028.html#appendixVI). We should note, though, that according to the Commentary one may conduct these procedures in any language at all.
In this and every other rule under which the article may be returned to the offender, it must be returned to him. According to the Vibhaṅga, a bhikkhu who receives the article being forfeited without returning it incurs a dukkaṭa. The Commentary qualifies this by saying that this penalty applies only to the bhikkhu who assumes that, in receiving an article being forfeited in this way, it is his to take as he likes. For the bhikkhu who knows that it is not his to take, the offense is to be treated under [Pr 2](./Section0010.html#Pr2), with the penalty determined by the value of the article. In passing this judgment, the Commentary is treating the act of accepting the forfeited article as a species of accepting an object placed in safekeeping. However, it has neglected to note that the act of forfeiture is worded in such a way that the offender is actually giving up ownership of the cloth; because the cloth then has no owner, it would not fulfill the factors for an offense under [Pr 2](./Section0010.html#Pr2). Thus it seems preferable to stick with the Vibhaṅga in saying that, in all cases, a bhikkhu who does not return the article being forfeited incurs a dukkaṭa.
A bhikkhu who has received the robe-cloth in return after forfeiting it and confessing the offense may use it again without penalty, unless he keeps it as a piece of extra robe-cloth beyond ten more dawns. Thus the wise policy is to determine the cloth or place it under shared ownership immediately after receiving it in return.
Non-offenses
In addition to the allowance to keep extra robe-cloth more than ten days during the robe season, the Vibhaṅga says that there is no offense if within ten days the cloth is determined, placed under shared ownership, lost, snatched away, destroyed, burnt, taken by someone else on trust, thrown away, or given away.
In connection with this last point, the Commentary discusses proper and improper ways of giving things away. The article counts as having been properly given if one says, “I give this to you,” or “I give this to so-and-so,” or “Take this, it’s yours,” but not if one says things like, “Make this yours,” or “May this be yours.” Apparently, if one simply hands the article over without saying anything to show that one is transferring ownership, it again does not count. As we noted above, perception is not a mitigating factor under this rule. If one gives extra robe-cloth away in an improper manner, then even though one may assume that the cloth has been given away it still counts as one’s own extra robe-cloth under this rule.
Current practice
As the origin story shows, the purpose of this rule was to prevent bhikkhus from having more than one set of the three robes at any one time. With the passage of time, though, gifts of cloth to the Community became more numerous, and the need for stringency in this matter became less and less felt. Exactly when spare robes became accepted is not recorded, although a passage in the pupil’s duties to his preceptor ([Mv.I.25.9](./Section0054.html#Mv.I.25.8-24)) shows that the practice of having a spare lower robe was already current when that part of the Canon was compiled (see [Appendix X](./Section0028.html#appendixX)). [Mv.VII.1](/vinaya/Mv/MvVII.html#pts1) also mentions a group of wilderness dwelling bhikkhus who were “wearers of the three robes,” as if this were a special distinguishing characteristic. A number of passages in the Canon—including SN 16:8 and [Thag&16:7](/suttas/KN/Thag/thag16_7.html)—mention the practice of using only one set of three robes as special, and the Visuddhimagga (5th century C.E.) classes this practice as one of the thirteen optional dhutaṅga (ascetic) practices.
As we will see below, [Pc 92](./Section0024.html#Pc92) suggests that in the early days the under, upper, and outer robes were all nearly the same size, so there would have been no difficulty in washing one robe and using the other two while the first one dried. Later, when the compilers of the ancient commentaries greatly enlarged the size of the upper and outer robes after deciding that the Buddha was of superhuman height, getting by with just one set of three robes became less convenient. Thus many teachers at present suggest that even a frugal bhikkhu, when staying in monasteries, should use one spare lower robe or a spare lower and upper robe—so that he will have no trouble keeping his robes clean and presenting an acceptable appearance at all times—and save the three-robe dhutaṅga practice for when he is alone in the wilderness.
At any rate, because only one set of three robes may be determined as such, spare robes—once they became generally accepted—were determined as “requisite cloths.” This point may be inferred from the Commentary’s explanation of this rule, and the Sub-commentary’s explanation of NP 7. The Commentary even contains a discussion of the views of various elders as to whether a bhikkhu who wishes to avoid the special rules surrounding the use of the three robes (such as the following rule) may determine his basic set as requisite cloths as well. The majority opinion—with only one dissenting voice—was Yes, although at present many Communities do not agree with this opinion.
The Sub-commentary suggests an alternative way of dealing with spare robes: placing them under shared ownership and—because none of the three robes may be placed under shared ownership—calling them simply “cloth” (cīvara). This, however, plays havoc with [Pc 59](./Section0021.html#Pc59) and the general purpose of shared ownership in the Canon as a way of keeping cloth that is not being used. Thus the previous method—determining spare robes as requisite cloth—seems preferable.
In any event, ever since spare robes have been accepted, the effect of this rule has been mainly to deter a bhikkhu from hoarding up robe-cloth in secret and from letting a hole in any of his basic set of three robes go unmended for more than ten days. Nevertheless, the spirit of the rule makes it incumbent on each bhikkhu to keep his cloth requisites to a minimum.
Summary: Keeping a piece of robe-cloth for more than ten days without determining it for use or placing it under shared ownership—except when the robe-season privileges are in effect—is a nissaggiya pācittiya offense.
\ \ \*
2
When a bhikkhu has finished his robe and the frame is dismantled (his kaṭhina privileges are ended): If he dwells apart from (any of) his three robes even for one night—unless authorized by the bhikkhus—it is to be forfeited and confessed.
In the origin story here, a number of bhikkhus went off on tour, leaving their outer robes with their friends at the monastery. Eventually the robes became moldy, and the bhikkhus at the monastery were burdened with having to sun them to get rid of the mold. The Buddha thus formulated this rule so that bhikkhus would be responsible for looking after their own robes.
The offense here consists of two factors: object and effort.
Object:
Any one of the robes that a bhikkhu has determined as his basic set of three—the antaravāsaka (lower robe), uttarāsaṅga (upper robe), and saṅghāṭi (outer robe). This rule thus does not apply to spare robes or other cloth requisites.
Effort:
Greeting dawnrise at a place outside of the zone in which any of one’s robes are located, except when the exemptions mentioned in the rule are in effect.
Dawnrise, as stated under the preceding rule, corresponds to the onset of civil twilight. In Thailand, this point is often measured in a practical way by looking at the palm of one’s hand as it is held out at full arm’s length: Dawnrise is the point in time when the major lines of the hand are visible by natural light. On a bright moonlit night, dawnrise is measured by looking at the foliage of trees: Dawnrise is the point when one can detect the green in the color of the leaves. For further discussion of some of the controversies surrounding dawn and dawnrise, see [Appendix I](./Section0028.html#appendixI).
Zones
This is the most complex facet of this rule. The zone where a bhikkhu must be at dawnrise depends on the type of location where his robes are placed, whether the property around the location is enclosed, and—if it is enclosed—whether it belongs to one or more than one kula.
“Enclosed,” according to the Commentary, means surrounded with a wall, a fence, or a moat. The Sub-commentary adds that a river or lake would also qualify as a type of enclosure, under the term moat.
The term kula normally means clan or family, but in the context of this rule it has different meanings for the different types of locations. According to the Commentary, a village is single-kula if ruled by a single ruler, and multi-kula if ruled by a council—as in the case of Vesālī and Kusinārā during the time of the Buddha. (In the time of the Canon and Commentary, rulers were assumed to “own” or have the right to “consume” the territories they ruled.) At present, towns governed under a social contract—such as a town charter—would count as multi-kula even if the highest authority in the government is invested in a single individual.
A building, a vehicle or a piece of land is single-kula if it belongs to one family, and multi-kula if it belongs to more than one (as in an apartment house).
According to the Sub-commentary, a monastery is single-kula if the people who initiated it belong to one kula—of either type, apparently—and multi-kula if they belong to several.
In some of the cases, the Vibhaṅga states that one should greet dawnrise within a particular area “or not more than a hatthapāsa (1.25 meter) away.” Unfortunately, it does not explicitly state what the hatthapāsa is measured from—the robes or the area—so there are different opinions as to what this passage means. The Commentary’s position is that in cases where the Vibhaṅga says that if the robes are kept in a certain area, one should either stay in that area or not more than a hatthapāsa away, the hatthapāsa is measured from the outside boundary of the area. For instance, if the robes are kept in a house in an unenclosed village, one is allowed to greet dawnrise anywhere in the house or in an area one hatthapāsa around the house. (This would allow for a bhikkhu to go outside to relieve himself at dawn without having to carry along his full set of robes.) However, in cases where the Vibhaṅga does not mention that one should stay in a certain area, and instead says simply that one should not be more than a hatthapāsa away—as in an unenclosed field or under a multi-kula tree—the hatthapāsa is measured from the robes themselves.
Some have objected to the Commentary’s position as inconsistent and serving no purpose, and have proposed instead that the hatthapāsa be measured from the robes in every case. This, however, leads to redundancies: If, for instance, the robes are kept in a room and one is allowed (1) to stay in the room or (2) to be no further than a hatthapāsa from the robes, then either (2) negates (1)—in other words, one must stay within a hatthapāsa of the robes and not go elsewhere in the room—or else (1) makes (2) superfluous: One may stay anywhere in the room, without worrying about precisely where in the room the robes are located. In contrast, the Commentary’s position not only avoids these redundancies but also actually serves a purpose. In addition to the convenience mentioned above, there is another convenience in a multi-kula dwelling or a larger multi-kula building: If there is a small bathroom next to the room where the robes are kept, one may use the bathroom at dawn without having to take one’s robes into the bathroom. For these reasons, we will stick to the Commentary’s interpretation here.
