Làm hại cây sống phải sám hối.
"Có một vị bhikkhu (tỳ-kheo) ở Āḷavī đang đốn một cây. Vị devatā (thiên thần) sống trong cây ấy liền nói với vị tỳ-kheo: 'Bạch ngài, xin đừng chặt nhà của tôi để xây nhà cho ngài.' Vị tỳ-kheo không đếm xỉa đến lời bà, cứ tiếp tục chặt và làm bị thương cánh tay của đứa con devatā. Devatā nghĩ: 'Nếu ta giết chết vị tỳ-kheo này ngay tại đây thì sao?' Nhưng một ý nghĩ khác lại nảy sinh: 'Không, làm vậy không phải lẽ… Chi bằng ta đến thưa với Đức Thế Tôn về điều đã xảy ra.' Vậy là bà đến gặp Đức Thế Tôn và… thưa lại sự việc.
"'Lành thay, này devatā, lành thay. Thật tốt là ngươi không giết vị tỳ-kheo ấy. Nếu hôm nay ngươi giết ông ta, ngươi sẽ tạo ra rất nhiều bất thiện nghiệp cho mình. Thôi đi đi, này devatā. Kia có một cây trống. Hãy vào đó mà ở.' (Ở đây Chú Giải bổ sung rằng cây ấy nằm trong Kỳ Viên, là một bước tiến rõ rệt cho vị devatā. Bà có chỗ ngồi hàng đầu để lắng nghe giáo pháp của Đức Phật thâu đêm; không như các chư thiên thấp hơn, bà không bị đẩy ra tận vùng ngoại vi của thiên hà khi các nhóm lớn chư thiên cao cấp đến gặp Đức Phật; và mỗi khi Tứ Đại Thiên Vương đến hầu Đức Phật, các ngài luôn ghé thăm bà trước khi rời đi. Tuy nhiên:)
"Người ta chỉ trích, phàn nàn và lan truyền rằng: 'Sao các vị sa-môn Thích tử lại có thể tự mình chặt cây và bảo người khác chặt? Họ đang gây hại cho sinh vật một căn.'"
Đây là một tội phạm với bốn nhân tố: đối tượng, nỗ lực, nhận thức, và ý định.
Đối tượng
Thuật ngữ Pali cho "cây sống" — bhūtagāma — theo nghĩa đen là "ngôi nhà của một chúng sinh." Phụ Chú Giải giải thích rằng các devatā có thể cư trú trong các cây đứng yên một chỗ nhờ vào một sự khao khát mà tâm thức của họ bám vào (vào cuối những kiếp sống trước) giống như trong một giấc mộng. Giới luật này được biện minh, theo Phụ Chú Giải, vì phong thái của một người tu hành không cho phép gây hại đến nơi cư ngụ của các chúng sinh. Tuy nhiên, như câu chuyện nguồn gốc cho thấy, lý do đầu tiên giới luật này được chế định là để ngăn các tỳ-kheo xúc phạm những người theo tín ngưỡng vật linh, vốn xem thực vật là sinh vật một căn có giác quan xúc chạm.
Vibhaṅga định nghĩa bhūtagāma là thực vật phát sinh từ một trong năm nguồn:
1) từ củ, thân rễ, hoặc củ ngầm (ví dụ: khoai tây, hoa tulip),
2) từ cành giâm hoặc cọc (ví dụ: liễu, cây hoa hồng),
3) từ đốt (ví dụ: mía, tre),
4) từ nhánh bò (ví dụ: dâu tây, cỏ mồi), hoặc
5) từ hạt giống (ví dụ: ngô, đậu).
Theo Chú Giải, toàn bộ cây hoặc một phần cây đã bị tách khỏi chỗ ban đầu không còn được xếp vào loại bhūtagāma nữa. Nếu nó có khả năng mọc lại khi được đặt vào đất, thì được xếp vào loại bījagāma, nghĩa là "ngôi nhà của hạt giống." Khi một hạt giống được gieo, nó được xem là bījagāma cho đến khi chồi non đầu tiên chuyển sang màu xanh tươi và lá đầu tiên xuất hiện. Sau đó nó được xem là bhūtagāma.
Phù hợp với tiêu chí này, Chú Giải xếp vào loại bījagāma các dạng thực vật bậc thấp hơn như nấm còn có bào tử, địa y không có lá, và mốc, vì chúng không trải qua giai đoạn xanh tươi, không có lá rõ ràng, nhưng vẫn có khả năng tái sinh. Nấm đã mất bào tử, và các phần của bất kỳ cây nào đã bị tách khỏi chỗ cũ và sẽ không mọc được, hoặc đã bị nấu chín hoặc bị hỏng đến mức không còn khả năng sinh trưởng, đều không phải là căn cứ để phạm tội theo giới luật này.
Chú Giải còn khẳng định thêm rằng việc làm hại bījagāma phạm dukkaṭa (đột-kiết-la). Vibhaṅga không đề cập điểm này, nhưng Chú Giải dẫn ra một đoạn văn xuất hiện trong nhiều kinh (như [DN 2](https://www.dhammatalks.org/suttas/DN/DN02.html)) nói rằng một tỳ-kheo viên mãn trong giới hạnh tránh không gây hại cả bhūtagāma lẫn bījagāma. Khi làm như vậy, Chú Giải đang vận dụng giới luật bao quát của Cullavagga, quy định dukkaṭa cho tất cả các thói quen xấu ([Cv.V.36](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0049.html#Cv.V.36)). Mahāvagga và Cullavagga tiếp tục biện minh một phần cho khẳng định của Chú Giải qua hai đoạn, liên quan đến các tỳ-kheo ăn trái cây, mà chúng ta sẽ thảo luận dưới đây. Các tu sĩ Kỳ Na giáo cũng tuân thủ những giới hạnh tương tự, gợi ý rằng cả Phật giáo lẫn Kỳ Na giáo đều tiếp nhận điểm này từ các nhà tu hành Ấn Độ cổ đại có trước cả hai tôn giáo.
Hơn nữa, theo Chú Giải, có những loại thực vật nhất định không thuộc bhūtagāma lẫn bījagāma theo giới luật này, và việc làm hại chúng không phạm tội. Để biện minh cho điểm này, Chú Giải trích dẫn một đoạn từ [Cv.VIII.1.3](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.1.2-5): "Nếu một bức tường được quét hoàng thổ… (hoặc) một nền nhà đã hoàn thiện bị mốc (§), hãy thấm ướt một mảnh vải, vắt khô, và lau sạch." Chú Giải mở rộng hướng dẫn của Thánh điển ở đây để bao gồm không chỉ mốc trên tường mà còn các dạng thực vật bậc thấp khác — như tảo bên trong bình nước, nấm trên bàn chải đánh răng, và mốc trên thức ăn — những thứ sẽ bị xem là bẩn thỉu nếu được để tiếp tục phát triển.
Nỗ lực
Theo Vibhaṅga, thuật ngữ "làm hại" bao gồm các hành động như chặt, bẻ, và nấu, cũng như bảo người khác thực hiện các hành động này. Chú Giải định nghĩa "làm hại" là "xử lý một cây theo ý mình bằng cách chặt, bẻ, v.v." Mặc dù từ chỉ việc xử lý — paribhuñjati — theo nghĩa đen có nghĩa là "sử dụng," nhưng các ví dụ minh họa của Chú Giải về những gì nằm trong phạm vi này còn bao gồm cả những việc như lắc cành cây để lá khô rụng xuống nhằm quét chúng lên. Vì vậy, Chú Giải nói, làm hại còn bao gồm việc hái hoa hay lá, nhổ cây, khắc chữ ký lên thân cây, v.v. Vì không có ngoại lệ nào cho việc làm những điều đó với ý định "tốt bụng" đối với cây, việc tỉa cây cũng nằm trong phạm vi này. Xét đến tính chất bao quát của định nghĩa trong Chú Giải, việc sử dụng thuốc diệt cỏ để giết thực vật cũng nằm trong phạm vi "làm hại."
Chú Giải bổ sung rằng các thực vật mọc trong nước, như lục bình, có rễ không kéo dài xuống đất bên dưới mặt nước, lấy nước làm nền tảng. Việc lấy chúng ra khỏi nước là làm hại chúng, mặc dù không phạm tội khi di chuyển chúng trong nước. Để chuyển chúng từ vùng nước này sang vùng nước khác mà không bị phạt, người ta có thể lấy chúng cùng với một ít nước mà chúng đang sống rồi đặt cùng với nước đó vào vùng nước mới.
Cũng vậy, Chú Giải nói, các thực vật như tầm gửi, phong lan, và dây leo mọc trên cây lấy cây làm nền tảng. Việc tách chúng khỏi cây là làm hại chúng và do đó phạm pācittiya (ba-dật-đề).
Nhận thức
Nếu một người làm hại cây sống (§) mà nhận thức nhầm đó là vật khác — chẳng hạn, là cây chết — thì không phạm tội. Nếu một người làm hại cây trong khi còn hoài nghi về việc nó là sống hay chết, thì bất kể thực tế ra sao, tội là dukkaṭa.
Ý định
Ý định được thảo luận chi tiết dưới phần không phạm tội, bên dưới.
Làm cho trái cây trở thành hợp lệ
Vì hạt giống trái cây là bījagāma, câu hỏi đặt ra là các tỳ-kheo nên ăn trái cây như thế nào. Chú Giải về giới luật này thảo luận chi tiết hai đoạn văn, một đoạn trong Mahāvagga (VI.21) và một đoạn trong Cullavagga (V.5.2), liên quan đến chính vấn đề này. Đoạn trong Cullavagga ghi: "Này các tỳ-kheo, Ta cho phép các ông thọ dụng trái cây đã được làm cho hợp lệ đối với các tỳ-kheo theo một trong năm cách: nếu bị hư bởi lửa, bởi dao, bởi móng tay, nếu không có hạt giống, và thứ năm là nếu các hạt giống đã được lấy ra." Đoạn trong Mahāvagga ghi: "Lúc ấy có rất nhiều trái cây ở Sāvatthī, nhưng không có ai để làm chúng hợp lệ…. (Đức Phật nói,) 'Ta cho phép thọ dụng trái cây không có hạt giống hoặc trái cây đã lấy hạt ra mà (dù) chưa được làm hợp lệ.'"
Trước hết, tóm tắt phần thảo luận của các chú giải về trái cây không hạt và trái cây đã lấy hạt ra: Theo Chú Giải về Mahāvagga, trái cây không hạt bao gồm trái cây có hạt còn quá non để nảy mầm. Còn về trái cây đã lấy hạt ra, Phụ Chú Giải nêu rõ: "Trái cây, như xoài hoặc mít, mà có thể ăn sau khi đã lấy hạt ra và tách chúng hoàn toàn (khỏi phần thịt)."
Đôi khi có câu hỏi đặt ra là liệu các tỳ-kheo có thể tự lấy hạt ra trước khi ăn loại trái cây này không, hay một người chưa thọ giới phải lấy hạt ra trước. Xét đến bối cảnh của đoạn văn trong Mahāvagga và cách diễn đạt trong lời giải thích của Phụ Chú Giải, dường như rõ ràng rằng chính các tỳ-kheo có thể lấy hạt ra trước hoặc trong khi ăn trái cây. Như Chú Giải lưu ý, cả hai loại trái cây này đều hợp lệ tự thân, và không cần phải qua thủ tục nào khác để làm chúng hợp lệ.
Tuy nhiên, các loại trái cây khác, như những loại có nhiều hạt (như cà chua và mâm xôi) hoặc những loại mà hạt khó lấy ra nguyên vẹn (như nho), phải bị làm hư bởi lửa, dao, hoặc móng tay trước khi một tỳ-kheo có thể ăn chúng. Mô tả của Chú Giải về cách thực hiện điều này cho thấy việc làm hư chỉ cần mang tính tượng trưng: Một người chưa thọ giới kéo một vật nóng hoặc dao qua vỏ trái cây, hoặc dùng móng tay chọc vào, nói "hợp lệ" (kappiyaṁ) trong khi thực hiện hoặc ngay sau đó. Phụ Chú Giải lưu ý rằng từ "hợp lệ" có thể được nói bằng bất kỳ ngôn ngữ nào.
Nếu một chùm trái cây, như nho, được mang đến cho một tỳ-kheo, vị ấy nên nói: "Hãy làm cho chúng hợp lệ" (Kappiyaṁ karohi), hoặc với người cúng dường hoặc với bất kỳ người chưa thọ giới nào biết cách làm. Người chưa thọ giới chỉ cần làm cho một quả nho hợp lệ theo các thủ tục nêu trên để toàn bộ chùm được xem là hợp lệ, mặc dù người ấy không nên lấy quả nho ra khỏi chùm trong khi thực hiện.
Phụ Chú Giải cho rằng nghi thức làm trái cây hợp lệ phải luôn được thực hiện trước mặt một tỳ-kheo, nhưng Chú Giải chỉ đề cập nhân tố này trong mối liên hệ với trường hợp cuối — làm cả chùm trái cây hợp lệ bằng cách chỉ "làm hư" một quả — chứ không phải trong mô tả cơ bản về cách thực hiện thủ tục.
Trong các Tăng đoàn theo Phụ Chú Giải, tập tục như sau: Khi một thí chủ mang nho, cà chua, hoặc trái cây tương tự đến cho một tỳ-kheo, vị tỳ-kheo nói: "Kappiyaṁ karohi (Hãy làm cho chúng hợp lệ)." Thí chủ làm hư trái cây theo một trong ba cách được quy định và nói: "Kappiyaṁ bhante (Bạch ngài, chúng đã hợp lệ rồi ạ)," trong khi thực hiện, rồi dâng trái cây cho tỳ-kheo.
Trong các Tăng đoàn không theo Phụ Chú Giải, thí chủ có thể thực hiện hành động làm hư trái cây trước. Nếu vết hư rõ ràng, một tỳ-kheo có thể nhận và thọ dụng trái cây mà không cần hỏi. Nếu không rõ ràng, vị ấy nên hỏi xem chúng đã được làm hư chưa. Nếu câu trả lời là Có, vị ấy có thể nhận và thọ dụng. Nếu là Không, chúng phải được làm hư trước mặt vị ấy.
Dù vậy, ngay cả trong loại Tăng đoàn thứ hai này, hành động làm cả chùm trái cây hợp lệ bằng cách chỉ làm hư một quả phải được thực hiện trước mặt một tỳ-kheo. Và cần lưu ý một lần nữa rằng trái cây không hạt hoặc trái cây có thể tách hạt hoàn toàn khỏi thịt quả đều hợp lệ tự thân, và không cần phải qua bất kỳ thủ tục nào trước khi một tỳ-kheo có thể nhận và ăn.
Hai đoạn văn trong Mahāvagga và Cullavagga mà chúng ta vừa thảo luận chỉ đề cập cụ thể đến trái cây, nhưng Chú Giải suy rộng ra để nói rằng các điều kiện tương tự áp dụng cho các dạng bījagāma khác, như mía và giá đỗ.
Các trường hợp không phạm tội
Vibhaṅga nêu rằng không phạm tội đối với tỳ-kheo chặt một cây sống —
không biết — ví dụ, tưởng nhầm là cây chết,
không để tâm — ví dụ, vô ý kéo cỏ trong khi đang nói chuyện với ai đó, hoặc
không cố ý — ví dụ, vô tình nhổ cỏ trong khi cào lá, hoặc bám vào một cây để leo dốc và vô tình nhổ nó lên.
Ngoài ra, không có hình phạt khi bảo một người chưa thọ giới làm cho một vật hợp lệ; khi xin lá, hoa, v.v. mà không chỉ định cụ thể lá hay hoa nào cần hái; hoặc khi gợi ý một cách gián tiếp rằng, chẳng hạn, cỏ cần cắt ("Nhìn xem cỏ dài chưa kìa") hoặc cây cần tỉa ("Cành này đang vướng") mà không đưa ra lệnh chặt một cách rõ ràng. Nói cách khác, đây là một giới luật khác mà người ta có thể tránh phạm tội bằng cách sử dụng kappiya-vohāra: "nói cho đúng cách."
[Cv.V.32.1](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0049.html#Cv.V.32.1) nêu rằng nếu đám cháy đang tiến đến một trú xứ, người ta có thể đốt lửa phản để ngăn nó. Khi làm như vậy, người ta được miễn trừ bất kỳ hình phạt nào do giới luật này quy định.
Ngoài ra, theo Phụ Chú Giải về [NP 6](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0013.html#NP6), một tỳ-kheo bị cướp mất y và không tìm được vải nào khác để che thân có thể hái cỏ và lá để che thân mà không phạm tội theo giới luật này.
Tóm tắt: Cố ý chặt, đốt, hoặc giết một cây sống là tội pācittiya.
Nói lãng vàng né tránh và gây bế tắc phải sám hối.
Giới luật này liên quan đến cách xử sự của một tỳ-kheo trong một cuộc họp Tăng đoàn (Saṅgha) khi bị chất vấn chính thức về một cáo buộc đối với vị ấy. Các nhân tố để phạm tội đầy đủ ở đây có ba.
1) Ý định: Động cơ của mình là che giấu tội lỗi của mình.
2) Nỗ lực: Người ta tiếp tục tham gia vào việc nói lãng vàng né tránh hoặc gây bế tắc
3) Đối tượng: khi đang bị chất vấn trong Tăng đoàn về một giới luật hay một tội lỗi sau khi Tăng đoàn đã chính thức cáo buộc việc nói lãng vàng né tránh hoặc gây bế tắc đối với mình.
Nỗ lực
Nói lãng vàng né tránh được minh họa trong câu chuyện nguồn gốc như sau:
"Lúc ấy, Tôn giả Channa, sau khi hành xử sai trái và đang bị xét hỏi về tội lỗi ở giữa Tăng đoàn, cứ đi (§) từ chuyện này sang chuyện kia: 'Ai đã phạm tội? Điều gì đã được phạm? Về vấn đề gì mà nó đã được phạm? Nó đã được phạm như thế nào? Quý vị đang nói gì? Tại sao quý vị lại nói vậy?'"
Vibhaṅga, theo sát câu chuyện nguồn gốc, đưa ra các ví dụ về nói lãng vàng né tránh đều ở dạng câu hỏi. Tuy nhiên, Chú Giải lập luận rằng các ví dụ của Vibhaṅga không có nghĩa là mang tính toàn diện, và rằng nói lãng vàng né tránh bao gồm mọi hình thức nói không đúng trọng điểm khi đang bị chất vấn chính thức. Phụ Chú Giải đồng ý và đưa ra một ví dụ thú vị của riêng mình:
"Ông có phạm tội này không?"
"Tôi đã đến Pāṭaliputta."
"Nhưng chúng tôi không hỏi về chuyến đi Pāṭaliputta của ông. Chúng tôi hỏi về một tội lỗi."
"Từ đó tôi đến Rājagaha."
"Thôi, dù là Rājagaha hay Brahmaṇāgaha, ông có phạm tội không?"
"Tôi có được ít thịt heo ở đó."
Còn về gây bế tắc:
"Lại vào một dịp khác, Tôn giả Channa, khi đang bị xét hỏi về một tội lỗi ở giữa Tăng đoàn, (nghĩ rằng,) 'Nếu ta dùng câu hỏi này để né tránh câu hỏi kia, ta sẽ phạm tội,' liền im lặng và gây bế tắc cho Tăng đoàn."
Vì vậy, các văn bản nêu rằng gây bế tắc có nghĩa là giữ im lặng khi đang bị chính thức chất vấn ở giữa Tăng đoàn.
Ý định
Nhân tố này chỉ được thỏa mãn nếu động cơ của mình là che giấu tội lỗi của chính mình. Nếu có các động cơ khác để giữ im lặng, đặt câu hỏi, hoặc nói không đúng trọng điểm khi bị chất vấn, thì không có hình phạt. Ví dụ, không phạm tội đối với một tỳ-kheo, khi đang bị xét hỏi,
đặt câu hỏi hoặc trả lời không đúng trọng điểm vì không hiểu điều đang được nói,
quá bệnh để nói chuyện,
cảm thấy rằng khi nói sẽ tạo ra xung đột hoặc chia rẽ trong Tăng đoàn, hoặc
cảm thấy rằng Tăng đoàn sẽ tiến hành các tăng sự không công bằng hoặc không đúng giới luật.
Đối tượng
Nếu một tỳ-kheo nói lãng vàng né tránh hoặc giữ im lặng vì muốn che giấu tội lỗi của mình, vị ấy phạm dukkaṭa. Nếu Tăng đoàn thấy thích hợp, họ có thể chính thức cáo buộc vị ấy về việc nói lãng vàng né tránh hoặc gây bế tắc nhằm ngăn vị ấy tiếp tục hành vi đó. (Xem [Phụ lục VIII](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0028.html#appendixVIII) về các tuyên bố tăng sự này.) Nếu vị ấy tiếp tục nói lãng vàng né tránh hoặc giữ im lặng, vị ấy phạm pācittiya.
Nhận thức không phải là nhân tố ở đây. Một khi một cáo buộc chính thức về nói lãng vàng né tránh hoặc gây bế tắc đã được đúng đắn đưa ra đối với một tỳ-kheo, và vị ấy tiếp tục nói lãng vàng né tránh hoặc giữ im lặng, vị ấy phạm pācittiya bất kể vị ấy xem cáo buộc đó là đúng đắn hay không. Nếu cáo buộc đã được đưa ra không đúng đắn, thì bất kể vị ấy nhận thức cáo buộc đó là không đúng đắn, đúng đắn, hay còn nghi ngờ, các tội phạm hoặc không phạm tội được phân bổ như thể tăng sự đưa ra cáo buộc chưa xảy ra. Điều này bao gồm hai tình huống. Trong tình huống đầu, tỳ-kheo thực sự xứng đáng bị cáo buộc, nhưng tăng sự không được thực hiện đúng theo thủ tục chính thức. Trong trường hợp này, nếu tỳ-kheo tiếp tục né tránh hoặc giữ im lặng vì muốn che giấu tội lỗi, vị ấy phạm thêm một dukkaṭa. Trong tình huống thứ hai, tỳ-kheo không xứng đáng bị cáo buộc — chẳng hạn, vị ấy đặt câu hỏi hoặc giữ im lặng vì một trong những lý do được chấp nhận, nhưng Tăng đoàn đã lạm dụng quyền hạn trong việc đưa ra cáo buộc đối với vị ấy. Trong trường hợp này, nếu vị ấy tiếp tục đặt câu hỏi hoặc giữ im lặng vì các lý do được chấp nhận, vị ấy không phạm tội.
Còn về trường hợp Tăng đoàn đúng đắn đưa ra cáo buộc chính thức về nói lãng vàng né tránh hoặc gây bế tắc đối với một tỳ-kheo, và vị ấy phạm pācittiya vì tiếp tục nói lãng vàng né tránh hoặc giữ im lặng: Nếu vị ấy tiếp tục không hợp tác, vị ấy có thể còn bị chịu một hình phạt nghiêm trọng hơn, một tăng sự quở trách (tajjanīya-kamma) vì là người gây rắc rối và tranh chấp trong Tăng đoàn ([Cv.I.1-8](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0060.html#Cv.I.1.4) — [BMC2, Chương 20](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0060.html#BMC2chapter20)). Nếu cuối cùng vị ấy thừa nhận đã phạm tội mà vị ấy đang bị chất vấn — hoặc một tội lỗi khác chưa được thú nhận trước đó — vị ấy sẽ chịu điều gì đó về cơ bản là tương tự: một hành vi trừng phạt thêm (tassa-pāpiyasikā-kamma) vì không thừa nhận một cáo buộc đúng ngay từ đầu (xem thảo luận dưới các giới luật adhikaraṇa-samatha, [Chương 11](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0027.html#BMC1chapter11)).
Các trường hợp không phạm tội
Nếu một tỳ-kheo trả lời không đúng trọng điểm hoặc giữ im lặng vì bất kỳ lý do được chấp nhận nào, vị ấy không phạm hình phạt ngay cả sau khi tăng sự về nói lãng vàng né tránh hoặc gây bế tắc vì lý do nào đó đã được ban hành đối với vị ấy.
Tóm tắt: Kiên trì trả lời né tránh hoặc giữ im lặng nhằm che giấu tội lỗi của bản thân khi đang bị chất vấn trong một cuộc họp Tăng đoàn — sau khi đã bị cáo buộc chính thức về việc nói lãng vàng né tránh hoặc gây bế tắc — là tội pācittiya.
Chỉ trích hoặc phàn nàn (về một vị chức sự Tăng đoàn) phải sám hối.
Các vị chức sự Tăng đoàn. Trong Cullavagga (VI.11.2-4; VI.21.1-3), Đức Phật ban phép cho một Tăng đoàn tỳ-kheo chỉ định một số vị trong số các thành viên của mình làm chức sự Tăng đoàn để xử lý các công việc như phân phối thức ăn, quyết định ai sẽ ở tại trú xứ nào, lưu giữ danh sách luân phiên quyết định ai sẽ nhận lời mời đến những bữa ăn nào, v.v. Tôn giả Dabba Mallaputta là vị chức sự đầu tiên như vậy và rất phù hợp với công việc này:
"Còn những tỳ-kheo nào đến ban đêm, ngài sẽ nhập hỏa giới cho họ và bằng ánh sáng đó chỉ định trú xứ cho họ — đến mức các tỳ-kheo đến ban đêm cố tình, nghĩ rằng: 'Chúng ta sẽ thấy thần thông kỳ diệu của Tôn giả Dabba Mallaputta.' Đến gặp ngài, họ nói: 'Này hiền giả Dabba, hãy chỉ định trú xứ cho chúng tôi.'
"Tôn giả Dabba Mallaputta hỏi: 'Quý vị muốn ở đâu? Tôi sẽ chỉ định ở đâu?'
"Rồi họ cố tình nêu một nơi xa xôi: 'Này hiền giả Dabba, hãy chỉ định cho chúng tôi một trú xứ trên Núi Linh Thứu. Này hiền giả Dabba, hãy chỉ định cho chúng tôi một trú xứ ở Vách Đá Kẻ Cướp….'
"Vậy là Tôn giả Dabba Mallaputta, nhập hỏa giới cho họ, đi trước với ngón tay phát sáng, trong khi họ theo ngay sau nhờ ánh sáng của ngài." — Cv.IV.4.4
Ngay cả với những khả năng đặc biệt của ngài, vẫn có những tỳ-kheo không hài lòng với các trú xứ và bữa ăn mà ngài chỉ định cho họ — như chúng ta đã thấy ở [Sg 8](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0011.html#Sg8) & [9](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0011.html#Sg9) — và trong câu chuyện nguồn gốc của giới luật này, họ chỉ trích và phàn nàn về ngài.
Các nhân tố cho một tội phạm đầy đủ ở đây là ba: đối tượng, ý định, và nỗ lực — mặc dù Vibhaṅga đưa ý định thành một phần không thể tách rời trong định nghĩa nhân tố nỗ lực.
Đối tượng
Nhân tố này chỉ được thỏa mãn bởi (1) một người đã thọ giới mà (2) đã được ủy quyền hợp lệ làm chức sự Tăng đoàn và (3) không quen hành động vì bốn nguyên nhân thiên vị: tham ái, sân hận, si mê, hoặc sợ hãi. Đối với hai tiểu nhân tố đầu, Vibhaṅga không nêu rõ liệu "người đã thọ giới" có bao gồm các tỳ-kheo-ni ngoài các tỳ-kheo hay không, nhưng Chú Giải xem đó chỉ bao gồm các tỳ-kheo. Vibhaṅga nêu rõ rằng những người sau đây đóng vai trò chức sự Tăng đoàn là căn cứ để phạm dukkaṭa: một người đã thọ giới chưa được ủy quyền chính thức, một người đã thọ giới đã được ủy quyền không đúng cách, và một người chưa thọ giới, bất kể người đó đã được ủy quyền chính thức, ủy quyền không đúng cách, hay chưa được ủy quyền. Đối với tiểu nhân tố thứ ba, bất kỳ ai vốn là căn cứ để phạm pācittiya hoặc dukkaṭa đều không phải là căn cứ để phạm tội nếu người đó hành xử theo cách thiên vị.
Nhận thức không phải là nhân tố ở đây. Vì vậy, nếu vị chức sự thực sự được ủy quyền đúng cách, vị ấy thỏa mãn nhân tố này dù mình nhận thức việc ủy quyền đó là đúng cách, không đúng cách, hay còn nghi ngờ. Nếu vị ấy được ủy quyền không đúng cách, vị ấy là căn cứ để phạm dukkaṭa dù mình nhận thức việc ủy quyền đó là đúng cách, không đúng cách, hay còn nghi ngờ. Nói cách khác, đây là một trường hợp khác mà mô thức được đặt ra ở [Pc 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc4) không được áp dụng.
(Ấn bản PTS của Thánh điển nêu rằng nếu mình nhận thức một sự ủy quyền không đúng cách là không đúng cách, thì không phạm tội, nhưng các ấn bản Thái, Sri Lanka, và Miến Điện của Thánh điển, cùng với ấn bản PTS của K/Chú Giải, đều đồng thuận với cách đọc nêu trên.)
Ý định
Động cơ của mình là làm cho vị ấy mất mặt, mất danh vọng, hoặc cảm thấy xấu hổ.
Nỗ lực
Vibhaṅga định nghĩa chỉ trích là chỉ trích hoặc phàn nàn về một vị chức sự Tăng đoàn với một người đã thọ giới với mong muốn làm cho vị chức sự mất mặt, mất danh vọng, hoặc cảm thấy xấu hổ. Ranh giới giữa nỗ lực và ý định có vẻ mờ nhạt ở đây, vì ý định là một phần của định nghĩa "nỗ lực," nhưng các điều khoản không phạm tội lại cung cấp miễn trừ cho những nhận xét phê bình được thúc đẩy đơn giản bởi mong muốn nói thật.
Chú Giải và Phụ Chú Giải đưa ra mô tả rõ ràng nhất về sự phân biệt giữa chỉ trích và phàn nàn: Chỉ trích có nghĩa là nói phê bình về một người trước mặt một hay nhiều người khác để làm cho họ có cái nhìn thấp về người đó. Phàn nàn có nghĩa là đơn giản bộc lộ những chỉ trích của mình về người đó trong tầm nghe của người khác.
Theo Vibhaṅga, hình phạt cho việc chỉ trích hoặc phàn nàn về một vị chức sự Tăng đoàn là pācittiya nếu người nghe đã thọ giới, và dukkaṭa nếu không (§). Câu hỏi về việc nhận xét của mình được gửi đến ai là không liên quan nếu mình đang chỉ trích hoặc phàn nàn về một vị chức sự Tăng đoàn đã thọ giới chưa được ủy quyền, hoặc một vị chức sự Tăng đoàn chưa thọ giới, dù có được ủy quyền hay không: Hình phạt là dukkaṭa, bất kể.