1. A village:
a. Enclosed and single-kula: Having kept the robes within the enclosure, greet dawnrise in the enclosure. (The Vibhaṅga actually says, “in the village,” but as the Commentary to [Mv.II.12.3](./Section0053.html#Mv.II.12.3) notes, when a village is enclosed, everything in the enclosure counts as “village,” and that is the most sensible interpretation for the Vibhaṅga’s statement here. This is the pattern followed throughout all cases of “enclosed and single-kula.”)
b. Enclosed and multi-kula: Greet dawnrise in the house where the robes are kept, in the public meeting hall, at the town gate, or one hatthapāsa around any of these places (§). If the robes are kept within a hatthapāsa of the path going to the public meeting hall, greet dawnrise in the public meeting hall, at the town gate, or in the area one hatthapāsa around either of the two. If the robes are kept in the public meeting hall, greet dawnrise in the public meeting hall, at the town gate, or in the area one hatthapāsa around either of the two.
c. Unenclosed: Greet dawnrise in the house where the robes are kept or in the area one hatthapāsa around it (§). (See 2 & 3 below for further details.)
2. A dwelling with a yard:
a. Enclosed and single-kula: Having kept the robes within the enclosure, greet dawnrise within the enclosure.
b. Enclosed and multi-kula: Greet dawnrise in the room where the robes are kept, at the entrance to the enclosure, or in the area one hatthapāsa around either of the two (§).
c. Unenclosed: Greet dawnrise in the room where the robes are kept, or in the area one hatthapāsa around it (§).
3. A monastic dwelling (vihāra—according to the Sub-commentary, this includes entire monasteries):
a. Enclosed and single-kula: Having kept the robes within the enclosure, greet dawnrise within the enclosure.
b. Enclosed and multi-kula: Greet dawnrise in the dwelling where the robes are kept, at the entrance to the enclosure, or in the area one hatthapāsa around either of the two (§).
c. Unenclosed: Greet dawnrise in the dwelling where the robes are kept or in the area one hatthapāsa around it (§).
4. A field, orchard, garden (park), or threshing floor:
a. Enclosed and single-kula: Having kept the robes within the enclosure, greet dawnrise within the enclosure.
b. Enclosed and multi-kula (e.g., many fields, etc., within a single enclosure): Having kept the robes within the enclosure, greet dawnrise at the entrance to the field, etc., at the spot where the robe is kept, or in the area one hatthapāsa around either (§).
c. Unenclosed: Greet dawnrise within one hatthapāsa of the robes.
5. Buildings with no yard (such as a fortress or city apartment block):
a. Single-kula: Having kept the robes within the building, greet dawnrise within the building.
b. Multi-kula: Greet dawnrise within the room where the robes are kept, at the entrance (to the building), or in the area one hatthapāsa around either (§).
6. A boat (and by extension, other vehicles):
a. Single-kula: Having kept the robes within the vehicle, greet dawnrise within the vehicle.
b. Multi-kula (as in a commercial airplane or bus): Greet dawnrise in the room where the robes are kept or in the area one hatthapāsa around it (§). (For this reason, a bhikkhu traveling in an airplane overnight should wear his complete set of robes or have it with him in his cabin baggage, rather than in his checked baggage.) The Thai edition of the Canon, unlike the others, adds that one may also greet dawnrise at the entrance to the boat or in the area one hatthapāsa around it.
7. A caravan (according to the Sub-commentary, this includes groups traveling by foot as well as by cart; group hiking trips would thus be included here):
a. Single-kula: Having kept the robes within the caravan, greet dawnrise anywhere up to seven abbhantaras (98 meters) in front of or behind the caravan, and up to one abbhantara (14 meters) to either side.
b. Multi-kula: Having kept the robes within the caravan, greet dawnrise within one hatthapāsa of the caravan.
8. At the foot of a tree:
a. Single-kula: Having kept the robes within the area shaded by the tree at noon, greet dawnrise within that area. According to the Commentary, this doesn’t include spots where sunlight leaks through gaps in the foliage, but many Communities regard this stipulation as excessive.
b. Multi-kula (e.g., a tree on the boundary between two pieces of land): Greet dawnrise within one hatthapāsa of the robes.
9. In the open air (according to the Vibhaṅga, this means a wilderness area where there are no villages; the Commentary adds that this includes dense forests and uninhabited islands):
a. Greet dawnrise within a seven-abbhantara (98 meter) radius of the robes. (Some have argued that this allowance should apply only when one is staying outside of a dwelling in the wilderness; as for a hut in the wilderness, they say, the zone under (3) should apply. The problem with this interpretation is what it would mean in practice: If a bhikkhu keeping his robes in a wilderness hut wanted to greet dawnrise in the open air, he would have to take his robes out of the hut. Then he would be free to wander 98 meters away from them. This would actually expose the robes to more dangers than if they were left in the hut. Thus it seems preferable to stick with the Vibhaṅga’s definition for this zone: any wilderness area where there are no villages.)
Exemptions
1) As with the preceding rule, this rule is not in force when the kaṭhina privileges are in effect. However—unlike the preceding rule—it is in force during the first month after the Rains-residence unless one has participated in a kaṭhina.
2) In the origin story to this rule, the Buddha gives permission for a Community of bhikkhus to authorize an ill bhikkhu to be separated from his robes at dawnrise throughout the course of his illness without penalty. (The procedure and transaction statement for this authorization are given in [Appendix VIII](./Section0028.html#appendixVIII).)
The Commentary discusses how long this authorization lasts, and concludes that once the bhikkhu has recovered he should make every reasonable effort to get back to his robes as soon as possible without jeopardizing his health. The authorization then automatically subsides, with no further transaction being required to rescind it. If his illness returns, the authorization is automatically reinstated.
3) In [Mv.II.12.1-3](./Section0053.html#Mv.II.12.1), the Buddha directs the bhikkhus to declare a sīmā—or territory in which Community transactions are enacted—as a ticīvara-avippavāsa, which means that if a bhikkhu’s robes are anywhere within the territory, he may greet dawnrise at any other part of that territory without committing an offense under this rule. In the early days, when such a territory might cover many monasteries (the maximum allowable size is 3x3 yojanas, approximately 48x48 kilometers), this was a definite convenience for bhikkhus who had to leave their monastery to join in Community meetings at another monastery in the same territory. Because it was possible for such territories to include villages and homes as well, the Buddha added the extra stipulation that robes left in the houses of lay people lying in such a territory were not covered by this exemption. For further details, see [BMC2, Chapter 13](./Section0053.html#BMC2chapter13).
At present the custom is to designate much smaller areas as territories—usually only a fraction of the land in one monastery—and although these can also be designated as ticīvara-avippavāsa, this arrangement in such cases is not the great convenience it is in the larger territories.
Forfeiture & confession
If a bhikkhu greets dawnrise outside of the zone where any one of his three determined robes is placed—except when the exemptions are in effect—the robe is to be forfeited and the offense confessed. Perception and intention are not mitigating factors here. If he thinks that he is in the same zone when he actually isn’t, if he thinks the robe is not determined when it actually is, or if he means to be in the same zone when circumstances prevent him, he incurs the penalty all the same. If he then uses the robe before forfeiting it and confessing the offense, he incurs a dukkaṭa.
The Vibhaṅga adds that, with regard to a robe that hasn’t been apart from one, if one perceives it to have been apart or one is in doubt about it, the penalty is a dukkaṭa. The Commentary does not explain these statements, but from the parallel situations under NP 1 it would seem that the dukkaṭa here is for using the robe.
The procedures for forfeiture, confession, and return of the robe are the same as in the preceding rule. For the Pali formula to use in forfeiture, see [Appendix VI](./Section0028.html#appendixVI). Once the robe has been forfeited, its determination lapses, so when the bhikkhu receives it in return he must re-determine it for use or give it away within ten days so as not to commit an offense under the preceding rule.
Non-offenses
In addition to the above-mentioned exemptions, there is no offense if, before dawn, the robe is lost, destroyed, burnt, or snatched away; if someone else takes it on trust; or if the bhikkhu gives it away or rescinds its determination. Because of this last allowance, the Commentary recommends that if a bhikkhu realizes he will not be able to get back to his robe before dawn, he should rescind the robe’s determination before dawnrise so as to avoid an offense, and then re-determine the robe after dawnrise has passed.
A note on Thai practice
The author of the Vinaya-mukha missed the Sub-commentary’s discussion of monastic residences under this rule and so came to the conclusion that none of the texts discuss the question of zones in a monastery. As a result, he formulated his own system, treating each separate monastic dwelling as a lay dwelling with a yard. Furthermore, he neglected to discuss the question of what counts as single-kula and multi-kula in such a dwelling. In the absence of any other standard, Thai bhikkhus have come to view a dwelling of two or more bhikkhus, in which the bhikkhus come from different families, as a multi-kula dwelling. If the bhikkhus live in separate rooms, then the room where the robes are placed, plus a radius of one hatthapāsa around it, is the bhikkhu’s zone. If two or more bhikkhus are spending the night in a single room, each bhikkhu must greet dawnrise within one hatthapāsa of his robes.
Although there is no basis in the Canon or commentaries for this practice, it is so widely accepted in Thailand that the wise policy for anyone spending the night in the same dwelling or the same room with a Thai bhikkhu is to be aware of it and abide by it, to avoid the useless controversies that can arise over minor matters like this.
Summary: Being in a separate zone from any of one’s three robes at dawnrise—except when one’s kaṭhina privileges are in effect or one has received formal authorization from the Community—is a nissaggiya pācittiya offense.