Các trường hợp không phạm tội
Như đã đề cập ở trên, nếu một vị chức sự Tăng đoàn quen hành xử vì bất kỳ bốn nguyên nhân thiên vị nào — tham ái, sân hận, si mê, hoặc sợ hãi — thì không phạm tội khi chỉ trích hoặc phàn nàn về vị ấy. Ví dụ, nếu vị ấy chỉ định những trú xứ tốt nhất cho một số tỳ-kheo đơn giản vì vị ấy thích họ, cho những thức ăn kém nhất cho một số tỳ-kheo đơn giản vì vị ấy không thích họ, quen gửi nhầm tỳ-kheo đến bữa ăn sai vì vị ấy quá vụng về để xử lý danh sách luân phiên, hoặc dành sự đối đãi tốt nhất cho một số tỳ-kheo vì vị ấy sợ họ hoặc những người ủng hộ họ, thì không phạm tội khi chỉ trích hành xử của vị ấy trước mặt người khác.
Lý do cho phép này là một trong những điều kiện để trở thành chức sự Tăng đoàn là phải vô tư (xem [BMC2, Chương 18](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0058.html#BMC2chapter18)). Vì vậy, bất kỳ khiếu nại nào về sự thiên vị đều tương đương với việc buộc tội rằng tăng sự ủy quyền vị ấy làm chức sự là không hợp lệ, và Tăng đoàn sau đó sẽ có nghĩa vụ điều tra vấn đề.
Tuy nhiên, người ta phải chắc chắn về các sự thật của trường hợp trước khi tận dụng phép này, vì — như đã lưu ý ở trên — nhận thức không phải là yếu tố giảm nhẹ theo giới luật này. Sự thất vọng và tức giận có cách làm màu sắc nhận thức của người ta, khiến hành xử hoàn toàn không có lỗi của người khác trông có vẻ thiên vị và bất công. Nếu mình chỉ trích hoặc phàn nàn về một vị chức sự, hoàn toàn tin tưởng rằng vị ấy đã hành xử thiên vị, mình vẫn phạm tội nếu hóa ra hành xử của vị chức sự thực ra là công bằng. Những cân nhắc tương tự cũng áp dụng cho các khiếu nại hoặc chỉ trích liên quan đến bất kỳ ai, dù đã thọ giới hay chưa.
Chỉ trích một vị chức sự Tăng đoàn ngay trước mặt vị ấy, chỉ nhằm làm tổn thương cảm xúc của vị ấy, sẽ phạm tội theo [Pc 2](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc2), bất kể hành xử của vị ấy trên thực tế có thiên vị hay không.
Công việc của một vị chức sự Tăng đoàn thường là một công việc không được biết ơn. Các thủ tục vị ấy phải tuân theo trong việc phân phối lời mời, v.v., có thể khá phức tạp và, trong các Tăng đoàn lớn, rất tốn thời gian. Vì không có cách nào vị ấy có thể đảm bảo đối xử bình đẳng cho tất cả, nên đôi khi vị ấy có vẻ đang hành xử thiên vị khi thực ra chỉ đang tuân theo thủ tục tiêu chuẩn. Nếu vị ấy không nhận được sự tin tưởng từ các tỳ-kheo đồng tu, thì không có gì khuyến khích vị ấy đảm nhận những nhiệm vụ này ngay từ đầu. Đức Phật ví lợi lộc vật chất như phân bón (xem [AN 5:196](https://www.dhammatalks.org/suttas/AN/AN5_196.html)), và khi phân bón được phân chia thì hiếm khi có lý do gì để phàn nàn về ai nhận được phần ngon nhất.
Tóm tắt: Nếu một vị chức sự Tăng đoàn vô tội về sự thiên vị: Chỉ trích vị ấy trong tầm nghe của một tỳ-kheo khác là tội pācittiya.
Nếu tỳ-kheo nào mang giường, ghế dài, nệm, hoặc ghế đẩu thuộc Tăng đoàn ra để ngoài trời — hoặc bảo người khác mang ra — rồi khi rời đi không cất vào hoặc bảo người khác cất vào, hay đi mà không xin phép, phải sám hối.
Trong bốn tháng mùa mưa, đồ nội thất thuộc Tăng đoàn — khi không sử dụng — phải được cất giữ ở nơi không bị mưa ướt, như kho có mái che hoàn toàn hoặc trú xứ. Vibhaṅga về giới luật này có một điều khoản cho phép, theo đó trong phần còn lại của năm, đồ nội thất cũng có thể được cất giữ trong một mái che hở có lợp nan hoặc cành cây, hoặc dưới một gốc cây nơi chim không thải phân. (Hiện nay, lều bạt có thể nằm trong phạm trù "mái che hở" ở đây.) Tuy nhiên, Chú Giải hàm ý rằng điều khoản cho phép sau này chỉ có hiệu lực ở những vùng có mùa khô rõ rệt; và theo Phụ Chú Giải, ngay cả ở những nơi có mùa khô, nếu một tỳ-kheo thấy cơn mưa trái mùa đang kéo đến, vị ấy không nên để đồ nội thất ở những nơi nửa thoáng như vậy. Và như chúng ta có thể suy ra từ Vibhaṅga về giới luật tiếp theo, ngay cả trong mùa khô, điều khoản cho phép này chỉ áp dụng khi người ta tiếp tục cư trú trong tu viện.
Giới luật này liên quan đến một tỳ-kheo mang đồ nội thất của Tăng đoàn ra ngoài trời rồi bỏ đi mà không xin phép hoặc không cất chúng vào chỗ thích hợp. Các nhân tố để phạm tội đầy đủ có ba.
1) Đối tượng: bất kỳ giường, ghế dài, nệm, hoặc ghế đẩu nào thuộc Tăng đoàn.
2) Nỗ lực: Người ta mang đồ nội thất như vậy ra ngoài trời rồi bỏ đi mà không xin phép, không cất đồ nội thất vào, hoặc không bảo người khác cất vào chỗ thích hợp.
3) Ý định: Người ta đã mang chúng ra không phải để phơi nắng (§).
Đối tượng
Bất kỳ giường, ghế dài, nệm, hoặc ghế đẩu nào thuộc Tăng đoàn đều là căn cứ để phạm pācittiya. Nhận thức về việc vật phẩm đó thuộc Tăng đoàn hay không không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây (xem [Pc 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc4)). Thảm, khăn trải giường, chiếu, tấm lót dưới sàn, khăn lau chân, và ghế gỗ thuộc Tăng đoàn là căn cứ để phạm dukkaṭa, cũng như cả hai loại đồ nội thất — giường v.v., và thảm v.v. — thuộc về một cá nhân khác. Đồ nội thất của bản thân không phải là căn cứ để phạm tội.
Theo Chú Giải, nếu người ta đã thỏa thuận với người khác để coi tài sản của người đó theo sự ủy thác, thì không phạm tội khi để đồ nội thất của người đó ngoài trời. Phụ Chú Giải bổ sung rằng bất kỳ đồ nội thất nào mà thí chủ dâng cúng để Tăng đoàn sử dụng ngoài trời — như ghế đá hoặc ghế bê-tông — cũng không phải là căn cứ để phạm tội.
Theo giới luật này, Chú Giải có một bài luận dài về cách cất giữ đúng đắn các cây chổi. Vì những nhận xét này dựa trên việc áp dụng không đúng Đại Tiêu Chuẩn — cây chổi đã được biết đến vào thời Đức Phật nhưng ngài đã chọn không đưa chúng vào phạm vi giới luật này — nên không có lý do gì để coi chúng là ràng buộc.
Nỗ lực
Vibhaṅga định nghĩa việc "rời xa đồ nội thất" là đi xa hơn một leḍḍupāta — khoảng 18 mét — so với chúng. Vibhaṅga không định nghĩa "xin phép," ngoài việc nêu rõ rằng người ta có thể xin phép một tỳ-kheo, một sa-di, hoặc một người hầu tự viện. Tuy nhiên, điều này đủ để xác lập rằng mặc dù động từ Pali để chỉ việc xin phép, āpucchati, có nguồn gốc từ động từ "hỏi," pucchati, nhưng hành động xin phép không có nghĩa là hỏi xin phép, vì không có gì trong Thánh điển gợi ý rằng một tỳ-kheo phải được sự cho phép của một sa-di hay một người hầu tại gia cho các hành động của mình. Chú Giải mở rộng điểm này, nói rằng xin phép có nghĩa là thông báo cho một tỳ-kheo, một sa-di, hoặc một người hầu tự viện mà người ta cho rằng sẽ chịu trách nhiệm về đồ nội thất. Khác với giới luật tiếp theo, nơi ý định quay trở lại là yếu tố giảm nhẹ, ở đây không phải vậy: Một khi tỳ-kheo đã rời xa đồ nội thất, vị ấy đã hoàn thành nhân tố nỗ lực ở đây dù vị ấy có ý định quay lại ngay.
Trách nhiệm
Một tỳ-kheo chịu trách nhiệm cất giữ đồ nội thất mà vị ấy đã ra lệnh cho người khác mang ra ngoài trời, trừ khi người kia cũng là tỳ-kheo, trong trường hợp đó người kia là người chịu trách nhiệm. Chú Giải nêu rằng nếu một tỳ-kheo trưởng lão yêu cầu một tỳ-kheo đàn em mang ra ngoài trời bất kỳ đồ nội thất nào có thể là căn cứ để phạm tội, thì tỳ-kheo đàn em chịu trách nhiệm về chúng cho đến khi tỳ-kheo trưởng lão ngồi lên, đặt một vật dụng của mình (như y hoặc túi đeo vai) lên chúng, hoặc cho phép tỳ-kheo đàn em rời đi, sau thời điểm đó tỳ-kheo trưởng lão là người chịu trách nhiệm.
Chú Giải cũng nêu rằng nếu có một cuộc họp ngoài trời, các tỳ-kheo chủ nhà chịu trách nhiệm về bất kỳ chỗ ngồi nào được bày ra ngoài trời, cho đến khi các tỳ-kheo khách nhận chỗ của họ, từ thời điểm đó các vị khách chịu trách nhiệm. Nếu có một loạt các bài Pháp thoại, mỗi vị thuyết giảng chịu trách nhiệm về tòa Pháp từ lúc ngồi lên cho đến lúc vị thuyết giảng tiếp theo ngồi vào.
Các trường hợp không phạm tội
Như đã nêu ở trên, không phạm tội nếu người ta bỏ đi sau khi đã mang đồ nội thất thuộc Tăng đoàn hoặc của một cá nhân khác ra phơi nắng với mục đích phơi khô, và nghĩ rằng: "Tôi sẽ cất chúng vào khi tôi quay lại (§)." Ngoài ra, không phạm tội:
nếu người ta bỏ đi sau khi người khác tiếp nhận hoặc chịu trách nhiệm về đồ nội thất mình đã để ngoài trời;
nếu có những ràng buộc đối với đồ nội thất — Chú Giải đề cập một tỳ-kheo trưởng lão bảo mình đứng dậy và tiếp quản chúng, cọp hoặc sư tử nằm xuống trên chúng, hoặc quỷ thần chiếm hữu chúng; hoặc
nếu có những nguy hiểm — theo Chú Giải, có nghĩa là những nguy hiểm đến tính mạng hoặc đến việc tiếp tục sống đời phạm hạnh — không để lại thời gian cất đồ nội thất vào.
Vinaya-mukha, rút ra một nguyên tắc chung từ giới luật này, nói: "Học giới này được chế định để ngăn sự xao nhãng và dạy người ta biết trân trọng đồ vật. Nó nên được coi như một khuôn mẫu chung."
Tóm tắt: Khi đã mang giường, ghế dài, nệm, hoặc ghế đẩu thuộc Tăng đoàn ra ngoài trời: Rời khỏi vùng lân cận của chúng mà không cất vào, sắp xếp để người khác cất vào, hoặc xin phép là tội pācittiya.
Nếu tỳ-kheo nào trải đồ ngủ trong một trú xứ thuộc Tăng đoàn — hoặc bảo người khác trải — rồi khi rời đi không cuộn lại hoặc bảo người khác cuộn lại, hay đi mà không xin phép, phải sám hối.
Ở đây, ba nhân tố để phạm tội đầy đủ vẫn là đối tượng, nỗ lực, và ý định.
Đối tượng
Đồ ngủ ở đây bao gồm nệm, gối, thảm, khăn trải giường, chiếu, vải ngồi, chăn, khăn trải, da thú, thảm nhỏ v.v., nhưng không bao gồm giường hay ghế dài mà chúng được đặt lên. Khác với giới luật trước, câu hỏi về đồ ngủ thuộc về ai không phải là vấn đề để xác định tội phạm theo giới luật này.
Tuy nhiên, nơi chúng được để lại là một vấn đề. Đồ ngủ để lại trong một trú xứ thuộc Tăng đoàn là căn cứ để phạm pācittiya. Đồ ngủ (§) để lại trong một trú xứ thuộc một cá nhân khác là căn cứ để phạm dukkaṭa, cũng như đồ ngủ để lại trong khu vực xung quanh một trú xứ, trong hội trường, một mái che hở, hoặc dưới gốc cây — ba nơi cuối cùng này thuộc Tăng đoàn hoặc thuộc một cá nhân khác.
Giường hoặc ghế dài được lấy ra khỏi chỗ ban đầu và để lại ở bất kỳ nơi nào nêu trên đều là căn cứ để phạm dukkaṭa. Vì giới luật này bao gồm một loại "rời đi" khác với giới luật trước, hình phạt này áp dụng ngay cả trong những giai đoạn khi người ta được phép để những thứ như vậy dưới gốc cây v.v. theo điều khoản cho phép được nêu trong Vibhaṅga về giới luật đó.
Đồ ngủ để lại trong một trú xứ v.v. thuộc về chính mình không phải là căn cứ để phạm tội.
Theo Vibhaṅga, giới luật này áp dụng cụ thể đối với đồ ngủ mà chính mình đã trải ra hoặc đã sắp xếp để người khác trải ra. Vì vậy, nó sẽ không áp dụng trong các trường hợp một tỳ-kheo đến một trú xứ và thấy đồ ngủ đã được trải sẵn ở đó, ngay cả khi được trải ra như một sự thể hiện lòng hiếu khách đối với vị ấy. Chú Giải làm rõ điểm này bằng cách nói rằng nếu một tỳ-kheo khách đang tạm trú trong một trú xứ thuộc Tăng đoàn mà một tỳ-kheo khác đã nhận quyền sử dụng (xem [BMC2, Chương 18](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0058.html#BMC2chapter18)), đồ ngủ là trách nhiệm của tỳ-kheo có quyền sử dụng trú xứ đó, chứ không phải của khách. Tuy nhiên, một khi vị khách đã nhận quyền sử dụng trú xứ, trách nhiệm về đồ ngủ trở thành của vị ấy. Phù hợp với sự làm rõ này, nếu một tu viện có một trú xứ dành riêng để tiếp đón các vị trưởng lão khách, sẽ là chính sách khôn ngoan để một trong các tỳ-kheo cư trú nhận quyền sử dụng nó, nhờ đó các vị trưởng lão khách sẽ không phải chịu trách nhiệm về bất kỳ đồ ngủ nào được trải ra cho các ngài.
Nhận thức về việc trú xứ thuộc Tăng đoàn hay thuộc một cá nhân khác không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây (xem [Pc 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc4)).
Nỗ lực
Phần thảo luận của Chú Giải về việc cất đồ vào cho thấy về cơ bản có nghĩa là đặt lại vào nơi an toàn mà nó được cất giữ trước khi được trải ra. Vì vậy, nếu đồ ngủ được cuộn gọn treo trên dây phơi trước khi được trải ra, nó nên được cuộn lại và treo trên dây như trước. Nếu nó được lấy từ phòng khác, nó nên được trả lại phòng mà nó đã được lấy từ đó.
Việc bảo người khác cất đồ vào và xin phép được định nghĩa như trong giới luật trước, với một ngoại lệ: Một tỳ-kheo ra lệnh cho người khác trải đồ thì chịu trách nhiệm về nó ngay cả khi người kia cũng đã thọ giới.
Rời đi được định nghĩa là đi ra ngoài phạm vi của tu viện: vượt qua tường tu viện nếu có tường, vượt ra ngoài vùng lân cận của nó nếu không có tường. (Trong tất cả các giới luật đề cập điểm này, Chú Giải định nghĩa vùng lân cận của tu viện là khoảng cách hai leḍḍupāta — khoảng 36 mét — từ các công trình.) Tuy nhiên, việc không có tham chiếu nào đến giới luật này trong các thủ tục cần thực hiện trước khi đi khất thực ([Cv.VIII.5](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.5.2-3) — xem [BMC2, Chương 9](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#BMC2chapter9)) cho thấy rằng những lần ra ngoài tu viện tạm thời không được tính là "rời đi." Kết luận này được củng cố bởi một trong các điều khoản không phạm tội ở đây, được thảo luận dưới đây, nói rằng khi một tỳ-kheo ra đi với kỳ vọng sẽ quay lại nhưng sau đó nhắn tin về tu viện rằng vị ấy xin phép rời, vị ấy tránh được bất kỳ hình phạt nào theo giới luật này. Điều này hàm ý rằng một tỳ-kheo để đồ ngủ trải ra trong một trú xứ thuộc Tăng đoàn, rời tu viện tạm thời với ý định quay lại, và quay lại theo kế hoạch, không phạm tội.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là khoảng thời gian vắng mặt tạm thời cho phép là bao lâu. Bản thân Vibhaṅga không đặt ra giới hạn thời gian. Chú Giải minh họa điều khoản không phạm tội mà chúng ta vừa đề cập bằng trường hợp một tỳ-kheo ra đi, nghĩ rằng: "Tôi sẽ quay lại hôm nay," nhưng không đưa ra tuyên bố cụ thể nào rằng những khoảng thời gian dài hơn không được phép.
Vì các văn bản không đưa ra hướng dẫn cụ thể ở đây, đây là vấn đề mà mỗi Tăng đoàn nên tự quyết định, có tính đến những cân nhắc sau:
1) Câu chuyện nguồn gốc gợi ý rằng mục đích của giới luật là để ngăn đồ ngủ bị để quá lâu trong một trú xứ không người ở đến mức thu hút kiến, mối, hoặc các loài gây hại khác.
2) Một cân nhắc khác, được Vinaya-mukha nêu ra, là nếu một tỳ-kheo đi xa trong thời gian dài, để đồ ngủ và các đồ dùng khác vương vãi trong một trú xứ, điều này có thể gây bất tiện cho các tỳ-kheo cư trú ở chỗ họ không thể dễ dàng phân bổ trú xứ đó cho một tỳ-kheo khác trong thời gian đó.
Ý định
là một nhân tố ở đây, vì — như đã đề cập ở trên — nếu người ta có kế hoạch quay lại trong khoảng thời gian cho phép, thì không phạm tội. Điểm này được truyền đạt qua một đoạn trong các điều khoản không phạm tội có nội dung: "đã ra đi với ý muốn (quay lại), đang ở đó thì xin phép rời; bị ràng buộc bởi điều gì đó." Chú Giải, một cách hợp lý, đọc đoạn này như hai trường hợp miễn trừ được chi phối bởi cụm từ đầu tiên. Nói cách khác, (1) nếu người ta rời tu viện với ý định quay lại rồi sau khi đến bờ bên kia của một con sông hoặc đi xa một khoảng làng, người ta thay đổi ý định và quyết định không quay lại, người ta có thể tránh phạm tội bằng cách nhắn tin về tu viện với thông điệp rằng mình xin phép rời. Hoặc, (2) nếu người ta rời tu viện với ý định quay lại nhưng gặp phải những ràng buộc vật lý — như sông lũ, vua, hoặc kẻ cướp — ngăn mình quay lại, điều đó tự thân đã miễn trừ mình khỏi tội phạm, và không cần phải nhắn tin về.
Các trường hợp không phạm tội
Ngoài hai trường hợp miễn trừ này, Vibhaṅga nêu rằng không phạm tội khi bỏ đi sau khi để đồ ngủ trải ra trong một trú xứ nếu người khác đã chịu trách nhiệm về đồ ngủ hoặc nếu người ta đã xin phép một tỳ-kheo, một sa-di, hoặc một người hầu tự viện. Theo các thủ tục cần thực hiện trước khi rời tu viện để sống nơi khác ([Cv.VIII.3.2](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.3.2-3)), nếu không có ai để xin phép, "thì sau khi đặt giường trên bốn hòn đá, sau khi xếp chồng giường lên giường, ghế dài lên ghế dài, sau khi đặt các đồ dùng trong trú xứ (kể cả đồ ngủ) thành đống ở trên cùng, sau khi cất đồ gỗ và đồ đất, sau khi đóng các cửa sổ và cửa ra vào, người ta có thể lên đường."
Và như trong giới luật trước, không phạm tội nếu có ràng buộc đối với đồ ngủ hoặc có nguy hiểm — tức là những ràng buộc hoặc nguy hiểm ngăn người ta cất chúng trước khi rời đi.
Tóm tắt: Khi đã trải đồ ngủ trong một trú xứ thuộc Tăng đoàn: Rời khỏi tu viện mà không cất lại, sắp xếp để người khác cất lại, hoặc xin phép là tội pācittiya.
Nếu tỳ-kheo nào cố ý nằm trong một trú xứ thuộc Tăng đoàn nhằm xâm chiếm chỗ của một tỳ-kheo đến đó trước, (nghĩ rằng,) "Ai cảm thấy chật chội sẽ bỏ đi" — làm điều đó chỉ vì lý do đó và không vì lý do nào khác — phải sám hối.
Có bốn nhân tố để phạm tội ở đây.
1) Đối tượng: một tỳ-kheo không nên bị buộc phải di chuyển.
2) Nhận thức: Người ta nhận thức vị ấy là như vậy.
3) Nỗ lực: Người ta xâm chiếm không gian của vị ấy trong một trú xứ thuộc Tăng đoàn
4) Ý định: với mục đích duy nhất là buộc vị ấy phải rời đi.
Đối tượng và nhận thức
"Cố ý" được Vibhaṅga định nghĩa là biết rằng người đang cư trú hiện tại trong trú xứ là một tỳ-kheo trưởng lão, một vị đang bệnh, hoặc một vị mà Tăng đoàn (hoặc chức sự của Tăng đoàn) đã phân bổ trú xứ đó. Chú Giải giải thích định nghĩa này như một danh sách các ví dụ và khái quát hóa từ đó để bao gồm bất kỳ trường hợp nào mà người ta biết rằng: "Vị tỳ-kheo này không nên bị buộc phải di chuyển."
Nỗ lực
Xâm chiếm có nghĩa là nằm xuống hoặc ngồi xuống trong khu vực liền kề ngay bên cạnh chỗ ngủ hoặc chỗ ngồi của tỳ-kheo — mà Chú Giải định nghĩa là bất kỳ nơi nào trong vòng 75 cm so với chỗ ngủ hoặc chỗ ngồi — hoặc trên một lối đi rộng 75 cm từ một trong hai nơi đó đến cửa ra vào của trú xứ. Phạm dukkaṭa khi đặt đồ ngủ hoặc chỗ ngồi của mình vào khu vực đó, và phạm pācittiya mỗi lần ngồi hoặc nằm xuống ở đó. Đặt đồ ngủ hoặc chỗ ngồi của mình vào bất kỳ phần nào khác của trú xứ phạm dukkaṭa; và ngồi hoặc nằm xuống ở đó, một dukkaṭa khác — giả định trong tất cả các trường hợp này rằng trú xứ thuộc Tăng đoàn.
Nhận thức về trú xứ không phải là vấn đề ở đây (xem [Pc 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc4)). Nếu trú xứ trên thực tế thuộc Tăng đoàn, phần này của nhân tố được thỏa mãn bất kể người ta có nhận thức nó thuộc Tăng đoàn hay không.
Phạm dukkaṭa khi xâm chiếm không gian của một tỳ-kheo — với ý định buộc vị ấy phải rời đi — ở khu vực liền kề ngay bên cạnh một trú xứ như vậy, ở một nơi thuộc Tăng đoàn không phải là trú xứ của một người cụ thể (ví dụ: một mái che hở hoặc nhà ăn), bóng râm của một gốc cây, ngoài trời, hoặc trong một trú xứ thuộc một cá nhân khác. Làm vậy trong một trú xứ thuộc về mình không phạm tội. Theo Chú Giải, điều khoản cho phép cuối cùng này cũng áp dụng cho một trú xứ thuộc bất kỳ người nào đã cho phép mình coi tài sản của họ theo sự ủy thác.
Ý định
Nếu có lý do chính đáng — người ta đang bệnh hoặc đang chịu đựng cái lạnh hay nóng, hoặc có những nguy hiểm bên ngoài — người ta có thể xâm chiếm không gian của một tỳ-kheo khác mà không bị phạt. Lý do cho những điều khoản cho phép này có vẻ hiển nhiên — người ta không nhắm đến việc buộc tỳ-kheo kia phải rời đi — nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Phụ Chú Giải dẫn lời Ba Gaṇṭhipada rằng vì điều khoản cho phép này, người ta có thể lấy bệnh tật v.v. của mình làm cớ để xâm chiếm không gian của tỳ-kheo kia nhằm buộc vị ấy ra khỏi trú xứ. Phụ Chú Giải cố gắng tranh luận về phán quyết này, nhưng Ba Gaṇṭhipada có sự hỗ trợ của Vibhaṅga ở đây: Chỉ khi động cơ duy nhất của người ta là buộc tỳ-kheo kia phải rời đi mới phạm tội theo giới luật này. Nếu có động cơ hỗn hợp, người ta có thể tận dụng bệnh tật v.v. của mình để chuyển vào chỗ của tỳ-kheo kia.
Tuy nhiên, một khi bệnh tật v.v. đã qua, người ta sẽ phạm tội mỗi lần tiếp tục ngồi hoặc nằm xuống xâm chiếm không gian của vị ấy.
Tất cả những điều này có vẻ rất kỳ lạ trên bề mặt, nhưng có thể là người cư trú ban đầu sẽ không cảm thấy bị áp lực quá mức nếu một tỳ-kheo đang bệnh hoặc đang tránh nguy hiểm chuyển vào trú xứ của mình, trong khi vị ấy sẽ bắt đầu cảm thấy bị áp lực bởi sự hiện diện tiếp tục của tỳ-kheo đó sau khi bệnh tật hoặc nguy hiểm đã qua, đó là lý do tại sao các hình phạt được phân bổ như vậy.
Tóm tắt: Xâm chiếm chỗ ngủ hoặc chỗ ngồi của một tỳ-kheo khác trong một trú xứ thuộc Tăng đoàn, với mục đích duy nhất là làm vị ấy khó chịu và buộc vị ấy phải rời đi, là tội pācittiya.
Nếu tỳ-kheo nào, vì tức giận và bất mãn, đuổi một tỳ-kheo ra khỏi trú xứ thuộc Tăng đoàn — hoặc bảo người khác đuổi — phải sám hối.
"Lúc ấy một nhóm mười bảy tỳ-kheo (xem [Pc 65](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0022.html#Pc65)) đang sửa sang một trú xứ lớn ở ngoại vi tu viện, nghĩ rằng: 'Chúng ta sẽ ở đây qua mùa Mưa.' Một nhóm sáu tỳ-kheo… thấy vậy liền nói: 'Nhóm mười bảy tỳ-kheo kia đang sửa sang một chỗ ở. Hãy đuổi chúng ra.' Nhưng một số trong họ nói: 'Đợi đã, chư hiền, để họ sửa xong đã. Khi sửa xong rồi ta sẽ đuổi.'
"Rồi nhóm sáu tỳ-kheo nói với nhóm mười bảy tỳ-kheo: 'Hãy ra khỏi đây, chư hiền. Trú xứ này là của chúng tôi.'
"'Lẽ ra phải nói trước để chúng tôi có thể sửa sang chỗ khác chứ?'
"'Đây có phải là trú xứ thuộc Tăng đoàn không?'
"'Vâng….'
"'Vậy thì hãy ra khỏi đây. Trú xứ này là của chúng tôi.'
"'Trú xứ này rộng lắm, chư hiền. Các vị ở đây, chúng tôi cũng ở đây được.'
"'Hãy ra khỏi đây. Trú xứ này là của chúng tôi.' Và, vì tức giận và bất mãn, họ túm cổ đẩy nhóm kia ra ngoài. Nhóm mười bảy tỳ-kheo, sau khi bị ném ra, liền bật khóc."
Ba nhân tố để phạm tội đầy đủ ở đây là:
1) Đối tượng: một tỳ-kheo.
2) Nỗ lực: Người ta đuổi vị ấy ra khỏi trú xứ thuộc Tăng đoàn.
3) Ý định: Động lực chính của người ta là sân hận.
Đối tượng
Một tỳ-kheo là căn cứ để phạm pācittiya ở đây, trong khi những đối tượng sau là căn cứ để phạm dukkaṭa: đồ dùng của tỳ-kheo, một người chưa thọ giới, và đồ dùng của người chưa thọ giới.
Nỗ lực
Theo Chú Giải, giới luật này bao gồm cả việc đuổi bằng thân xác — nhặt tỳ-kheo lên và ném ra ngoài — lẫn việc đuổi bằng lời nói — ra lệnh cho vị ấy rời đi. Hình phạt trong cả hai trường hợp là như nhau. (Các bộ phái Mahāsāṁghika và Sarvāstivādin ghi điểm này vào phiên bản giới luật của họ.) Vibhaṅga tính các tội phạm ở đây như sau: một pācittiya khi đuổi tỳ-kheo từ phòng ra hiên, và một pācittiya khác khi đuổi vị ấy khỏi hiên. Nếu chỉ với một nỗ lực duy nhất mà đuổi vị ấy qua nhiều cửa, người ta chỉ phạm một pācittiya.
Phạm dukkaṭa khi bảo người khác đuổi tỳ-kheo — không có điều khoản nào cho kappiya-vohāra ở đây — và, giả định các nhân tố khác đều được thỏa mãn, phạm pācittiya một khi tỳ-kheo đã bị đuổi ra, bất kể cần bao nhiêu nỗ lực. (Ấn bản Thái của Thánh điển quy định pācittiya cho lệnh/yêu cầu người khác thực hiện việc đuổi, nhưng ngay cả ấn bản Thái của Chú Giải chỉ quy định dukkaṭa ở đây, cũng như tất cả các ấn bản chính khác của Thánh điển, vì vậy cách đọc của ấn bản Thái ở đây có lẽ là sai.)