\ \ \*
3
When a bhikkhu has finished his robe and the frame is dismantled (his kathina privileges are ended): Should out-of-season robe-cloth accrue to him, he may accept it if he so desires. Having accepted it, he is to make it up immediately (into a cloth requisite). If it should not be enough (§), he may lay it aside for a month at most when he has an expectation for filling the lack. If he should keep it beyond that, even when he has an expectation (for further cloth), it is to be forfeited and confessed.
There are two factors for an offense here.
1) Object: (a) out-of-season robe-cloth, made of any of the proper six kinds of material, in pieces measuring at least four by eight fingerbreadths;
(b) the cloth is not enough to make the cloth requisite one has in mind, but one expects to receive more.
2) Effort: One keeps the cloth for more than 30 days, except when the kaṭhina privileges are in effect.
Object
The Vibhaṅga defines in-season robe-cloth as any robe-cloth accruing to a bhikkhu—either from the Community, from a group, from relatives, from friends, from cast-off cloth, or from his own resources—during the first month after the Rains-residence if he has not yet participated in a kaṭhina, or during the time when his kaṭhina privileges are in effect if he has. Thus out-of-season cloth is any cloth accruing to him at any other time. However, the Vibhaṅga also notes that cloth accruing to a bhikkhu during the one-month or five-month robe season can count as out-of-season cloth if the donors dedicate it to that purpose. There are two reasons why they might want to do so.
1) Given the way “extra robe-cloth” is defined under NP 1, a gift of in-season robe-cloth can be kept—if it is neither determined nor placed under shared ownership—for ten days after the robe season ends. However, if the cloth is not enough to make into a robe, it cannot be kept—if neither determined nor placed under shared ownership—for the month allowed by this rule. However, as the K/Commentary to [NP 24](./Section0015.html#NP24) notes, a gift of out-of-season cloth can be kept for the extra month under this rule. Thus if the donors want to provide the recipient(s) with that extra amount of time—which would be especially useful if they give the cloth toward the end of the robe season—they can dedicate the cloth given in-season as out-of-season cloth.
2) According to [Mv.VIII.24-25](./Section0050.html#Mv.VIII.25.3), in-season cloth given to a Community may be shared among only the bhikkhus who spent the Rains-residence in that particular Community, and not among any visiting bhikkhus. The bhikkhunīs’ [NP 2](/vinaya/bhikkhuni-pati.html#np-part1) tells of a case where well-behaved but shabbily dressed bhikkhunīs visited a Community of bhikkhunīs when the robe-season privileges were in effect; lay donors, wishing to help them, gave cloth to the Community with the stipulation that it be treated as out-of-season robe-cloth so that the visiting bhikkhunīs would also have a share.
Out-of-season cloth, if it is enough to make the cloth requisite one has in mind, is treated as extra robe-cloth under NP 1: During the period outside of the robe season it can be kept for at most ten days. If, however, it is not enough, and one expects to get further cloth from any source—again, from the Community, from a group, from relatives, from friends, from cast-off cloth, or from one’s own resources—it may be kept for up to 30 days with no need to be determined or placed under shared ownership.
The further cloth, when received, has a life span of ten days, as under NP 1, and one must finish making one’s requisite within the time period determined by whichever cloth has the shorter life span. Thus, if one obtains the expected cloth during the first 20 days, the requisite must be made within ten days, this being the life span of the second cloth. If one obtains it after the 21st day, the requisite must be made before the original 30 days are up.
If the second cloth turns out to be of different quality from the first, one is under no compulsion to put the two cloths together to make up the requisite if one does not want to, and may continue waiting for further cloth, if one has further expectation of cloth, as long as the life span of the first cloth allows. The Commentary recommends that if the second cloth is of poorer quality than the first, one may determine it as requisite cloth; if the second cloth is of better quality, one may determine the first cloth as requisite cloth and start a new 30-day countdown from the day of receiving the second cloth.
Effort
Days are counted by dawns. If, by the 30th dawnrise after one receives the original cloth, one has not determined it, placed it under shared ownership, or abandoned it, it is to be forfeited and the offense confessed. The Sub-commentary adds that if at any time after the first ten days have elapsed one abandons any expectation for further cloth, one must determine the original cloth, place it under shared ownership, or abandon it before the following dawnrise. Otherwise, one commits an offense under NP 1.
As noted under NP 1, [Mv.V.13.13](./Section0041.html#Mv.V.13.13) states that if one is informed of a gift of robe-cloth, the counting of the time span does not begin until the cloth has reached one’s hand.
As in the preceding rules, perception is not a mitigating factor. If one miscounts the dawns or thinks the cloth is properly determined, etc., when in fact it isn’t, there is an offense all the same. The Vibhaṅga states that, with regard to a robe that has not been kept beyond the allowable time, if one perceives it to have been kept beyond that time or if one is in doubt about it, the penalty is a dukkaṭa. As under the preceding rules, this penalty apparently applies to using the robe.
As for out-of-season cloth received shortly before the beginning of the robe season, the countdown would begin when it is received, would be suspended throughout the robe season, and would resume at the robe season’s end.
However, as with many of the above issues, this situation rarely comes up in practice, as it is a simple enough matter to determine the original cloth as requisite cloth or place it under shared ownership until one has enough cloth to make one’s requisite, remove it from those arrangements to make the requisite, and so avoid having to worry about this rule at all.
Forfeiture & confession
The procedures for forfeiture, confession, and return of the cloth are the same as under the preceding rules. For the Pali formula to use in forfeiting the cloth, see [Appendix VI](./Section0028.html#appendixVI). Once the cloth is received in return and is now enough for the requisite one has in mind, it is classed as extra robe-cloth under NP 1. If not, the 30-day countdown starts all over again.
Non-offenses
There is no offense if, before the 30 days are up, the original cloth is lost, destroyed, burnt, or snatched away; if someone else takes it on trust; or if the owner determines it for use, places it under shared ownership, or abandons it. And, as stated above, this rule does not apply when the robe-season privileges are in effect.
Summary: Keeping out-of-season robe-cloth for more than 30 days when it is not enough to make a requisite and one has expectation for more—except when the robe-season privileges are in effect—is a nissaggiya pācittiya offense.
\ \ \*
4
Should any bhikkhu have a used robe washed, dyed, or beaten by a bhikkhunī unrelated to him, it is to be forfeited and confessed.
The origin story here is one of the classics of Vinaya literature, although it is hard to say which is more memorable—the dry, matter-of-fact style with which the narrative relates the improbable events, or the reaction of the bhikkhunīs when they hear what has happened.
“Now at that time Ven. Udāyin’s wife had gone forth among the bhikkhunīs. She often went to his place, and he often went to hers. One day he went to her place for a meal-donation. Dressing (§) early in the morning, taking his bowl and (outer) robe, he went to her and on arrival sat down in front of her, exposing his penis. She sat down in front of him, exposing her vagina. He, impassioned, stared at her vagina. Semen was released from his penis (§). He said to her, ‘Go and fetch some water, sister. I’ll wash my lower robe.’
“‘Give it here, master. I’ll wash it.’
“Then she took some of the semen (§) in her mouth and inserted some of it in her vagina. With that, she conceived a child.
“The bhikkhunīs said, ‘This bhikkhunī has been practicing unchastity. She’s pregnant.’
“‘It’s not that I’ve been practicing unchastity.’ And she told them what had happened. The bhikkhunīs criticized and complained and spread it about, ‘How can this Master Udāyin get a bhikkhunī to wash his used robe?’”
There are three factors for an offense here: object, effort, and result.
Object:
A used robe. Robe, here, according to the Commentary, means any robe that has been dyed and properly marked (see [Pc 58](./Section0021.html#Pc58)). This is its way of saying that the robe must be a finished cloth requisite of the type suitable for wearing, but need not be determined as one of one’s basic three robes. In other words, it could also be as yet undetermined, or a spare robe determined as a requisite cloth.
Used, according to the Vibhaṅga, means worn around the body at least once. According to the Commentary, it can mean used in other ways—e.g., rolled up as a pillow or worn draped over the shoulder or head—as well.
The Vibhaṅga adds that sitting cloths and bed sheets are grounds for a dukkaṭa; other requisites, grounds for no offense.
Effort
One tells an unrelated bhikkhunī to wash, dye, or beat the robe.
A bhikkhunī, here, means one who has received the double ordination, first in the Bhikkhunī Saṅgha and secondly in the Bhikkhu Saṅgha (see [BMC2, Chapter 23](./Section0065.html#BMC2chapter23)). A bhikkhunī who has received only her first ordination is grounds for a dukkaṭa. Female trainees and female novices are not grounds for an offense.
Unrelated is explained by the Vibhaṅga as meaning unrelated back through seven grandfathers, either on the father’s or the mother’s side. The Commentary explains further that this means seven generations counted back starting from one’s grandfather. Thus all descendants of one’s great-great-great-great-great-great-great-grandfathers are counted as one’s relatives. In-laws, however, are not. This definition of unrelated applies wherever the Vibhaṅga mentions the word. At the time of the Buddha, perceived ties of kinship extended more widely than they do today, and a bhikkhu at present would be well advised to regard as his relatives only those blood-relations with whom ties of kinship are actually felt.
Perception is not an issue here. If a bhikkhu perceives a bhikkhunī as related when in fact she isn’t, he is subject to the full penalty all the same. If he perceives a related bhikkhunī as unrelated, or if he is in doubt as to whether she is related, he incurs a dukkaṭa in getting her to wash, etc., a robe.
Telling, according to the Commentary, includes gesturing as well. Thus if a bhikkhunī is washing her robes, and a bhikkhu throws his used robe down next to her, that would fulfill the factor here.
Result
The bhikkhunī washes, dyes, or beats the robe as requested.