Đuổi một tỳ-kheo ra khỏi trú xứ thuộc Tăng đoàn phạm pācittiya. Như trong giới luật trước, nhận thức về quyền sở hữu trú xứ không phải là vấn đề ở đây. Đuổi bất kỳ ai — tỳ-kheo hay không — ra khỏi khu vực liền kề ngay bên cạnh trú xứ thuộc Tăng đoàn, khỏi một nơi thuộc Tăng đoàn không phải là trú xứ của một người cụ thể, khỏi bóng râm của một gốc cây, khỏi một chỗ ngoài trời, hoặc khỏi trú xứ thuộc một cá nhân khác đều phạm dukkaṭa. Cũng phạm dukkaṭa khi ném đồ dùng của một người ra khỏi bất kỳ nơi nào trong số những nơi này. (Trong tất cả các trường hợp được đề cập trong đoạn này, giả định rằng người ta bị thúc đẩy bởi sân hận.)
Đuổi bất kỳ ai hoặc đồ dùng của bất kỳ ai ra khỏi trú xứ của chính mình — hoặc ra khỏi trú xứ thuộc một người đã cho phép mình coi tài sản của họ theo sự ủy thác — không phải là căn cứ để phạm tội.
Nhận thức về việc trú xứ có thuộc Tăng đoàn hay không không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây (xem [Pc 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc4)).
Ý định
Không phạm tội khi đuổi bất kỳ ai khi động lực chính của người ta không phải là sân hận. Các ví dụ được nêu trong các điều khoản không phạm tội bao gồm việc đuổi bất kỳ ai — hoặc vật dụng của bất kỳ ai — bị mất trí, không cẩn trọng trong hành xử, hoặc là người gây ra xung đột, tranh chấp, và chia rẽ trong Tăng đoàn. Chú Giải bổ sung ở đây rằng người ta cũng có quyền đuổi người đó ra khỏi toàn bộ tu viện nếu người đó là người gây ra xung đột, tranh chấp, và chia rẽ, nhưng không phải nếu người đó chỉ đơn giản là không cẩn trọng.
Vibhaṅga bổ sung rằng người ta có thể không phạm tội khi đuổi học trò của mình hoặc đồ dùng của vị ấy ra khỏi trú xứ nếu vị ấy không thực hiện đúng các bổn phận của mình.
Trong tất cả các trường hợp này, Phụ Chú Giải lưu ý, nếu sân hận xảy ra trong tâm trí của mình trong quá trình đuổi người đó, không có tội phạm miễn là nó không phải là động lực chính.
Các văn bản không đề cập đến trường hợp khi động cơ chính của người ta là tham lam, và câu chuyện nguồn gốc gợi ý lý do tại sao: Sân hận của nhóm sáu tỳ-kheo chỉ đơn thuần là biểu hiện của lòng tham bị cản trở, và hai cảm xúc này dễ dàng đi cùng nhau trong bất kỳ vi phạm nào của giới luật này.
Tóm tắt: Khiến một tỳ-kheo bị đuổi ra khỏi trú xứ thuộc Tăng đoàn — khi động lực chính của người ta là sân hận — là tội pācittiya.
Nếu tỳ-kheo nào ngồi hoặc nằm trên giường hay ghế dài có chân tháo rời trên một gác lửng (chưa lát sàn) trong trú xứ thuộc Tăng đoàn, phải sám hối.
Đối tượng
Gác lửng là tầng hai không hoàn chỉnh trong một trú xứ; gác lửng chưa lát sàn là gác có các xà ngang chưa được phủ ván sàn. Giường hoặc ghế dài có chân tháo rời trên gác lửng chưa lát sàn là căn cứ để phạm pācittiya theo giới luật này nếu nằm trong trú xứ thuộc Tăng đoàn, căn cứ để phạm dukkaṭa nếu trong trú xứ thuộc một cá nhân khác, và không phạm tội nếu trong trú xứ thuộc về chính mình hoặc thuộc về bất kỳ người nào đã cho phép mình coi tài sản của họ theo sự ủy thác. Nhận thức về quyền sở hữu trú xứ, như trong các giới luật trước, không phải là vấn đề ở đây.
Mục đích của giới luật này, như câu chuyện nguồn gốc cho thấy, là bảo vệ tránh gây thương tích cho tỳ-kheo sống bên dưới gác lửng: Vị ấy có thể bị đánh vào đầu nếu bất kỳ chân tháo rời nào rơi xuống qua các xà ngang của gác lửng. Vì vậy không phạm tội nếu gác lửng không đủ cao so với mặt đất để một người có chiều cao trung bình đứng bên dưới mà không đụng đầu; nếu sàn gác lửng được lát ván hoàn toàn; nếu không có ai ở bên dưới gác lửng; nếu khu vực bên dưới gác lửng không thể dùng làm trú xứ (ví dụ: chỉ dùng để chứa đồ, theo Chú Giải); nếu giường hoặc ghế dài có chân tháo rời ở trên mặt đất; hoặc nếu các chân của giường hay ghế dài được cố định chắc chắn vào khung.
Nỗ lực
Có câu hỏi đặt ra là liệu việc ngồi và nằm có bao gồm cả việc đứng không, vì các điều khoản không phạm tội cho phép người ta "đứng ở đó và treo đồ vật lên hoặc lấy xuống." Chú Giải giải thích "ở đó" là giường hoặc ghế dài có chân tháo rời, nhưng việc đứng trên một thứ như vậy có vẻ còn nguy hiểm hơn cả ngồi hay nằm trên đó. Nhiều khả năng hơn, "ở đó" đề cập đến gác lửng chưa lát sàn.
Một số người đã lưu ý rằng mặc dù tỳ-kheo trong câu chuyện nguồn gốc ngồi xuống một cách vội vàng, từ "vội vàng" không xuất hiện trong giới luật, và họ suy đoán rằng nó có thể đã bị bỏ sót do nhầm lẫn. Nếu hoàn toàn không được phép ngồi hoặc nằm trên giường hay ghế dài có chân tháo rời trên gác lửng chưa lát sàn, họ nói, thì sẽ không có lý do gì để để một thứ như vậy ở đó. Thực ra, giường có chân tháo rời không phải là thứ khôn ngoan để có trên gác lửng chưa lát sàn, và có lẽ mục đích của Đức Phật khi chế định giới luật này là để ngăn không cho chúng được đặt ở đó ngay từ đầu.
Tóm tắt: Ngồi hoặc nằm trên giường hay ghế dài có chân tháo rời trên gác lửng chưa lát sàn trong trú xứ thuộc Tăng đoàn là tội pācittiya.
Khi một tỳ-kheo đang cho xây dựng một trú xứ lớn, vị ấy có thể giám sát hai hoặc ba lớp mặt phủ để trát xung quanh khung cửa sổ và gia cố xung quanh khung cửa ra vào theo chiều rộng của khoảng mở cửa, trong khi đứng ở nơi không có hoa màu đáng kể. Nếu giám sát nhiều hơn mức đó, dù đứng ở nơi không có hoa màu đáng kể, phải sám hối.
"Lúc ấy một vị đại thần là người hộ trợ của Tôn giả Channa đang cho xây dựng một trú xứ cho Tôn giả Channa. Tôn giả Channa đã bảo phủ lại mái lên trú xứ đã hoàn thiện nhiều lần, trát lại nhiều lần, đến mức trú xứ bị quá tải và sụp xuống. Rồi Tôn giả Channa, thu nhặt cỏ và cành cây, đã phá hoại ruộng lúa mạch của một vị bà-la-môn. Vị bà-la-môn chỉ trích, phàn nàn và lan truyền rằng: 'Sao các tôn giả lại có thể phá hoại ruộng lúa mạch của chúng tôi?'… Các tỳ-kheo… chỉ trích, phàn nàn và lan truyền rằng: 'Sao Tôn giả Channa lại có thể bảo phủ lại mái lên trú xứ đã hoàn thiện nhiều lần, trát lại nhiều lần, đến mức trú xứ bị quá tải và sụp xuống?'"
Giới luật này là sự mở rộng của [Sg 7](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0011.html#Sg7), đưa ra những chỉ dẫn thêm về cách tiến hành xây dựng trú xứ cho bản thân sử dụng khi được người khác bảo trợ. Vì giới luật đề cập đến các kỹ thuật xây dựng nhà tường nan trát vữa từ 2.500 năm trước, giới luật và các giải thích của nó trong Thánh điển và chú giải chứa đựng các thuật ngữ mà ý nghĩa hiện nay còn chưa chắc chắn. Cú pháp của giới luật gợi ý một cách giải thích, Chú Giải gợi ý một cách khác, trong khi Vibhaṅga không có lập trường rõ ràng về những điểm mà hai cách giải thích khác nhau. Vì cả hai cách giải thích đều có lý, chúng ta sẽ trình bày cả hai.
Những gì giới luật có vẻ nói
Khu vực 1,25 mét xung quanh khung cửa ra vào cần được phủ bằng tối đa ba lớp vữa trát hoặc vật liệu lợp mái để gia cố, nhờ đó khi cửa bị gió thổi bật ra hoặc đóng lại sẽ không làm hư tường hoặc bị bật khỏi bản lề. Vibhaṅga đề cập năm loại vật liệu lợp mái: ngói, đá, vôi (xi măng), cỏ, và lá.
Tương tự, xung quanh các cửa sổ, một khu vực có chiều rộng bằng cánh cửa sổ cần được gia cố bằng tối đa ba lớp vữa để bảo vệ khỏi bị hư hỏng khi cánh cửa sổ bị gió thổi bật ra hoặc đóng lại. Ba loại vữa được sử dụng vào thời Đức Phật — trắng, đen, và hoàng thổ — và các tỳ-kheo được phép quét chúng theo nhiều họa tiết hình học, nhưng không được dùng chúng để vẽ tranh khiêu dâm về đàn ông và đàn bà lên tường (!) ([Cv.VI.3.1-2](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0045.html#Cv.VI.3.1)). Mặc dù các tỳ-kheo được phép phủ toàn bộ tường và sàn bằng loại vữa này, giới luật này chỉ đưa ra hướng dẫn về diện tích tối thiểu cần phủ để giữ cho tường vững chắc.
Những gì Chú Giải nói
Vì giới luật đề cập đến vật liệu lợp mái, Chú Giải cho rằng nó phải đề cập đến mái của trú xứ, dù giả định này đi ngược lại cú pháp của giới luật. Cách giải thích của Chú Giải: Người ta có thể gia cố khung cửa ra vào và cửa sổ bằng bao nhiêu lớp vữa hoặc vật liệu lợp mái tùy ý, nhưng chỉ có thể phủ mái bằng tối đa ba lớp vật liệu lợp mái. Một điểm liên quan từ Thánh điển là đoạn ở [Cv.VIII.3.3](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.3.2-3) nêu rằng nếu về sau mái bắt đầu dột, tỳ-kheo cư trú — nếu có thể — nên tự lợp lại mái hoặc nhờ người khác làm cho mình. Tuy nhiên nếu vị ấy không thể làm được cả hai thì không phạm tội.
Lý do của giới luật này
Câu chuyện nguồn gốc gợi ý rằng Đức Phật áp đặt giới hạn ba lớp nhằm ngăn trú xứ sụp đổ dưới sức nặng của quá nhiều vật liệu lợp mái, nhưng các điều khoản không phạm tội cho thấy rõ ràng rằng giới luật nhắm đến việc ngăn các tỳ-kheo lạm dụng lòng hào phóng của người bảo trợ công trình xây dựng. Trong cả hai trường hợp, cách giải thích của Chú Giải có logic riêng, vì mái bị quá tải sẽ gây gánh nặng cho trú xứ và cho người bảo trợ nhiều hơn là khung cửa sổ hay cửa ra vào bị quá tải.
Một quy định bổ sung phát sinh từ câu chuyện nguồn gốc là người ta không nên thực hiện bất kỳ công việc xây dựng nào, kể cả giám sát, ở nơi đang có hoa màu.
Các tội phạm ở đây như sau: một pācittiya cho mỗi tấm vật liệu lợp mái vượt quá ba lớp cho phép, và một dukkaṭa khi thực hiện hoặc chỉ đạo công việc trong khi đứng ở nơi đang có hoa màu. Những tội phạm này áp dụng bất kể người ta tự làm hay bảo người khác làm. Chúng cũng áp dụng cho dù người ta đang xây trú xứ mới hay cho sửa chữa trú xứ cũ.
Nhận thức về việc có vượt quá số lớp cho phép hay không không phải là nhân tố ở đây (xem [Pc 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc4)).
Các trường hợp không phạm tội
Theo Vibhaṅga, các quy định này không áp dụng cho "nơi cư trú trong hang, lều cỏ, (trú xứ) dành cho người khác sử dụng, (trú xứ được xây) bằng nguồn lực của chính mình, hoặc bất cứ thứ gì không phải là trú xứ." Phụ Chú Giải lập luận từ cách diễn đạt của giới luật — đề cập đến "một trú xứ lớn" — rằng các quy định cũng không áp dụng cho các trú xứ nhỏ được xây theo kích thước tiêu chuẩn quy định ở [Sg 6](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0011.html#Sg6): tức là không lớn hơn 3 x 1,75 mét.
Tóm tắt: Khi một tỳ-kheo đang xây dựng hoặc sửa chữa một trú xứ lớn để bản thân sử dụng, bằng nguồn lực do người khác cúng dường, vị ấy không được gia cố khung cửa sổ hay cửa ra vào bằng hơn ba lớp vật liệu lợp mái hoặc vữa trát. Vượt quá mức này là tội pācittiya.
Nếu tỳ-kheo nào cố ý đổ nước có chứa sinh vật — hoặc bảo người khác đổ — lên cỏ hoặc lên đất sét, phải sám hối.
Đây là một tội phạm với bốn nhân tố.
Đối tượng
Nước có chứa sinh vật. Đóng góp của K/Chú Giải cho nhân tố tiếp theo cho thấy điều này bao gồm những thứ như ấu trùng muỗi, nhưng không bao gồm các sinh vật quá nhỏ đến mức không thể nhìn thấy.
Nhận thức
"Cố ý," theo Vibhaṅga, có nghĩa là người ta hoặc tự mình biết hoặc được thông báo rằng các sinh vật sống đang có ở đó. K/Chú Giải bổ sung hai điểm: (1) tự mình biết có nghĩa là người ta đã nhìn thấy hoặc nghe (rằng chúng có ở đó); và (2) biết cũng bao gồm việc biết rằng chúng sẽ chết vì nhân tố nỗ lực, được định nghĩa dưới đây.
Nếu người ta còn nghi ngờ về việc nước có chứa sinh vật hay không (ví dụ: nước đục hoặc ở chỗ tối; nước có chứa hạt giống trông giống côn trùng), thì việc sử dụng nước đó theo cách có thể gây chết cho chúng nếu chúng có ở đó sẽ phạm dukkaṭa. Nếu người ta nghĩ rằng nước có chứa sinh vật trong khi thực ra không có, hình phạt khi sử dụng nước đó theo cách như vậy cũng là dukkaṭa.
Nỗ lực
Do một đặc thù của ngữ pháp Pali, Chú Giải nêu rằng, ngoài cách đọc nêu trên, giới luật này cũng có thể được giải thích là: "Nếu tỳ-kheo nào cố ý đổ cỏ hoặc đất sét — hoặc bảo người khác đổ — vào nước có chứa sinh vật, phải sám hối." Chú Giải cũng nêu rằng cỏ và đất sét trong bối cảnh của cách đọc thứ hai này sẽ bao gồm bất kỳ vật liệu nào có thể gây chết cho sinh vật trong nước. Có hai phản đối đối với cách đọc thứ hai của Chú Giải: Một là nó đi ngược lại trật tự từ tự nhiên của câu văn xuôi trong Pali Thánh điển; mặt khác là từ Pali chỉ hành động "đổ" — siñcati — chỉ dùng cho nước chứ không dùng cho các chất rắn như cỏ và đất sét. Tuy vậy, ngay cả nếu cách đọc thứ hai này không hoàn toàn đúng ngữ pháp, Đại Tiêu Chuẩn có thể được viện dẫn để đưa nó vào phạm vi giới luật này nhằm ngăn việc đổ các chất ô nhiễm gây chết vào nước. Vì vậy các hành động thuộc phạm vi giới luật này sẽ bao gồm, theo cách đọc đầu tiên, những việc như đổ nước cũ từ bình cắm hoa ra đất hoặc đổ nước vào thau chứa hỗn hợp xi măng; và theo cách đọc thứ hai, đổ hóa chất độc vào nước.
Khác với một số giới luật khác liên quan đến việc ra lệnh, chỉ cần đưa ra lệnh đổ là đủ để thỏa mãn nhân tố này. Vì vậy, ví dụ, một tỳ-kheo bảo người khác đổ một bể cá xuống sàn sẽ phạm một pācittiya khi ra lệnh và một pācittiya khác khi người kia làm theo. Nếu một tỳ-kheo đưa ra một yêu cầu duy nhất để đổ nước nhưng người kia đổ nước nhiều lần, tỳ-kheo chỉ phạm hai pācittiya: một cho yêu cầu, và một cho việc yêu cầu đó được thực hiện.
Cũng như tất cả các giới luật liên quan đến các mối đe dọa đến sinh mạng của động vật, không có điều khoản nào cho kappiya-vohāra ("nói cho đúng cách") theo giới luật này.
Ý định
Nhân tố này được thỏa mãn đơn giản bởi mục tiêu trước mắt của việc đổ nước hoặc bảo người khác đổ (hoặc đổ "cỏ và đất sét" vào nước hoặc bảo người khác đổ). Ví dụ, nếu sau khi nhận thấy nước có chứa côn trùng, người ta chọn không quan tâm đến sự tồn tại của chúng và đổ nước lên một khúc gỗ đang cháy — không phải để giết côn trùng, mà để dập lửa — người ta vẫn phạm tội.
Thực ra, K/Chú Giải cho rằng để các hành động của người ta thuộc phạm vi giới luật này, người ta không được thúc đẩy bởi ý định sát hại. Tuyên bố này rõ ràng được khơi dậy bởi mong muốn ngăn sự chồng lấp giữa giới luật này và [Pc 61](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0022.html#Pc61), vì Vibhaṅga không có gì để cho phép việc xem động cơ là một tiểu nhân tố ở đây. Tuyên bố của K/Chú Giải cũng sẽ dẫn đến một kết quả bất thường trong thực tế: Nếu tỳ-kheo A, với ý định sát hại, đổ nước xuống đất nhưng các sinh vật trong nước không chết, vị ấy chỉ phạm dukkaṭa theo [Pc 61](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0022.html#Pc61); nếu tỳ-kheo B, không có ý định sát hại, đổ nước xuống đất và các sinh vật không chết, vị ấy sẽ phạm hình phạt nặng hơn là pācittiya theo giới luật này. Vì vậy có vẻ không có lý do gì để theo K/Chú Giải về điểm này. Nói cách khác, bất kể động cơ là gì, nếu người ta có ý định đổ nước, hoặc bảo người khác đổ, rồi hành động theo ý định đó, các hành động của người ta sẽ thuộc phạm vi giới luật này.
Kết quả không phải là nhân tố ở đây. Việc các sinh vật thực sự có chết hay không không có ảnh hưởng trong việc xác định tội phạm.
Các trường hợp không phạm tội
Không phạm tội khi sử dụng nước có chứa sinh vật theo bất kỳ cách nào thuộc phạm vi giới luật này —
không biết — ví dụ, không biết rằng nước có chứa sinh vật; đổ một hóa chất độc vào nước vì tưởng nó vô hại;
không để tâm — ví dụ, đang đun một ấm nước trên bếp, nhìn thấy có nòng nọc trong đó rồi theo phản xạ đổ nước ra ngoài đất để chúng không bị luộc chín; hoặc
không cố ý — ví dụ, vô tình làm đổ bể cá vàng.
Tuy nhiên, tỳ-kheo phải luôn kiểm tra nước trước khi sử dụng. Các dụng cụ lọc nước được thảo luận trong [BMC2, Chương 3](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0042.html#BMC2chapter3).
Tưới cây
Chủ đề tưới cây được đề cập trong phần thảo luận của Chú Giải về các thói quen xấu của các tỳ-kheo ở Kīṭāgiri được đề cập trong [Sg 13](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0011.html#Sg13). Ở đó, Chú Giải nói rằng ngay cả khi nước không có sinh vật nào có thể nhận biết được, việc tự mình dùng hoặc bảo người khác dùng nước để tưới cây với mục đích làm hư hỏng các gia đình qua những món quà từ cây đó sẽ phạm dukkaṭa. Trong những trường hợp này, người ta không được dùng kappiya-vohāra hay bất kỳ cách nào khác để gợi ý mong muốn của mình rằng cây được tưới.
Nếu người ta muốn sử dụng quả hoặc hoa của cây theo cách khác — để tự ăn quả, để cúng dường quả cho Tăng đoàn, để dùng hoa làm lễ vật cúng tượng Phật, v.v. — người ta không được tự tưới cây, nhưng không phạm tội khi nhờ người khác tưới nếu dùng kappiya-vohāra. ("Nhìn xem cây khô thế kìa!" "Nếu không được tưới, nó sẽ chết mất.")
Nếu người ta muốn cây phát triển vì những lý do khác — vì bóng mát của nó hoặc như một phần của khu vườn hay khu rừng trang trí — không phạm tội khi tự tưới cây miễn là dùng nước không có sinh vật nào có thể nhận biết trong đó. Hai bộ chú giải cổ đại bổ sung rằng nếu người ta chỉ muốn bóng mát, một khu vườn, hoặc một khu rừng, người ta có thể tự trồng cây miễn là đặt nó vào đất không được tính là "đất thực sự" (jātā paṭhavī) theo [Pc 10](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc10).
Tóm tắt: Đổ nước mà mình biết có chứa sinh vật — hoặc bảo người khác đổ — lên cỏ hoặc đất sét là tội pācittiya. Đổ vào nước như vậy bất cứ thứ gì có thể giết chết các sinh vật — hoặc bảo người khác đổ — cũng là tội pācittiya.
#Two: The Living Plant Chapter
11
The damaging of a living plant is to be confessed.
“A certain Āḷavī bhikkhu was chopping down a tree. The devatā living in the tree said to the bhikkhu, ‘Venerable sir, do not chop down my home to build a home for yourself.’ The bhikkhu, disregarding her, kept right on chopping and injured the arm of the devatā’s child. The devatā thought: ‘What if I were to kill this bhikkhu right here?’ Then another thought occurred to her: ‘But no, that wouldn’t be proper…. What if I were to tell the Blessed One of what has happened?’ So she went to the Blessed One and… told him of what had happened.
“‘Very good, devatā, very good. It’s very good that you didn’t kill the bhikkhu. If you had killed him today, you would have produced much demerit for yourself. Now go, devatā. Over there is a vacant tree. Go into it.’ (The Commentary adds here that the tree, being in Jeta’s Grove, was a definite move up for the devatā. She had a front-row seat for overhearing the Buddha’s teachings well into the night; unlike other lesser devas she wasn’t pushed out to the far reaches of the galaxy when large groups of major devas met with the Buddha; and when the Four Great Kings came to attend to the Buddha, they always made a point of visiting her before leaving. However:)
“People criticized and complained and spread it about, ‘How can these Sakyan-son monks cut down trees and have them cut down? They are mistreating one-facultied life.’”
This is another offense with the four factors of object, effort, perception, and intention.
Object
The Pali term for living plant—bhūtagāma—literally means the home of a being. This the Sub-commentary explains by saying that devatās may take up residence in plants standing in place by means of a longing on which their consciousness fastens (at the end of their previous lives) as in a dream. This rule is justified, it says, in that the etiquette of a contemplative precludes doing harm to the abodes of living beings. As the origin story shows, though, the reason this rule was laid down in the first place was to prevent bhikkhus from offending people who held to the animist belief that regarded plants as one-facultied life having the sense of touch.
The Vibhaṅga defines bhūtagāma as vegetation arising from any of five sources:
1) from bulbs, rhizomes, or tubers (e.g., potatoes, tulips),
2) from cuttings or stakes (e.g., willows, rose bushes),
3) from joints (e.g., sugar cane, bamboo),
4) from runners (e.g., strawberries, couch grass), or
5) from seeds (e.g., corn, beans).
According to the Commentary, a whole plant or part of one that has been removed from its original place is no longer classed as bhūtagāma. If it is capable of growing again when placed in the ground, it is classed as bījagāma, which means “home of a seed.” When a seed is sown, it is regarded as bījagāma until the first shoot turns a fresh green color and the first leaf appears. After that it is regarded as bhūtagāma.
In line with this criterion, the Commentary classifies as bījagāma such lower forms of plant life as mushrooms that still have their spores, fungi, lichens without leaves, and molds, in that they do not pass through a fresh green stage, have no discernable leaves, and yet are capable of regeneration. Mushrooms that have lost their spores, and parts of any plants that have been removed from place and will not grow, or that have been cooked or otherwise damaged to the point where they are incapable of generation, are not grounds for an offense under this rule.
The Commentary asserts further that to damage bījagāma entails a dukkaṭa. The Vibhaṅga does not mention this point, but the Commentary cites as its justification a passage occurring in a number of suttas (such as [DN 2](/suttas/DN/DN02.html)) saying that a bhikkhu consummate in virtue refrains from harming both bhūtagāma and bījagāma. In doing so, the Commentary is utilizing the Cullavagga’s blanket rule assigning a dukkaṭa to all bad habits ([Cv.V.36](./Section0049.html#Cv.V.36)). The Mahāvagga and Cullavagga give further but partial justification to the Commentary’s assertion in two passages, dealing with bhikkhus eating fruit, which we will discuss below. The Jain ascetics follow similar observances, which suggests that both the Buddhists and the Jains adopted this point from the ancient Indian ascetics who predated both religions.
Furthermore, according to the Commentary, there are certain kinds of plants that do not count either as bhūtagāma or bījagāma under this rule, and to damage them entails no offense. To justify this point it quotes a passage from [Cv.VIII.1.3](./Section0048.html#Cv.VIII.1.2-5): “If a wall treated with ochre… (or) a finished floor is moldy (§), one should moisten a rag, wring it out, and wipe it clean.” The Commentary extends the Canon’s instructions here to cover not only mold on walls but also other lower forms of plant life—such as algae on the inside of water jars, fungus on toothbrushes, and mold on food—that would count as filth if they were allowed to continue growing.
Effort
According to the Vibhaṅga, the term damaging includes such actions as cutting, breaking, and cooking, as well as getting other people to perform these actions. The Commentary defines damaging as “dealing with a plant as one likes by cutting it, breaking it, and so on.” Although the word for dealing with—paribhuñjati—literally means “making use of,” the Commentary’s illustrations of what this covers include even such things as shaking a tree limb to get the dry leaves to fall off so that one can sweep them up. Thus, it says, damaging would include picking flowers or leaves, uprooting a plant, engraving one’s initials in a tree trunk, etc. Because no exception is made for doing such things with “benevolent” intentions toward the plant, pruning would be included as well. Given the catch-all nature of the Commentary’s definition, using herbicides to kill plants would also come under damaging.
The Commentary adds that plants growing in water, such as water hyacinths, whose roots do not extend to the earth beneath the water, have the water as their base. To remove them from the water is to damage them, although there is no offense in moving them around in the water. To move them from one body of water to another without incurring a penalty, one may take them together with some of the water in which they originally lived and place them together with that water into the new body of water.
Also, says the Commentary, plants such as mistletoe, orchids, and bird vine that grow on trees have the tree as their base. To remove them from the tree is to damage them and so entails a pācittiya.
Perception
If one damages a living plant (§) perceiving it to be something else—say, a dead plant—there is no offense. If one damages a plant in doubt as to whether it is living or dead, then regardless of what it actually is, the offense is a dukkaṭa.
Intention
Intention is discussed in detail under the non-offenses, below.
Making fruit allowable
Because fruit seeds are bījagāma, the question arises as to how bhikkhus should go about eating fruit. The Commentary to this rule discusses in detail two passages, one each in the Mahāvagga (VI. 21) and the Cullavagga (V.5.2), dealing with precisely this question. The Cullavagga passage reads, “I allow you, bhikkhus, to consume fruit that has been made allowable for monks in any of five ways: if it is damaged by fire, by a knife, by a fingernail, if it is seedless, and the fifth is if the seeds are discharged.” The Mahāvagga passage reads, “Now at that time there was a great quantity of fruit at Sāvatthī, but there was no one to make it allowable…. (The Buddha said,) ‘I allow that fruit that is seedless or whose seeds are discharged be consumed (even if) it has not been made allowable.”
First, to summarize the commentaries’ discussion of seedless fruit and fruit whose seeds have been discharged: According to the Commentary to the Mahāvagga, seedless fruit includes fruit whose seeds are too immature to grow. As for fruit whose seeds have been discharged, the Sub-commentary states that this means, “Fruit, such as mangoes or jackfruit, which it is possible to eat having removed the seeds and separating them entirely (from the flesh).”
The question sometimes arises as to whether bhikkhus may remove the seeds themselves before eating fruit of this sort, or if an unordained person has to remove them first. Given the context of the Mahāvagga passage and the wording of the Sub-commentary’s explanation, it seems clear that the bhikkhus themselves may discharge the seeds before or while eating the fruit. As the Commentary notes, both these kinds of fruit are allowable in and of themselves, and need not go through any other procedure to make them allowable.
Other kinds of fruit, though, such as those with numerous seeds (such as tomatoes and blackberries) or whose seeds would be difficult to remove undamaged (such as grapes) must be damaged by fire, a knife, or a fingernail before a bhikkhu may eat them. The Commentary’s description of how to do this shows that the damaging need only be symbolic: An unordained person draws a hot object or a knife across the skin of the fruit, or pokes it with a fingernail, saying “allowable” (kappiyaṁ) either while doing the damaging or immediately afterward. The Sub-commentary notes that the word for “allowable” may be stated in any language.
If a heap of fruit, such as grapes, is brought to a bhikkhu, he should say, “Make it allowable,” (Kappiyaṁ karohi,) either to the donor or to any other unordained person who knows how. The unordained person need only make one of the grapes allowable in line with the above procedures for the entire heap to be considered allowable, although he/she should not remove the grape from the heap while doing so.
The Sub-commentary claims that the ceremony of making fruit allowable must always be performed in the presence of a bhikkhu, but the Commentary mentions this factor only in connection with this last case—making an entire heap of fruit allowable by “damaging” only one piece—and not in its basic description of how the procedure is done.
In Communities that follow the Sub-commentary, the custom is as follows: When a donor brings grapes, tomatoes, or similar fruit to a bhikkhu, the bhikkhu says, “Kappiyaṁ karohi (Make it allowable).” The donor damages the fruit in any of the three specified ways and says, “Kappiyaṁ bhante (It is allowable, venerable sir),” while doing the damaging, and then presents the fruit to the bhikkhu.