Offenses
A bhikkhu who tells an unrelated bhikkhunī to wash, etc., his used robe incurs a dukkaṭa in the telling. (For every effort she then makes toward washing it, the Commentary adds, he incurs an extra dukkaṭa, but there is no basis for this opinion in the Vibhaṅga.) If he tells her to wash it, then when the robe is washed it is to be forfeited and the nissaggiya pācittiya offense confessed. If he tells her to dye it, then when the robe is dyed it is to be forfeited and the nissaggiya pācittiya offense confessed. If he tells her to beat it, then when she has beaten the robe at least once with a stick or her hand, it is to be forfeited and the nissaggiya pācittiya offense confessed. The bhikkhu incurs a nissaggiya pācittiya and a dukkaṭa if he gets her to do two of the three actions mentioned in the rule—e.g., washing and dyeing the robe; and a nissaggiya pācittiya and two dukkaṭas if he gets her to do all three.
The procedures for forfeiture, confession, and return of the robe are the same as under the preceding rules. Once the robe is returned, it counts as an extra robe-cloth under NP 1.
Non-offenses
There is no offense if the bhikkhunī is related to the bhikkhu, if an unrelated bhikkhunī washes the robe unasked, if an unrelated bhikkhunī helps a related bhikkhunī wash it, if the robe has not yet been used, if one gets an unrelated bhikkhunī to wash another type of requisite (aside from a robe, a sitting cloth, or a bed sheet), or if one gets an unrelated female trainee or female novice to wash a used robe.
The Commentary discusses the case of a bhikkhu who gives a used robe to a female trainee to wash: She takes it, becomes ordained as a bhikkhunī in the meantime, and then washes it. The verdict: He incurs the full penalty under this rule. For the fun of it, the Commentary then discusses the case of a bhikkhu who gives his used robe to a lay man to wash. The lay man undergoes a spontaneous sex change and becomes a bhikkhunī before washing the robe, and again, the bhikkhu incurs the full penalty. What lesson is intended here is hard to say.
Summary: Getting an unrelated bhikkhunī to wash, dye, or beat a robe that has been used at least once is a nissaggiya pācittiya offense.
\ \ \*
5
Should any bhikkhu accept robe-cloth from the hand of a bhikkhunī unrelated to him—except in exchange—it is to be forfeited and confessed.
The reason behind this rule is expressed by a single sentence in the origin story: ‘It’s hard for us women to come by things.’ In the original version of the rule, the Buddha made no allowance for accepting robe-cloth in exchange, but this point was later added at the request of the bhikkhunīs. They had tried to exchange robe-cloth with the bhikkhus, who refused because of the rule as it stood at that time, and this upset the bhikkhunīs. As the Commentary explains, their poverty was what made them complain, ‘If the Masters are not on familiar terms with us even to this extent, how are we supposed to keep going?’
The offense under this rule is composed of two factors: object and effort.
Object:
Any piece of robe-cloth of the six suitable kinds, measuring at least four by eight fingerbreadths. Other requisites are not grounds for an offense.
Effort
The bhikkhu receives such cloth from an unrelated bhikkhunī and does not give her anything in exchange.
Unrelated bhikkhunī here is defined in the same terms as under the preceding rule: a bhikkhunī who has received the double ordination and is not related to the bhikkhu back through their great x 7 grandfathers. A bhikkhunī who has received only her first ordination, from the bhikkhunīs, is grounds for a dukkaṭa. Female trainees and female novices are not grounds for an offense.
Perception here is not a mitigating factor: According to the Vibhaṅga, even if a bhikkhu perceives an unrelated bhikkhunī as related he is still subject to the penalty. If he perceives a related bhikkhunī as unrelated or if he is in doubt about whether she is related, he incurs a dukkaṭa in receiving a robe from her.
The Commentary adds that even if one does not know that the robe comes from a bhikkhunī—as when many donors place robes in a pile for a bhikkhu, and one of the donors, unbeknownst to him, is a bhikkhunī—this factor is fulfilled all the same. If a bhikkhunī gives robe-cloth to someone else to present to a bhikkhu, though, the bhikkhu commits no offense in accepting it.
The Commentary also states that receiving need not be hand-to-hand. If a bhikkhunī simply places robe-cloth near a bhikkhu as her way of giving it to him and he accepts it as given, this factor is fulfilled.
As for the item given in exchange for the cloth, the Vibhaṅga states that it can be worth much more than the cloth or much less. Buddhaghosa quotes the Mahā Paccarī, one of the ancient commentaries, as saying that even if, in return for the cloth, the bhikkhu gives the bhikkhunī a piece of yellow myrobalan—a medicinal fruit, one of the cheapest things imaginable in India—he escapes the penalty under this rule.
Offenses
In making an effort to receive robe-cloth from an unrelated bhikkhunī without offering anything in return, a bhikkhu incurs a dukkaṭa. Once he has obtained the cloth, he must forfeit it and confess the nissaggiya pācittiya offense. The procedures for forfeiture, confession, and return of the cloth are the same as under the preceding rules.
Non-offenses
There is no offense:
if the bhikkhunī is related;
if the bhikkhunī is not related but the bhikkhu gives her something in exchange;
if the bhikkhu takes the cloth on trust;
if he borrows the cloth;
if he accepts a non-cloth requisite; or
if he accepts robe-cloth from a female trainee or female novice.
Exchange
The origin story to this rule is where the Buddha explicitly gives permission for bhikkhus, bhikkhunīs, female trainees, male novices, and female novices to trade items with one another. [NP 20](./Section0014.html#NP20) forbids bhikkhus from trading items with lay people and people ordained in other religions.
Summary: Accepting robe-cloth from an unrelated bhikkhunī without giving her anything in exchange is a nissaggiya pācittiya offense.
\ \ \*
6
Should any bhikkhu ask for robe-cloth from a man or woman householder unrelated to him, except at the proper occasion, it is to be forfeited and confessed. Here the proper occasion is this: The bhikkhu’s robe has been snatched away or destroyed. This is the proper occasion here.
“Now at that time Ven. Upananda the Sakyan was accomplished in giving Dhamma talks. A certain financier’s son went to him and, on arrival, bowed down to him and sat to one side. As he was sitting there, Ven. Upananda the Sakyan instructed, urged, roused, and encouraged him with a Dhamma talk. Then the financier’s son… said to him, ‘Tell me, venerable sir, what I would be capable of giving you that you need: Robe-cloth? Almsfood? Lodgings? Medicines for the sick?’
“‘If you want to give me something, friend, then give me one of those cloths (you are wearing).’
“‘I’m the son of a good family, venerable sir. How can I go about wearing one cloth? Wait till I go home. After going home, I will send you one of these cloths or a more beautiful one.’
“A second time… A third time, Ven. Upananda said to him, ‘If you want to give me something, friend, then give me one of those cloths.’
“‘I’m the son of a good family, venerable sir. How can I go about wearing one cloth? Wait till I go home. After going home, I will send you one of these cloths or a more beautiful one.’
“‘What’s with this offer without wanting to give, friend, in that having made the offer you don’t give?’
“So the financier’s son, being pressured by Ven. Upananda, left having given him one cloth. People seeing him said to him, ‘Why, master, are you going around wearing only one cloth?’
“He told them what had happened. So the people criticized and complained and spread it about, ‘They’re arrogant, these Sakyan-son monks, and malcontent. It’s no simple matter to make a reasonable offer to them. How can they, after being made a reasonable offer by the financier’s son, take his cloth?’”
The factors for an offense here are three.
1) Object: a piece of any of the six suitable kinds of robe-cloth, measuring at least four by eight fingerbreadths.
2) Effort: One asks, except at the proper time, for such cloth from a lay person who is not related back through one’s great x 7 grandfathers. Perception is not a mitigating factor here. Even if one perceives the lay person to be related when in fact he/she isn’t, that fulfills the factor here.
3) Result: One obtains the cloth.
The proper occasions
Snatched away, according to the Vibhaṅga, refers to a robe snatched by anyone at all, even a king. This would cover cases not only where the robe has been stolen but also where it has been confiscated by a government official. Destroyed means burnt, carried away by water, eaten by such things as rats or termites, or worn out by use—although the Sub-commentary adds here that worn out by use means worn to the point where the robe can no longer offer proper covering for the body.
If all of a bhikkhu’s robes are snatched away or destroyed, the Vibhaṅga says that he is not to “come” naked, which apparently means that he should not approach other people while naked. To do so incurs a dukkaṭa (as opposed to the thullaccaya [Mv.VIII.28.1](./Section0028.html#Mv.VIII.28.1) imposes on a bhikkhu who chooses to go about naked when he has robes to wear). If a bhikkhu with no cloth to cover his body happens on an unoccupied Saṅgha residence, he is permitted to take any cloth he finds there—robes, sheets, mats, pillow cases, or whatever—to wear as a makeshift robe as long as he has the intention of returning it when he obtains a proper robe. Otherwise he should make a covering of grass and leaves.
The Commentary adds several points here:
1) If one picks leaves or cuts grass to make a covering for oneself under these circumstances, one is exempt from the penalty for damaging plant life under [Pc 11](./Section0017.html#Pc11). In other words, the allowance here takes precedence over the prohibition in that rule, rather than vice versa. (The Vibhaṅga does not clearly state which takes precedence over which.) Other bhikkhus are also exempt from that penalty if they pick grass and leaves to help make a covering for a bhikkhu whose robes have been snatched away or destroyed.
2) If, after getting one’s makeshift robe from an unoccupied Saṅgha residence, one has to go a great distance before getting a proper robe, one may leave the makeshift robe with any convenient monastery as property of the Saṅgha.
3) If, under these circumstances, one asks lay people for cloth and receives cloth of a type or color that normally is not allowed, there is no offense in wearing it until one can obtain suitable cloth.