In Communities that do not follow the Sub-commentary, the donor may perform the act of damaging the fruit beforehand. If the damage is obvious, a bhikkhu may accept and consume the fruit without asking. If it’s not, he should ask whether it has been damaged. If the reply is Yes, he may accept and consume it. If No, it should first be damaged in his presence.
Even in this second type of Community, however, the act of making a heap of fruit allowable by damaging only one piece must be done in a bhikkhu’s presence. And we should note again that seedless fruit or fruit whose seeds may be removed entirely from the flesh of the fruit are allowable in and of themselves, and do not have to go through any procedure before a bhikkhu may accept and eat them.
The two passages in the Mahāvagga and Cullavagga that we have been discussing deal specifically only with fruit, but the Commentary extrapolates from them to say that the same conditions apply to other forms of bījagāma, such as sugar cane and bean sprouts as well.
Non-offenses
The Vibhaṅga says that there is no offense for a bhikkhu who cuts a living plant—
unknowingly—e.g., thinking it to be dead,
unthinkingly—e.g., absent-mindedly pulling grass while talking with someone, or
unintentionally—e.g., inadvertently uprooting grass while raking leaves, or grabbing onto a plant for support while climbing a hill and inadvertently uprooting it.
Also, there is no penalty in telling an unordained person to make an item allowable; in asking for leaves, flowers, etc., without specifically saying which leaves or flowers are to be picked; or in indicating indirectly that, e.g., the grass needs cutting (“Look at how long the grass is”) or that a tree needs pruning (“This branch is in the way”) without expressly giving the command to cut. In other words, this is another rule where one may avoid an offense by using kappiya-vohāra: “wording it right.”
[Cv.V.32.1](./Section0049.html#Cv.V.32.1) says that if a brush fire is approaching a dwelling, one may light a counter-fire to ward it off. In doing so, one is exempt from any penalty imposed by this rule.
Also, according to the Sub-commentary to [NP 6](./Section0013.html#NP6), a bhikkhu whose robes have been snatched away and who cannot find any other cloth to cover himself may pick grass and leaves to cover himself without incurring a penalty here.
Summary: Intentionally cutting, burning, or killing a living plant is a pācittiya offense.
\ \ \*
12
Evasive speech and causing frustration are to be confessed.
This rule deals with a bhikkhu’s behavior in a Community meeting when being formally questioned about a charge made against him. The factors for the full offense here are three.
1) Intention: One’s motive is to hide one’s offenses.
2) Effort: One continues engaging in evasive speech or in causing frustration
3) Object: when being questioned in the Community about a rule or an offense after the Community has brought a formal charge of evasive speech or causing frustration against one.
Effort
Evasive speech is illustrated in the origin story as follows:
“Now at that time Ven. Channa, having misbehaved and being examined about the offense in the midst of the Community, wandered around (§) one thing by way of another: ‘Who has committed the offense? What was committed? With regard to what matter was it committed? How was it committed? What are you saying? Why do you say it?’”
The Vibhaṅga, following the lead of the origin story, gives examples of evasive speech that are all in the form of questions. However, the Commentary argues that the Vibhaṅga’s examples are not intended to be exhaustive, and that evasive speech covers any and all forms of speaking beside the point when being formally questioned. The Sub-commentary agrees and gives an entertaining example of its own:
“Have you committed this offense?”
“I’ve been to Pāṭaliputta.”
“But we’re not asking about your going to Pāṭaliputta. We’re asking about an offense.”
“From there I went to Rājagaha.”
“Well, Rājagaha or Brahmaṇāgaha, did you commit the offense?”
“I got some pork there.”
As for causing frustration:
“Now at a later time Ven. Channa, being examined about an offense in the midst of the Community, (thinking), ‘By evading one question with another, I will fall into an offense,’ remained silent and frustrated the Community.”
Thus, the texts say, causing frustration means remaining silent when being formally questioned in the midst of the Community.
Intention
This factor is fulfilled only if one’s motive is to conceal one’s own offenses. If one has other motives for remaining silent, asking questions, or speaking not to the point while being questioned, there is no penalty. For example, there is no offense for a bhikkhu who, when being examined,
asks questions or gives answers not to the point because he does not understand what is being said,
is too ill to speak,
feels that in speaking he will create conflict or dissension in the Community, or
feels that the Community will carry out its transactions unfairly or not in accordance with the rule.
Object
If a bhikkhu speaks evasively or remains silent out of a desire to conceal his offenses, he incurs a dukkaṭa. If the Community sees fit, it may then bring a formal charge of evasive speech or causing frustration against him in order to restrain him from persisting in such behavior. (See [Appendix VIII](./Section0028.html#appendixVIII) for these transaction statements.) If he then continues speaking evasively or remaining silent, he incurs a pācittiya.
Perception is not a factor here. Once a formal charge of evasive speech or causing frustration has been rightfully brought against a bhikkhu, and he continues to speak evasively or remain silent, he incurs a pācittiya regardless of whether he sees the charge as rightful or not. If the charge has been wrongfully brought against him, then regardless of whether he perceives the charge as wrongful, rightful, or doubtful, the offenses or lack of offenses are allotted as if the Community transaction bringing the charge had not happened at all. This covers two situations. In the first, the bhikkhu actually deserves the charge, but the transaction was not carried out strictly in accordance with formal procedure. In this case, if the bhikkhu continues to be evasive or remain silent out of a desire to hide his offenses, he incurs another dukkaṭa. In the second situation, the bhikkhu does not deserve the charge—for instance, he has asked questions or remained silent for one of the allowable reasons, but the Community has abused its powers in bringing the charge against him. In this case, if he continues to ask questions or remain silent for the allowable reasons, he incurs no offense.
As for the case in which the Community rightly brings a formal charge of evasive speech or causing frustration against a bhikkhu, and he incurs a pācittiya for continuing to speak evasively or remain silent: If he continues being uncooperative, he may further be subject to a more severe penalty, a censure transaction (tajjanīya-kamma) for being a maker of trouble and strife for the Community ([Cv.I.1-8](./Section0060.html#Cv.I.1.4)—[BMC2, Chapter 20](./Section0060.html#BMC2chapter20)). If he finally admits to having committed the offense about which he is being questioned—or another previously unconfessed offense—he is subject to what is essentially the same thing: an act of further punishment (tassa-pāpiyasikā-kamma) for not admitting to a true charge right from the start (see the discussion under the Adhikaraṇa-samatha rules, [Chapter 11](./Section0027.html#BMC1chapter11)).
Non-offenses
If a bhikkhu answers not to the point or remains silent for any of the allowable reasons, he incurs no penalty even after a transaction of evasive speech or causing frustration has for some reason been enacted against him.
Summary: Persistently replying evasively or keeping silent in order to conceal one’s own offenses when being questioned in a meeting of the Community—after a formal charge of evasive speech or causing frustration has been brought against one—is a pācittiya offense.
\ \ \*
13
Criticizing or complaining (about a Community official) is to be confessed.
Community officials. In the Cullavagga (VI.11.2-4; VI.21.1-3), the Buddha gives allowances for a Community of bhikkhus to designate various of its members as Community officials to handle such business as distributing food, deciding who will stay in which dwelling, keeping the rosters that decide who will receive the invitations to which meals, etc. Ven. Dabba Mallaputta was the first such official and was well-equipped for the job:
“As for those bhikkhus who came at night, he would enter the fire element for them and by that light would assign them dwellings—so much so that bhikkhus arrived at night on purpose, thinking, ‘We will see the marvel of Ven. Dabba Mallaputta’s psychic power.’ Approaching him, they said, ‘Friend Dabba, assign us dwellings.’
“Ven. Dabba Mallaputta said, ‘Where would you like? Where shall I assign them?’
“Then they named a distant place on purpose: ‘Friend Dabba, assign us a dwelling on Vulture’s Peak Mountain. Friend Dabba, assign us a dwelling on Robber’s Cliff….’
“So Ven. Dabba Mallaputta, entering the fire element for them, went before them with his finger glowing, while they followed right behind him with the help of his light.”—Cv.IV.4.4
Even with his special skills, there were bhikkhus who were dissatisfied with the dwellings and meals he assigned to them—as we saw under [Sg 8](./Section0011.html#Sg8) & [9](./Section0011.html#Sg9)—and in the origin story to this rule they criticize and complain about him.
The factors for a full offense here are three: object, intention, and effort—although the Vibhaṅga makes intention an integral part of its definition of the factor of effort.
Object
This factor is fulfilled only by (1) an ordained person who (2) has been properly authorized as a Community official and (3) does not habitually act out of the four causes for bias: desire, aversion, delusion, or fear. With regard to the first two of these sub-factors, the Vibhaṅga does not state whether “ordained person” would include bhikkhunīs in addition to bhikkhus, but the Commentary treats it as including bhikkhus only. The Vibhaṅga does state that the following people who act as Community officials are grounds for a dukkaṭa: an ordained person who hasn’t been formally authorized, an ordained person who has been improperly authorized, and an unordained person, regardless of whether he/she has been formally authorized, improperly authorized, or not authorized at all. With regard to the third sub-factor, anyone who would otherwise be grounds for a pācittiya or a dukkaṭa is not grounds for an offense if he/she behaves in a biased way.
Perception is not a factor here. Thus, if the official is actually properly authorized, he fulfills this factor whether one perceives his authorization as proper, improper, or doubtful. If he is improperly authorized, he is grounds for a dukkaṭa whether one perceives his authorization as proper, improper, or doubtful. In other words, this is another case where the pattern set out under [Pc 4](./Section0016.html#Pc4) does not hold.
(The PTS edition of the Canon says that if one perceives an improper authorization as improper, there is no offense, but the Thai, Sri Lankan, and Burmese editions of the Canon, together with the PTS edition of the K/Commentary, all agree with the above reading.)
Intention
One’s motive is to make him lose face, lose status, or feel abashed.
Effort
The Vibhaṅga defines criticizing as criticizing or complaining about a Community official to an ordained person with the desire of making the official lose face, lose status, or feel abashed. The line between effort and intention appears blurred here, in that the intention is a part of the definition of “effort,” but the non-offense clauses provide an exemption for critical remarks that are motivated simply by a desire to tell the truth.
The Commentary and Sub-commentary give the clearest description of the distinction between criticizing and complaining: To criticize means to speak critically of a person in the presence of one or more other people so as to make them form a low opinion of him/her. To complain means simply to give vent to one’s criticisms of the person within earshot of someone else.
According to the Vibhaṅga, the penalty for criticizing or complaining about a Community official is a pācittiya if one’s listener is ordained, and a dukkaṭa if not (§). The question of who one’s remarks are addressed to is irrelevant if one is criticizing or complaining about an unauthorized ordained Community official, or an unordained Community official, authorized or not: The penalty is a dukkaṭa, regardless.
Non-offenses
As mentioned above, if a Community official acts habitually out of any of the four causes for bias—desire, aversion, delusion, or fear—there is no offense in criticizing or complaining about him. For example, if he assigns the best dwellings to certain bhikkhus simply because he likes them, gives the poorest food to certain bhikkhus simply because he dislikes them, habitually sends the wrong bhikkhus to the wrong meals because he is too stupid to handle the rotating rosters properly, or gives the best treatment to certain bhikkhus because he is afraid of them or their supporters, there is no offense in criticizing his behavior in the presence of others.
The reason for this allowance is that one of the qualifying factors for a Community official is that he be unbiased (see [BMC2, Chapter 18](./Section0058.html#BMC2chapter18)). Thus any complaint of bias would be tantamount to an accusation that the Community transaction authorizing him as an official was invalid, and the Community would then be duty bound to look into the matter.
However, one should be very sure of the facts of the case before taking advantage of this allowance, for—as noted above—perception is not a mitigating factor under this rule. Disappointment and anger have a way of coloring one’s perceptions, making another person’s perfectly blameless behavior look biased and unjust. If one criticizes or complains about an official, thoroughly convinced that he has been acting out of bias, one is still guilty of an offense if it turns out that in fact the official’s behavior has been fair. The same considerations apply also to complaints or criticisms concerning anyone, ordained or not.
To criticize a Community official to his face, simply for the sake of hurting his feelings, would be an offense under [Pc 2](./Section0016.html#Pc2), regardless of whether his behavior has in fact been biased or not.
The job of a Community official is often a thankless one. The procedures he must follow in distributing invitations, etc., can be fairly complex and, in large Communities, quite time-consuming. Because there is no way he can guarantee equal treatment to all, there may be times when he seems to be acting out of bias when he is simply following standard procedure. If he cannot receive the benefit of the doubt from his fellow bhikkhus, there is no incentive for him to undertake these duties in the first place. The Buddha likened material gains to excrement (see [AN 5:196](/suttas/AN/AN5_196.html)), and when excrement is shared out there is rarely any point in complaining about who gets the choicest portions.
Summary: If a Community official is innocent of bias: Criticizing him within earshot of another bhikkhu is a pācittiya offense.
\ \ \*
14
Should any bhikkhu set a bed, bench, mattress, or stool belonging to the Community out in the open—or have it set out—and then on departing neither put it away nor have it put away, or should he go without taking leave, it is to be confessed.
During the four months of the rains, furniture belonging to the Community—when not in use—is to be kept in a place where it will not be rained on, such as a fully-roofed storeroom or dwelling. The Vibhaṅga to this rule contains an allowance whereby during the remainder of the year it may also be kept in an open pavilion roofed with slats or branches, or under a tree where birds do not leave droppings. (At present, tents would fit under “pavilions” here.) The Commentary implies, though, that this latter allowance holds only in those regions with a distinct dry season; and, according to the Sub-commentary, even where there is a dry season, if a bhikkhu sees an unseasonable rain storm approaching he should not leave furniture in such semi-open places. And as we can infer from the Vibhaṅga to the next rule, even during the dry season this allowance applies only as long as one continues to reside in the monastery.
This rule deals with a bhikkhu who sets furnishings of the Community out in the open and then leaves without taking leave or getting them put away in the proper place. The factors for the full offense are three.
1) Object: any bed, bench, mattress, or stool belonging to the Community.
2) Effort: One sets such furnishings out in the open and then departs without taking leave, putting the furnishings away, or getting them put away in the proper place.
3) Intention: One has set them out for some purpose other than sunning them (§).
Object
Any bed, bench, mattress, or stool belonging to the Community is grounds for a pācittiya. Perception as to whether the item belongs to the Community is not a mitigating factor here (see [Pc 4](./Section0016.html#Pc4)). Carpets, bedspreads, mats, ground-covering under-pads, foot-wiping cloths, and wooden chairs belonging to the Community are grounds for a dukkaṭa, as are both classes of furnishings—beds, etc., and carpets, etc.—belonging to another individual. One’s own furnishings are not grounds for an offense.
According to the Commentary, if one has made an arrangement with someone else to take his/her belongings on trust, there is no offense in leaving that person’s furnishings out in the open. The Sub-commentary adds that any furnishings a donor presents for the Community to use out in the open—e.g., stone or concrete benches—are likewise not grounds for an offense.
Under this rule, the Commentary contains a long essay on the proper storage of brooms. Because its remarks are based on an improper application of the Great Standards—brooms were known in the time of the Buddha and yet he chose not to include them under this rule—there is no reason to regard them as binding.