4) If one’s robes have been taken on trust by another bhikkhu or novice, they count as “snatched away” for the purpose of this and the following rule.
The following rule adds extra stipulations on how much cloth one may ask for in circumstances like this.
Offenses
The act of asking for robe-cloth from an unrelated lay person not at the proper time entails a dukkaṭa. The cloth, once obtained, is to be forfeited and the nissaggiya pācittiya offense confessed. The procedures for forfeiture, confession, and return of the cloth are the same as under the preceding rules. The Pali formula to use in forfeiting the cloth is given in [Appendix VI](./Section0028.html#appendixVI).
If one perceives a related householder as unrelated, or if one is in doubt about whether he/she is related, one incurs a dukkaṭa in asking for and receiving a robe from him/her.
Non-offenses
According to the Vibhaṅga, there is no offense if—
one asks at the right time,
one asks from one’s relations,
one asks from people who have invited one to ask for cloth,
one obtains cloth through one’s own resources, or
one asks for the sake of another. (None of the texts state specifically whether another here includes only other bhikkhus, or bhikkhunīs and novices as well. We will assume that all co-religionists are covered under this exemption.)
The Commentary explains that this last point means two things: One may ask for cloth for the sake of another (co-religionist) (1) from one’s own relations or from people who have invited one to ask for cloth or (2) from the relatives of that (co-religionist) or from people who have invited him/her to ask. This point applies for all rules where one is allowed to ask for the sake of another.
On the surface, it would seem that the allowance to ask for another should mean that one should also be allowed to ask from anyone for the sake of another bhikkhu whose robe has been snatched away or destroyed. However, the origin story to the following rule shows why this is not so: Lay donors can be extremely generous when they learn that a bhikkhu’s robes have been snatched away or destroyed, and it is important to place limits on how much cloth can be requested, and on how many bhikkhus can do the requesting, so as not to take unfair advantage of that generosity.
As for obtaining cloth through one’s own resources, the Sub-commentary notes that one should be careful to do it in such a way as not to commit an offense under [NP 20](./Section0014.html#NP20). Again, this applies to all rules that contain this exemption.
Summary: Asking for and receiving robe-cloth from an unrelated lay person, except when one’s robes have been snatched away or destroyed, is a nissaggiya pācittiya offense.
\ \ \*
7
If that unrelated man or woman householder presents the bhikkhu with many robes (pieces of robe-cloth), he is to accept at most (enough for) an upper and a lower robe. If he accepts more than that, it is to be forfeited and confessed.
This rule is a continuation of the preceding one, dealing with the protocol in asking for robe-cloth when one’s robes have been snatched away or destroyed. The origin story is as follows:
“At that time some group-of-six bhikkhus, having approached bhikkhus whose robes had been snatched away, said, ‘Friends, the Blessed One has allowed those whose robes are snatched away or destroyed to ask an unrelated man or woman householder for robe-cloth. Ask for robe-cloth, friends.’
“‘Never mind, friends. We have already received (enough) robe-cloth.’
“‘We are asking for your sake, friends’ (§—reading āyasmantānaṁ atthāya with the Thai and Sri Lankan editions of the Canon).
“‘Then go ahead and ask.’
“So the group-of-six bhikkhus, having approached unrelated householders, said, ‘Bhikkhus have come whose robes were snatched away. Give robe-cloth for them.’ And they asked for a lot of robe-cloth. Then a certain man, sitting in a meeting hall, said to another man, ’Master, bhikkhus have come whose robes were snatched away. I gave robe-cloth for them.’
“And he said, ‘I gave, too.’
“And another said, ‘I gave, too.’
“So they criticized and complained and spread it about: ‘How can these Sakyan-son monks, not knowing moderation, ask for a lot of robe-cloth? Will the Sakyan-son monks deal in the cloth business? Or will they set up a shop?’”
Protocol
The Vibhaṅga states that when a bhikkhu’s robes are snatched away or destroyed, the amount of cloth he may ask for and accept from an unrelated householder who has not previously invited him to ask for cloth depends on the number of robes snatched away or destroyed. If three, he may ask for and accept only enough for two. If two, he may ask for and accept only enough for one. If one, he should not ask for any cloth at all.
The K/Commentary mentions that these stipulations apply only when robes from one’s determined set of three are snatched away or destroyed. The way it phrases this restriction suggests that if one’s spare robes are snatched away or destroyed, one has no right to ask for robe-cloth at all. The Sub-commentary, though, interprets this restriction not as a restriction but as an allowance opening a loophole so that if one loses any of one’s spare robes, one may ask for as much cloth as one likes. It then accuses the K/Commentary of contradicting the Canon and Commentary, and of ignoring the purpose of the rule, which is to teach moderation and fewness of wants. Its conclusion: The protocol applies when any of one’s robes are snatched away or destroyed—whether undetermined, determined as the basic set of three, or determined as requisite cloths.
If, however, we recall that originally each bhikkhu had only one set of three robes, and that the allowance in the preceding rule was to relieve the hardship of having little or nothing to wear, we can agree with the K/Commentary’s interpretation: that the allowance in the preceding rule applies only when robes from one’s basic set of three are snatched away or destroyed, and that this is the case we are concerned with here. If one’s spare robes get snatched away or destroyed, one may not make use of the allowance to ask for robe-cloth at all.
The Vibhaṅga states further that if the householder presents one with a great deal of cloth, with the invitation to take as much as one likes, one should take only enough cloth to make the allowable number of robes. The non-offense clauses add that one may take excess cloth if one promises to return the excess when one has finished making one’s robe(s). And if the donor tells one to keep the excess, one may do so without penalty.
The factors of the offense for overstepping the bounds of this protocol are three.
1) Object: any piece of the six kinds of suitable robe-cloth, measuring at least four by eight fingerbreadths.
2) Effort: One asks for more than the allowable amount of robe-cloth from an unrelated householder who has not previously made an invitation to ask. Perception is not a mitigating factor here: Even if one perceives the householder to be related when in fact he/she isn’t—or feels that he/she would be happy to offer the excess cloth even though he/she has given no previous invitation to ask—this factor is fulfilled all the same.
3) Result: One obtains the excess robe-cloth.
The offenses here are as follows: a dukkaṭa for asking in the way that fulfills the factor of effort, and a nissaggiya pācittiya when all three factors are fulfilled. The procedures to follow in forfeiture, confession, and receiving the cloth in return are the same as under the preceding rules. For the Pali formula to use in forfeiting the cloth, see [Appendix VI](./Section0028.html#appendixVI).
If one perceives a related householder as unrelated, or if one is in doubt about whether he/she is related, one incurs a dukkaṭa in asking for and obtaining excess robe-cloth from him/her.
Non-offenses
In addition to the two cases mentioned above—one takes excess cloth with the promise to return the excess when one has finished one’s robe(s), and the donors tell one to keep the excess—there is no offense in taking excess cloth if:
the donors are offering cloth for reasons other than that one’s robes were snatched away or destroyed (e.g., they are impressed with one’s learning, says the Commentary);
one is asking from one’s relatives or people who have previously made one an invitation to ask for cloth (before one’s robes were snatched away or destroyed, says the Sub-commentary);
or one obtains the cloth by means of one’s own resources.
The Commentary calls attention to the fact that the Vibhaṅga’s non-offense clauses make no mention of asking for the sake of another. It then draws the conclusion, based on the fact that the rule was formulated in response to bhikkhus’ requesting excess cloth for the sake of others, that in the circumstances mentioned in this rule, one may not ask for excess cloth for the sake of others. The Sub-commentary takes issue with this, and presents three arguments for its case, with the third argument being the most compelling: If asking for another’s sake is not allowable here, it should also not be allowable in the preceding rule. However, the Sub-commentary misses the point of the origin story, which is that lay donors can be especially generous when they learn that a bhikkhu’s robes have been snatched away or lost. If all other bhikkhus could request cloth for his sake, there is no limit to the amount of cloth they could request, and this would be an unfair exploitation of the donors’ generosity.
Summary: Asking for and receiving excess robe-cloth from unrelated lay people when one’s robes have been snatched away or destroyed is a nissaggiya pācittiya offense.
\ \ \*
8
In case a man or woman householder unrelated (to the bhikkhu) prepares a robe fund for the sake of a bhikkhu, thinking, “Having purchased a robe with this robe fund, I will clothe the bhikkhu named so-and-so with a robe”: If the bhikkhu, not previously invited, approaching (the householder) should make a stipulation with regard to the robe, saying, “It would be good indeed, sir, if you clothed me (with a robe), having purchased a robe of such-and-such a sort with this robe fund”—out of a desire for something fine—it is to be forfeited and confessed.
“Now at that time a certain householder said to his wife, ‘I will clothe Master Upananda with a robe.’ A certain bhikkhu on his alms round overheard the man saying this. So he went to Ven. Upananda the Sakyan and on arrival said to him, ‘You have a lot of merit, friend Upananda. In that place over there a certain man said to his wife, ‘I will clothe Master Upananda with a robe.’
“‘He’s my supporter, my friend.’
“So Ven. Upananda the Sakyan went to the man and on arrival said to him, ‘My friend, is it true that you want to clothe me with a robe?’
“‘Now, wasn’t I just thinking, “I will clothe Master Upananda with a robe”?’
“‘Well, if you want to clothe me with a robe, clothe me with a robe like this. What use is it to me to be clothed with a robe I won’t use?’
“So the man criticized and complained and spread it about, ‘They’re arrogant, these Sakyan-son monks, and malcontent. It’s no simple matter to clothe them with a robe. How can this Master Upananda, without having first been invited by me, make a stipulation concerning a robe?’”
The situation covered by this rule is this: An unrelated lay person has put aside resources for purchasing robe-cloth to present to a bhikkhu but without yet asking the bhikkhu what kind of cloth he wants. The factors for the offense here are four.
Object
The Vibhaṅga here does not specify a minimum size for the cloth, nor does it list the types of thread from which the cloth has to be made. Because the primary focus of its discussion is on the price of the cloth, the size and type of cloth are apparently irrelevant. Any piece of cloth of any type, no matter how small, would fulfill this factor.
The texts also do not mention whether funds for other requisites would be grounds for a lesser offense or no offense under this rule, although given the spirit of the rule it would be a wise policy for a bhikkhu not to make stipulations, when uninvited, to a lay person who has prepared funds for purchasing any kind of requisite for his use.
Intention
One wants to get a better piece of cloth than the lay person is planning to buy. The Vibhaṅga defines better as “better quality, higher price.” The Commentary, for some reason, limits better to “higher price,” but there is nothing in the Vibhaṅga to support this.
Effort
One requests the unrelated lay person to improve the cloth. Example statements in the Vibhaṅga are: “Make it long, make it broad, make it tightly-woven, make it soft.” As in the previous rules, perception is not a factor here. Even if one perceives the lay person to be related when he/she actually isn’t, that would fulfill the factor here all the same.
Result
One obtains the long, broad, etc., cloth that the householder bought in line with one’s request. The way the Vibhaṅga defines this factor suggests that whether the lay person actually spends more on the cloth than he/she actually planned is not an issue here.
Offenses
When the donor buys the cloth in line with one’s request, the penalty is a dukkaṭa. When one obtains the cloth it is to be forfeited and the nissaggiya pācittiya offense confessed. The procedures to follow in forfeiture, confession, and receiving the cloth in return are the same as in the preceding rules. For the Pali formula to use in forfeiting the cloth, see [Appendix VI](./Section0028.html#appendixVI).
If one perceives a related householder as unrelated, or if one is in doubt about whether he/she is related, one incurs a dukkaṭa in making a request and receiving cloth from him/her in the manner forbidden by this rule.
Non-offenses
According to the Vibhaṅga, there is no offense if:
the lay person is a relative or has invited one to ask for cloth;
one asks for another’s sake;
one is getting the robe with one’s own resources; or
one gets the lay person, who originally wanted to purchase a more expensive piece of cloth, to purchase a less expensive one.
The Commentary adds that there is also no offense if one’s request to improve the cloth results in a cloth equal in price to the cloth the lay person had in mind—but, as noted above, the Vibhaṅga does not support the Commentary here.
The Vibhaṅga’s Word-commentary to this rule also indicates that there would be no offense if, after one has asked for a better piece of cloth, the lay person ignores the request, buying and presenting the cloth he/she originally had in mind.
Summary: When a lay person who is not a relative is planning to get robe-cloth for one but has yet to ask one what kind of cloth one wants: Receiving the cloth after making a request that would improve it is a nissaggiya pācittiya offense.
\ \ \*
9
In case two householders—men or women— unrelated (to the bhikkhu) prepare separate robe funds for the sake of a bhikkhu, thinking, “Having purchased separate robes with these separate robe funds of ours, we will clothe the bhikkhu named so-and-so with robes”: If the bhikkhu, not previously invited, approaching (them) should make a stipulation with regard to the robe, saying, “It would be good indeed, sirs, if you clothed me (with a robe), having purchased a robe of such-and-such a sort with these separate robe funds, the two (funds) together for one (robe)”—out of a desire for something fine—it is to be forfeited and confessed.
Explanations for this training rule are the same as those for the preceding one, the only difference being in the factor of effort: One asks the two donors to put their funds together to purchase one piece of cloth. The question of whether the request would raise the amount of money they would have to spend is not an issue here. A piece of cloth equal in price to the original two pieces would still fulfill the factor of effort here. However, the Vibhaṅga says that if one gets the donors to provide a piece of cloth less expensive than they had originally planned, there is no offense.
The Commentary adds that, under the conditions mentioned here, making requests of three or more people to combine their robe funds into one is also covered by this rule.
Summary: When two or more lay people who are not one’s relatives are planning to get separate pieces of robe-cloth for one but have yet to ask one what kind of cloth one wants: Receiving cloth from them after asking them to pool their funds to get one piece of cloth—out of a desire for something fine—is a nissaggiya pācittiya offense.
\ \ \*
10
In case a king, a royal official, a brahman, or a householder sends a robe fund for the sake of a bhikkhu via a messenger, (saying,) “Having purchased a robe with this robe fund, clothe the bhikkhu named so-and-so with a robe”: If the messenger, approaching the bhikkhu, should say, “This is a robe fund being delivered for the sake of the venerable one. May the venerable one accept this robe fund,” then the bhikkhu is to tell the messenger: “We do not accept robe funds, my friend. We accept robes (robe-cloth) as are proper according to season.”
If the messenger should say to the bhikkhu, “Does the venerable one have a steward?” then, bhikkhus, if the bhikkhu desires a robe, he may indicate a steward—either a monastery attendant or a lay follower—(saying,) “That, my friend, is the bhikkhus’ steward.”
If the messenger, having instructed the steward and going to the bhikkhu, should say, “I have instructed the steward the venerable one indicated. May the venerable one go (to him) and he will clothe you with a robe in season,” then the bhikkhu, desiring a robe and approaching the steward, may prompt and remind him two or three times, “I have need of a robe.” Should (the steward) produce the robe after being prompted and reminded two or three times, that is good.
If he should not produce the robe, (the bhikkhu) should stand in silence four times, five times, six times at most for that purpose. Should (the steward) produce the robe after (the bhikkhu) has stood in silence for that purpose four, five, six times at most, that is good.
If he should not produce the robe (at that point), should he then produce the robe after (the bhikkhu) has endeavored further than that, it is to be forfeited and confessed.
If he should not produce (the robe), then the bhikkhu himself should go to the place from which the robe fund was brought, or a messenger should be sent (to say), “The robe fund that you, venerable sirs, sent for the sake of the bhikkhu has given no benefit to the bhikkhu at all. May you be united with what is yours. May what is yours not be lost.” This is the proper course here.
The protocols surrounding gifts of money and their proper use are quite complex—much more complex than even this long training rule would indicate—and require a detailed explanation. What follows is an attempt to make them clear. If it seems long and involved, remember that the purpose of the protocols is to free bhikkhus from the even more bothersome worries and complexities that come with participating in buying, selling, and monetary matters in general.
This rule is one of four nissaggiya pācittiya rules covering a bhikkhu’s proper relationship to money. The others are [NP 18](./Section0014.html#NP18), [19](./Section0014.html#NP19), & [20](./Section0014.html#NP20). Although they sometimes seem to be splitting hairs, they focus precisely on the two acts involving money that are most burdensome to a sensitive mind: In the act of accepting money, or having it accepted in one’s name, one is accepting all the cares, responsibilities, and dangers that come with its ownership; in the act of arranging a trade, one is accepting responsibility for the fairness of the trade—that it undervalues neither the generosity of the person who donated the money nor the goods or services of the person receiving the money in exchange.
Thus to protect a bhikkhu from these mental burdens, this rule sets up protocols so that lay donors may have the convenience of dedicating amounts of money and other valuables to provide for a bhikkhu’s needs, and so that the bhikkhu may benefit from such gifts without having to bear the responsibilities of ownership or of having to arrange fair trades.
If a bhikkhu follows the protocols recommended here, the money placed with the steward still belongs to the donor, and the responsibility for making a fair trade lies with the steward. The bhikkhu’s only responsibility is to inform the original donor if, after a reasonable number of promptings, the steward entrusted with the money does not provide him with the requisite the donor had in mind, and then let the donor look after the matter if he/she cares to.
Although the rule itself mentions only funds for robe-cloth intended for individual bhikkhus, we should note from the outset that the Commentary uses the Great Standards to extend it to cover all funds—composed of money, jewels, commodities, land, livestock, or other valuables that bhikkhus are not allowed to accept—not only for an individual bhikkhu’s robe-cloth but also for any type of requisite. And it further extrapolates from this rule to cover funds for Communities and groups of bhikkhus, as well as impersonal funds for such things as buildings and—in the modern world—the printing of books.
The money rules & allowances: an overview
NP 18 forbids a bhikkhu from accepting gifts of money, from getting others to accept them, and from consenting to gifts of money meant for him being placed down next to him. [NP 19](./Section0014.html#NP19) & [20](./Section0014.html#NP20) forbid him from engaging in buying, selling, or bartering, regardless of whether it involves money. [Mv.VI.34.21](./Section0043.html#Mv.VI.34.21), however, contains the following allowance, called the Meṇḍaka Allowance, after the donor who inspired it:
“There are people of conviction and confidence, bhikkhus, who place gold in the hand of stewards, (saying,) ‘With this, give the master whatever is allowable.’ I allow you, bhikkhus, to accept whatever is allowable coming from that. But in no way at all do I say that gold or silver is to be accepted or sought for.”
Even given this allowance, though, it is important that the bhikkhu, in his dealings with the steward, does not say or do anything that would transgress [NP 18-20](./Section0014.html#NP18). At the same time, it is important that he not abuse the steward’s services. Otherwise the steward will never want to perform this service for bhikkhus again. This is the main point of the origin story to this rule:
“Then Ven. Upananda the Sakyan approached the lay follower (his steward) and on arrival said, ‘My friend, I have need of a robe.’
“‘Wait for the rest of today, venerable sir. Today there is a town meeting, and the town has made an agreement that whoever comes late is fined 50 (kahāpaṇas).’
“‘Friend, give me the robe this very day!’ (Saying this,) he grabbed hold of him by the belt. So the lay follower, being pressured by Ven. Upananda the Sakyan, purchased a robe for him and came late. The people said to the lay follower, ‘Why, master, have you come late? You’ve lost 50!’ So he told them what had happened. They criticized and complained and spread it about, ‘They’re arrogant, these Sakyan-son monks, and malcontent. It’s no simple matter even to render them a service. How can Upananda the Sakyan, being told by a layman, “Wait for the rest of today, venerable sir,” not wait?’”
Stewards
According to the Commentary, there are three types of steward with whom money might be placed: (1) indicated by the bhikkhu, (2) indicated by the donor or his/her messenger, and (3) indicated by neither.
1) Indicated by the bhikkhu covers two sorts of cases:
a) The donor asks the bhikkhu who his steward is, and the bhikkhu points him/her out, as mentioned in the training rule.
b) The donor, knowing that a particular lay person has volunteered to act as a steward or is on familiar terms with the bhikkhu, gives the money to the lay person and informs the bhikkhu—or has someone else inform him—either before or after the fact.
2) Indicated by the donor covers cases where the donor chooses one of his/her own friends or employees to act as the steward for that particular gift, and informs the bhikkhu—or has someone else inform him—either before or after the fact.
3) Indicated by neither covers two separate cases:
a) The donor asks the bhikkhu who his steward is, and the bhikkhu says that he has none. Another person happens to overhear the conversation and volunteers—in the presence of both—to act as the steward for that particular gift.
b) The donor gives the gift to the lay person who is normally the bhikkhu’s steward or is on familiar terms with the bhikkhu, but does not inform the bhikkhu or have him informed of the fact.
According to the Commentary, this training rule covers only cases of the first sort—the steward is indicated by the bhikkhu—but not of the other two. This, however, is a controversial point. To understand the controversy, though, we will first have to discuss the protocols for accepting funds and obtaining requisites from stewards as set forth in this rule. Then we will revisit this issue in the section, “range of application,” below.
The protocol in accepting
The Vibhaṅga gives the following guidelines:
If donors offer money, they are to be told that bhikkhus do not accept money.
If they ask who the bhikkhus’ steward is, one may point out any lay person at all, saying, “That’s the steward.” One is not to say, “Give it to him/her,” or “He/she will keep (the money),” for that would be to accept ownership and responsibility for the money, and thus be an infraction of the rule against accepting money. Also, one is not to say, “He/she will buy (the requisite),” or “He/she will get it in exchange,” for even this much would be an infraction of the rule against trading.
The K/Commentary adds that if the donor asks, “To whom should I give this?” or “Who will keep this?” one is not to point anyone out. It doesn’t say what one may do in such a situation, although a wise policy would be to broach the topic of stewards so that the donor will ask a question to which one may give an allowable answer.
The protocol in obtaining requisites from the fund
The rule states that a bhikkhu may give his steward up to three verbal and six silent promptings in order to get a requisite from the fund. The Vibhaṅga works out an arrangement whereby he may exchange two silent promptings for one verbal prompting, which leads the Commentary to lay out the following scheme: A bhikkhu may make up to—
6 verbal & 0 silent promptings
5 verbal & 2 silent promptings
4 verbal & 4 silent promptings
3 verbal & 6 silent promptings
2 verbal & 8 silent promptings
1 verbal & 10 silent promptings, or
0 verbal & 12 silent promptings.
The Vibhaṅga adds that when giving a verbal prompting, one may say only, “I need a robe (or whatever the requisite may be),” or statements to that effect. One may not say, “Give me a robe,” “Get me a robe,” “Buy me a robe,” or “Get a robe in exchange for me,” for these last two statements in particular would incur a penalty under [NP 20](./Section0014.html#NP20).
According to the Commentary, promptings are counted not by the number of visits to the steward but by the number of times the bhikkhu states his need/desire for the requisite. Thus if, in one visit, he states his need for a robe three times, that counts as three verbal promptings.
As for silent promptings—or “standings”—the bhikkhu merely stands in the steward’s presence. If the steward asks, “What have you come for?’ the bhikkhu should say, “You know,” or “You should know.”
The Vibhaṅga also notes that during the period when a bhikkhu has yet to receive the requisite, he should not accept an invitation to sit down at the steward’s place, to accept alms, or to teach Dhamma there. If he does any of these things, that cuts back his number of allowed standings. The Sub-commentary raises the question as to what precisely this means: When a bhikkhu does several of these actions in one visit, does each action take away one standing, or is just that one visit struck from his allowed number of standings? After a long discussion, it sides with the decision in the Three Gaṇṭhipadas: Each time a bhikkhu sits, receives alms, or teaches one sentence of Dhamma (see [Pc 7](./Section0016.html#Pc7)) under these circumstances, even in one visit, he cuts down his allowed number of standings by one.
The Vibhaṅga states that if one obtains the requisite after making the allowable number of verbal and silent promptings—or fewer—there is no offense. If one does not obtain the requisite after the maximum allowable number of promptings, one should inform the original donor and then leave the issue up to him/her. If the donor, being informed, then makes arrangements to get the requisite for the bhikkhu, there is no offense.
The Commentary adds that not to inform the donor here entails a dukkaṭa on the grounds that one is neglecting a duty. This statement, however, should be qualified to apply only in cases where one knows which donor gave which fund to which steward. If a single fund administered by a steward contains donations from many donors, one is unlikely to be in a position to inform all the donors if the steward does not respond to one’s request. In such cases one should be duty bound to inform only one of the donors.
Range of application
As mentioned above, the Commentary maintains that this rule applies only in the first of the three cases listed there: The steward has been indicated by the bhikkhu. As for the second case—the steward has been indicated by the donor—it maintains that one may make any number of promptings without committing an offense. If the article is not forthcoming, one may get another lay person to handle the issue (although one should be careful to phrase one’s request to this lay person so as not to transgress the rules against accepting money or trading). If the article is not forthcoming, one is not duty-bound to inform the original donor. Although there is nothing in the Canon to contradict any of these points, there is nothing to confirm them, either. Simple etiquette would suggest that one not harass the steward excessively and that one should inform the donor if the article is not forthcoming, so as to let the donor decide what, if anything, should be done. Thus it would make sense, using the Great Standards, to apply this rule even in cases of this sort.
As for the third case, in which the steward is not indicated either by the donor or by a bhikkhu, the Commentary says that, as far as that fund is concerned, the steward should be treated as a person who is not related and has not made an invitation to ask. In other words, one may not make any requests of the steward at all unless he/she happens to invite one to make a request. The Commentary gives no reasons for these positions, and they are hard to infer. In the first of the two instances under this sub-category—the volunteer temporary steward—the Commentary depicts the steward as volunteering in the presence of both the bhikkhu and the donor, and this would seem to place the steward under some obligation to both. Thus the bhikkhu would seem to have the right to make a reasonable number of promptings; and the donor, the right to know if the article is not forthcoming.
As for the second of the two instances—the donor gives the gift to the bhikkhu’s normal steward but does not inform the bhikkhu or have him informed—the steward can either inform the bhikkhu or not. If he/she chooses to inform the bhikkhu, then according to the Commentary the bhikkhu would have the right to make any number of promptings, as the steward now counts as having given an invitation. Thus the steward would not be protected by the protocol under this rule, which doesn’t seem proper. If, however, the steward chooses not to inform the bhikkhu, there are two further possibilities: Either the bhikkhu never learns of the arrangement, in which case the issue is moot; or else he learns through a third party, in which case the bhikkhu would seem to have the right to ask the steward if the third party’s report is true. If the steward lies and says No, then that’s the steward’s kamma. If the steward truthfully reports Yes, then it would seem reasonable to apply the protocol under this rule.
Thus, given these considerations, there would seem to be little reason to limit the protocols under this rule to cases where the steward is indicated by the bhikkhu, and stronger reason, using the Great Standards, to apply the protocols to all three cases: where the steward is indicated by the bhikkhu, by the donor, or by neither.
As we will note under [NP 18](./Section0014.html#NP18), a bank can serve as a steward for a bhikkhu. However, because of the protocols surrounding a bhikkhu’s relationship to his steward, he may not sign a check—which is an order to pay money to the order of the payee—even if the check draws on an account set up in his name. Nor may he present the bank with a withdrawal statement to remove money from the account.
The factors of an offense
The factors of an offense here are three.
1) Object: a fund for the purchase of robe-cloth left with a steward. As noted above, the Commentary extends this factor to cover any fund set aside for one’s own requisites.
2) Effort: One makes an excessive number of promptings.
3) Result: One obtains the requested requisite.
There is a dukkaṭa for the excessive promptings. The requisite, when obtained, is to be forfeited and the nissaggiya pācittiya offense confessed. The procedures for forfeiture, confession, and receiving the requisite in return are the same as under the preceding rules. For the Pali formula to use in forfeiture, see [Appendix VI](./Section0028.html#appendixVI).
If one has not given excessive promptings but perceives that one has, or is in doubt about the matter, the penalty for accepting the requisite is a dukkaṭa.
Other funds
The Commentary includes a long discussion of how this rule applies to funds other than those intended for an individual bhikkhu’s requisites, such as funds for Community or group requisites, building funds, etc. (book-printing funds would come under here). Some have suggested that because this rule applies only to funds for one’s own use, the Commentary has erred in discussing other funds in this context, and that they should instead be discussed under [Pc 84](./Section0024.html#Pc84), the rule dealing with valuables that lay people have left behind in the monastery. However, because the Canon does not discuss such funds at all, they must be treated under the Great Standards, which means that they must be treated in line with the rule(s) that cover situations bearing the greatest similarity to them. The protocols under [Pc 84](./Section0024.html#Pc84) deal with the issue of how to return lost articles safely to an owner who did not intend them as a gift and still claims ownership of them; the protocols here deal with how to get the money to a steward and how to get the steward to provide what is needed with the money. Because these latter issues are the ones most relevant to the proper management of these other funds, there seems every reason to agree with the Commentary’s discussing them under this rule.
A few of the more relevant cases in the Commentary’s discussion:
Monetary funds for Saṅgha or group requisites
If a donor comes with a gift of money and says that it is being offered to the Saṅgha or to a group for whatever purpose, one should follow the protocol for accepting as under this rule. For instance, if the donor says, “I’m giving this to the Saṅgha for you to make use of the four requisites,” one may not accept it in any of the three ways covered by [NP 18](./Section0014.html#NP18). (For details, see the discussion under that rule.) There is also a dukkaṭa, says the Sub-commentary, for every bhikkhu who uses any article bought with the money.
If, however, the donor says, “The money will be with your steward” or “with my people” or “with me: All you need to do is make use of the four requisites,” then there is no offense in accepting and making use of this arrangement. The etiquette to follow in obtaining requisites depends on who the money is left with: If the bhikkhus’ steward, follow the protocol under this rule; if the donor’s workers, one may make any number of promptings; if the donor, follow the guidelines under [Pc 47](./Section0020.html#Pc47). (In the first two cases here, the Commentary is following its decision, discussed above, that the protocols to be followed with the donor’s workers are different from those to be followed with one’s own steward. In light of our above discussion, however, both cases would come under the protocols stipulated by this rule.)
Non-monetary funds for Saṅgha or group requisites
[DN 2](/suttas/DN/DN02.html) contains a list of other articles that a bhikkhu consummate in virtue does not receive. The Commentary—perhaps in light of the general rule against misbehavior ([Cv.V.36](./Section0049.html#Cv.V.36))—imposes a dukkaṭa on the act of receiving any of them. These articles include uncooked grain and raw meat; women and girls; male and female slaves; goats and sheep, fowl and pigs, elephants, cattle, steeds, and mares; fields and property. Extrapolating from the Vibhaṅga to [Pc 84](./Section0024.html#Pc84), which forbids bhikkhus from picking up pearls and precious stones except in certain circumstances—and which does not allow such items to be taken on trust, borrowed, or picked up with the perception that they have been thrown away—the Commentary also assigns a dukkaṭa for receiving these items. These two lists of objects will surface again under [NP 18](./Section0014.html#NP18) & [19](./Section0014.html#NP19); for ease of reference, we will call them dukkaṭa objects.
If a donor wants to make a gift of such things to the Saṅgha, the Commentary says, the question of whether they may be accepted depends on how the donation is phrased. If the donor says, “I’m giving this to the Saṅgha,” for whatever the purpose, the gift may not be accepted. As in the previous case, there is a dukkaṭa for whoever receives it and also for whoever uses an article obtained from proceeds coming from the gift.
If the donor says, “This is for the purpose of the four requisites,” or “Accept whatever is allowable coming from this,” without mentioning the Saṅgha or any bhikkhu as custodians or recipients of the unallowable object, the arrangement may be accepted without penalty. For instance, if a donor wants to present a herd of cows, saying, “These are for the purpose of milk products for the Saṅgha,” this is an acceptable arrangement: Cows are not acceptable for bhikkhus to receive, whereas milk products are. But if the donor says, “I am giving these cows to the Saṅgha to provide milk products for the Saṅgha,” then it is not.
If a donor proposes to give pigs, chickens, or other animals used only for their meat to the Saṅgha, the bhikkhus are to say, “We can’t accept gifts like this, but we will be glad to set them free for you.”
If, after setting up an allowable arrangement, the donor asks the bhikkhus to appoint a steward to look after it, they may. If not, they are to do nothing about the arrangement at all.
How the proceeds from such arrangements are to be used depends on what they are: If money, and a bhikkhu tells the steward, “Use this money to buy such-and-such,” no bhikkhu may make use of what is bought with the money. If the proceeds are commodities, such as unhusked rice, and a bhikkhu tells the steward, “Use this rice to trade for such-and-such,” the bhikkhu who makes the order may not use whatever is obtained from the trade, but other bhikkhus may without incurring a penalty. If the proceeds are allowable goods, such as fruit, and a bhikkhu tells the steward, “Use this fruit to trade for such-and-such,” the Commentary says that any bhikkhu may use what is obtained from the trade.
Apparently the Commentary views this arrangement as acceptable because of its interpretation that [NP 20](./Section0014.html#NP20) applies only to cases where the bhikkhu tells a steward to conduct a trade with the bhikkhu’s own personal resources. However, as we will note in the discussion of that rule, this interpretation seems mistaken, and the rule applies to any funds for which a bhikkhu assumes responsibility. This means that, in the context of this last arrangement, the bhikkhu who orders the steward would have to forfeit the proceeds of the trade, but all bhikkhus could use them after the forfeiture.
Impersonal funds
If a donor comes with money or any other unallowable gift and says, “I’m giving this to the Saṅgha for the meditation hall (or any other impersonal purpose, such as a book fund or a general building fund),” the gift may not be accepted. But if the donor says, “I am giving this to (or for) the meditation hall,” without mentioning any individual bhikkhu, group of bhikkhus, or the Saṅgha as custodians or recipients of the gift, then this arrangement is not to be refused, and the monastery steward is to be informed of what the donor said.
In the context of [NP 18](./Section0014.html#NP18), this means that the bhikkhus are not to take the money directly, or to get anyone else to take it, but may consent to its being placed next to them, as it is not meant as a gift for them.
Many monasteries have donation boxes, and there is a question as to whether the bhikkhus may tell a donor in this case to put the money in the box. The Commentary to [NP 18](./Section0014.html#NP18) states that when a donation has been placed down for a bhikkhu—over his protests—and someone aside from the donor offers to put it in a safe place, the bhikkhu may point out a safe place to put the money but may not tell him/her to put it there, as that would imply that he is accepting responsibility for the money. If this stipulation also applies to funds given “to a building,” then the bhikkhus should be able to say to the donor of such funds, “The donation box is over there,” but not, “Put it there.”
After the donor has placed the money, the bhikkhus may then tell the monastery steward what the donor said, but are not to tell him/her to take the money, as this would violate [NP 18](./Section0014.html#NP18). They are also to follow the protocol in this rule when telling the steward of their need for building materials, wages for the workers, and other necessities that come up in the course of the building’s construction or maintenance.
The Commentary mentions two other acceptable arrangements:
1) The donor places the money with the workmen and tells the bhikkhus that their only responsibility is to check on whether the work is being done poorly or well.
2) The donor says that the money will be kept with him/her or with his/her employees and that the bhikkhus’ only responsibility is to inform them of whom the money is to be given to.
This second arrangement, however, essentially makes the bhikkhu responsible for arranging a trade: He is telling the donor or his/her employees who deserves to be paid in exchange for goods or labor, which again would be a violation of [NP 20](./Section0014.html#NP20). At most, a bhikkhu may tell the donor, etc., how much work the laborers did or what construction materials were delivered to the site, and leave it up to the donor, etc., to figure out who deserves to be paid how much. Also, if a checking account is set up for impersonal purposes such as the construction and upkeep of monastery buildings, a bhikkhu may not sign a check drawing on the account.
The Commentary says that because the steward in arrangements (1) and (2) is indicated by the donor, the bhikkhus may make as many requests as they like—i.e., in the first case, telling the workers what to do; in the second case, telling the steward or donor who is to be paid—but as we noted above, there seems no reason to follow the Commentary in making this allowance.
In addition to building funds, it would seem that any charitable fund for schools, hospitals, etc.—such as some wealthy monasteries have—would come under the category of impersonal funds, as long as the fund is not for requisites for the Saṅgha, either as a group or individually.
Fund management
The Commentary states that if a Community fund has been set up for a particular requisite, it should as a general principle be used to buy only that requisite. If, however, the Community has enough of one kind of lahubhaṇḍa—goods that may be shared among the bhikkhus—but not enough of another, the fund for the first kind may be diverted to the second kind by an apalokana-kamma: a Community transaction in which the motion is phrased in one’s own words and unanimously accepted.
Funds for lodgings and furniture, though, because they are garubhaṇḍa (heavy or expensive goods that may not be shared among the bhikkhus), may not be diverted to lahubhaṇḍa at all. But if Saṅgha furniture is going unused and is in danger of deteriorating before it gets used, the Community may arrange to have it exchanged—using the procedure allowed under [NP 20](./Section0014.html#NP20), and making sure not to let it go for less than its full value—and then use the proceeds for lahubhaṇḍa. The Commentary adds that proceeds of this sort should be used “frugally, just enough to keep life going.” In other words, if the Community is not in straitened circumstances, the proceeds should not be used for lahubhaṇḍa at all, and instead should be reserved for garubhaṇḍa as the need arises. If, however, the Community is suffering from such catastrophes as disease or famine, they may allow the proceeds to be used for lahubhaṇḍa as needed, but not to splurge on anything excessive.
Non-offenses
There is no offense if:
the steward gives the item after the bhikkhu has given the allowable number of promptings or less; or
if the donors(s) give the item after they have been informed that the steward has not given the item after having been prompted the allowable number of times.
Note that the Vibhaṅga’s non-offense clauses do not make an exemption for relatives or people who have invited one to ask. This means that even when the donor(s) or the steward or both are related to the bhikkhu or have given him an invitation to ask, he must follow the protocol under this rule.
Summary: When a fund for one’s individual use has been set up with a steward, obtaining an article from the fund as a result of having prompted the steward more than the allowable number of times is a nissaggiya pācittiya offense.