Effort
The Vibhaṅga defines departing the furnishings as going further than one leḍḍupāta—approximately 18 meters—from them. It does not define “taking leave,” aside from stating that one may take leave from a bhikkhu, a novice, or a monastery attendant. This much, however, establishes that even though the Pali verb for taking leave, āpucchati, is etymologically related to the verb for asking, pucchati, the act of taking leave does not mean asking permission, for nothing in the Canon suggests that a bhikkhu has to get a novice’s or a lay attendant’s permission for his actions. The Commentary expands on this point, saying that taking leave means informing a bhikkhu, a novice, or a temple attendant whom one assumes will take responsibility for the furnishings. Unlike the following rule, where the intent to return is a mitigating factor, here it is not: Once a bhikkhu has departed from the furnishings, he has completed the factor of effort here even if he intends to return immediately.
Responsibility
A bhikkhu is held responsible for putting away furnishings that he has ordered another person to place in the open, unless the other person is also a bhikkhu, in which case he is the one responsible. The Commentary states that if a senior bhikkhu requests a junior bhikkhu to place out in the open any furnishings that may be grounds for a penalty, then the junior bhikkhu is responsible for them until the senior bhikkhu sits down on them, places an article of his use (such as a robe or a shoulder bag) on them, or gives the junior bhikkhu permission to leave, after which point the senior bhikkhu is responsible.
The Commentary also states that if there is to be an open-air meeting, the host bhikkhus are responsible for any seats set out in the open, until the visiting bhikkhus claim their places, from which point the visitors are responsible. If there is to be a series of Dhamma talks, each speaker is responsible for the sermon seat from the moment he sits in it until the moment the next speaker does.
Non-offenses
As stated above, there is no offense if one departs having set furnishings belonging to the Community or another individual out in the sun with the purpose of drying them, and thinking, “I will put them away when I come back (§).” Also, there is no offense:
if one departs after someone else takes possession of or responsibility for furnishings one has left out in the open;
if there are constraints on the furnishings—the Commentary mentions a senior bhikkhu making one get up from them and taking possession of them, tigers or lions lying down on them, or ghosts or ogres taking possession of them; or
if there are dangers—which according to the Commentary means dangers to one’s life or to one’s remaining in the celibate life—that leave one no time to put the furnishings away.
The Vinaya-mukha, extracting a general principle from this rule, says, “This training rule was formulated to prevent negligence and to teach one to care for things. It should be taken as a general model.”
Summary: When one has set a bed, bench, mattress, or stool belonging to the Community out in the open: Leaving its immediate vicinity without putting it away, arranging to have it put away, or taking leave is a pācittiya offense.
\ \ \*
15
Should any bhikkhu set out bedding in a dwelling belonging to the Community—or have it set out—and then on departing neither put it away nor have it put away, or should he go without taking leave, it is to be confessed.
Here again the three factors for a full offense are object, effort, and intention.
Object
Bedding here includes mattresses, pillows, rugs, sheets, mats, sitting cloths, blankets, bedspreads, animal skins, throw rugs, etc., but not the beds or benches on which they may be placed. Unlike the preceding rule, the question of whom the bedding belongs to is not an issue in determining the offense under this rule.
The place where it is left, though, is an issue. Bedding left in a dwelling belonging to the Community is grounds for a pācittiya. Bedding (§) left in a dwelling belonging to another individual is grounds for a dukkaṭa, as is bedding left in the area around a dwelling, in an assembly hall, an open pavilion, or at the foot of a tree—these last three places belonging to the Community or to another individual.
A bed or a bench taken from its original place and left in any of the above places is grounds for a dukkaṭa. Given that this rule covers a different kind of ”departing” from the preceding rule, this penalty applies even during the periods when one is allowed to keep such things under trees, etc., through the allowance given in the Vibhaṅga to that rule.
Bedding left in a dwelling, etc., belonging to oneself is not grounds for an offense.
According to the Vibhaṅga, this rule applies specifically to bedding that one has oneself set out or arranged to be set out. Thus it would not apply to cases where a bhikkhu comes to a dwelling and finds bedding already set out there, even when set out as a courtesy for him. The Commentary qualifies this point by saying that if a visiting bhikkhu is staying temporarily in a Community dwelling to which another bhikkhu has laid claim (see [BMC2, Chapter 18](./Section0058.html#BMC2chapter18)), the bedding is the responsibility of the bhikkhu with the claim on the dwelling, and not of the visitor. Once the visitor does lay claim to the dwelling, however, responsibility for the bedding becomes his. In line with this qualification, if a monastery has a dwelling set aside for receiving visiting elders, it would be a wise policy for one of the resident bhikkhus to lay claim to it so that visiting elders would not have to be responsible for any bedding set out for them.
Perception as to whether the dwelling belongs to the Community or to another individual is not a mitigating factor here (see [Pc 4](./Section0016.html#Pc4)).
Effort
The Commentary’s discussion of putting the item away shows that it essentially means putting it back in the safe place where it was kept before being spread out. Thus, if the bedding was hanging in a bundle from a clothesline before being spread out, it should be wrapped in a bundle and hung from the line as before. If it was taken from another room, it should be returned to the room from which it was taken.
Having the item put away and taking leave are defined as under the preceding rule, with one exception: A bhikkhu who orders someone else to spread the item is responsible for it even if the other person is also ordained.
To depart is defined as going outside the grounds of the monastery: beyond the wall of the monastery if it is walled, beyond its vicinity if it is not. (In all rules mentioning this point, the Commentary defines a monastery’s vicinity as a distance of two leḍḍupātas—approximately 36 meters—from the buildings.) However, the absence of any reference to this rule in the protocols to be done before one’s alms round ([Cv.VIII.5](./Section0048.html#Cv.VIII.5.2-3)—see [BMC2, Chapter 9](./Section0048.html#BMC2chapter9)) indicates that temporary excursions outside the monastery are not counted as “departing.” This conclusion is seconded by one of the non-offense clauses here, discussed below, which says that when a bhikkhu goes with the expectation of returning but then sends word back to the monastery that he is taking leave, he avoids any penalty under this rule. This implies that a bhikkhu who leaves his bedding spread out in a dwelling belonging to the Community, leaves the monastery temporarily with the intent of returning, and returns as planned, incurs no penalty as well.
The question arises, though, as to how long a temporary period of absence is allowable. The Vibhaṅga itself sets no time limit. The Commentary illustrates the non-offense clause we have just mentioned with the case of a bhikkhu who leaves, thinking, “I will return today,” but makes no specific statement that longer periods are not allowed.
Because the texts give no specific guidelines here, this is a matter that each Community should decide for itself, taking the following considerations into account:
1) The origin story suggests that the purpose of the rule is to prevent the bedding’s being left so long in an unoccupied dwelling that it attracts ants, termites, or other pests.
2) Another consideration, raised by the Vinaya-mukha, is that if a bhikkhu goes for a long excursion, leaving his bedding and other belongings scattered about in a dwelling, this might inconvenience the resident bhikkhus in that they could not easily allot the dwelling to another bhikkhu in the interim.
Intention
is a factor here, in that—as mentioned above—if one plans to return within the allowable space of time, there is no offense. This point is conveyed by a passage in the non-offense clauses that reads, “having gone with the desire (to return), staying there one takes leave; he is constrained by something or another.” The Commentary, reasonably, reads this passage as two exemptions governed by the first phrase. In other words, (1) if one leaves the monastery with the intent to return and then, after reaching the opposite bank of a river or going the interval of one village away, one changes one’s mind and decides not to return, one can avoid an offense by sending word back to the monastery with the message that one is taking leave. Or, (2) if one leaves the monastery with the intent to return but encounters physical constraints—such as flooded rivers, kings, or robbers—that prevent one’s return, that in and of itself exempts one from an offense, and there is no need to send word.
Non-offenses
In addition to these two exemptions, the Vibhaṅga says that there is no offense in departing having left bedding spread out in a dwelling if someone else has taken responsibility for the bedding or if one has taken leave of a bhikkhu, a novice, or a monastery attendant. According to the protocols to be done before leaving a monastery to live elsewhere ([Cv.VIII.3.2](./Section0048.html#Cv.VIII.3.2-3)), if there is no one from whom to take leave, “then having set the bed on four stones, having stacked bed on bed, bench on bench, having placed the lodgings (including the bedding) in a heap on top, having put away the wooden goods and clay goods, having closed the windows and doors, he may set out.”
And as under the preceding rule, there is no offense if there is a constraint on the bedding or there are dangers—i.e., constraints or dangers that would prevent one from putting them away before leaving.
Summary: When one has spread bedding out in a dwelling belonging to the Community: Departing from the monastery without putting it away, arranging to have it put away, or taking leave is a pācittiya offense.
\ \ \*
16
Should any bhikkhu knowingly lie down in a dwelling belonging to the Community so as to intrude on a bhikkhu who arrived there first, (thinking), “Whoever finds it confining will go away”—doing it for just that reason and no other—it is to be confessed.
There are four factors for an offense here.
1) Object: a bhikkhu who should not be forced to move.
2) Perception: One perceives him as such.
3) Effort: One intrudes on his space in a dwelling belonging to the Community
4) Intention: with the sole purpose of forcing him out.
Object & perception
Knowingly is defined in the Vibhaṅga as knowing that the dwelling’s current occupant is a senior bhikkhu, a sick one, or one to whom the Community (or its official) has assigned the dwelling. The Commentary interprets this definition as a list of examples and generalizes from it to include any case where one knows, “This bhikkhu shouldn’t be forced to move.”
Effort
To intrude means to lie down or sit down in the area immediately adjacent to the bhikkhu’s sleeping or sitting place—which the Commentary defines as anywhere within 75 cm. of the sleeping or sitting place—or on a 75 cm. wide path from either of those places to the dwelling’s entrance. There is a dukkaṭa for placing one’s bedding or seat in such an area, and a pācittiya for each time one sits or lies down there. To place one’s bedding or seat in any other part of the dwelling entails a dukkaṭa; and to sit or lie down there, another dukkaṭa—assuming in all of these cases that the dwelling belongs to the Community.
Perception with regard to the dwelling is not an issue here (see [Pc 4](./Section0016.html#Pc4)). If the dwelling actually belongs to the Community, this part of the factor is fulfilled regardless of whether one perceives it as belonging to the Community or not.
There is a dukkaṭa for intruding on the space of a bhikkhu—intending to force him out—in the area immediately adjacent to such a dwelling, in a place belonging to the Community that is not the dwelling of a particular person (e.g., an open pavilion or a meal hall), the shade of a tree, in the open air, or in a dwelling belonging to another individual. To do so in a dwelling belonging to oneself entails no offense. According to the Commentary, this last allowance also applies to a dwelling belonging to anyone who has offered to let one take his/her belongings on trust.
Intention
If there is a compelling reason—one is ill or suffering from the cold or heat, or there are dangers outside—one may intrude on the space of another bhikkhu without penalty. The reason for these allowances would appear obvious—one is not aiming at forcing the other bhikkhu out—but the matter is not as simple as that. The Sub-commentary reports the Three Gaṇṭhipadas as saying that because of this allowance, one may make an excuse of one’s illness, etc., as a pretext for intruding on the other bhikkhu’s space so as to force him out of the dwelling. The Sub-commentary tries to argue with this ruling, but the Gaṇṭhipadas have the support of the Vibhaṅga here: Only if one’s sole motive is to force the other bhikkhu out is one subject to an offense under this rule. If one has mixed motives, one may take advantage of one’s illness, etc., to move in on the other bhikkhu.
However, once the illness, etc., has passed, one would commit an offense each time one continued to sit or lie down intruding on his space.
All of this may seem very strange on the surface, but it is likely that the original occupant would not feel unduly pressured if an ill bhikkhu or one escaping dangers were to move into his dwelling, while he would start feeling pressured by the continued presence of the bhikkhu after the illness or dangers had passed, which is why the penalties are allotted as they are.
Summary: Intruding on another bhikkhu’s sleeping or sitting place in a dwelling belonging to the Community, with the sole purpose of making him uncomfortable and forcing him to leave, is a pācittiya offense.
\ \ \*
17
Should any bhikkhu, angered and displeased, evict a bhikkhu from a dwelling belonging to the Community—or have him evicted—it is to be confessed.
“At that time some group-of-seventeen bhikkhus (see [Pc 65](./Section0022.html#Pc65)) were fixing up a large dwelling on the fringes of the monastery, thinking, ‘We will spend the Rains here.’ Some group-of-six bhikkhus… seeing them, said, ‘These group-of-seventeen bhikkhus are fixing up a dwelling place. Let’s drive them out.’ But others of them said, ‘Wait, friends, while they fix it up. When it’s fixed up, then we’ll drive them out.’
“Then the group-of-six bhikkhus said to the group-of-seventeen bhikkhus, ‘Get out, friends. The dwelling is ours.’
“‘Shouldn’t this have been mentioned beforehand so that we could have fixed up another one?’
“‘Isn’t this a dwelling belonging to the Community?’
“‘Yes….’
“‘Then get out. The dwelling is ours.’
“‘The dwelling is large, friends. You can stay here, and we’ll stay here, too.’
“‘Get out. The dwelling is ours.’ And, angered and displeased, seizing them by the throat, they threw them out. The group-of-seventeen bhikkhus, having been thrown out, began to cry.”
The three factors for the full offense here are:
1) Object: a bhikkhu.
2) Effort: One evicts him from a dwelling belonging to the Community.
3) Intention: One’s prime impulse is anger.
Object
A bhikkhu is grounds for a pācittiya here, while the following are grounds for a dukkaṭa: a bhikkhu’s belongings, an unordained person, and an unordained person’s belongings.
Effort
According to the Commentary, this rule covers both physical eviction—picking up the bhikkhu and throwing him out—as well as verbal eviction—ordering him to leave. The penalty in both cases is the same. (The Mahāsāṁghikas and Sarvāstivādins write this point into their version of the rule.) The Vibhaṅga counts offenses here as follows: a pācittiya for evicting the bhikkhu from the room to the porch, and another pācittiya for evicting him off the porch. If, with a single effort, one evicts him through many doors, one incurs a single pācittiya.
There is a dukkaṭa in telling someone else to evict the bhikkhu—no allowances for kappiya-vohāra are given here—and, assuming that all the other factors are fulfilled, a pācittiya once the bhikkhu has been evicted, regardless of how many efforts it takes. (The Thai edition of the Canon assigns a pācittiya for the order/request for someone else to do the eviction, but even the Thai edition of the Commentary assigns only a dukkaṭa here, as do all the other major editions of the Canon, so the Thai reading here is probably mistaken.)
To evict a bhikkhu from a dwelling belonging to the Community entails a pācittiya. As under the preceding rule, perception with regard to the ownership of the dwelling is not an issue here. To evict anyone—bhikkhu or not—from an area immediately adjacent to a dwelling belonging to the Community, from a place belonging to the Community that is not the dwelling of a particular person, from the shade of a tree, from a spot in the open air, or from a dwelling belonging to another individual entails a dukkaṭa. There is also a dukkaṭa for throwing a person’s belongings out from any of these places. (In all the cases mentioned in this paragraph, the assumption is that one is motivated by anger.)
To evict anyone or anyone’s belongings from one’s own dwelling—or from one that belongs to an individual who has offered to let one take his/her belongings on trust—is not grounds for an offense.
Perception as to whether the dwelling belongs to the Community is not a mitigating factor here (see [Pc 4](./Section0016.html#Pc4)).
Intention
There is no offense in evicting anyone when one’s primary impulse is not anger. Examples given in the non-offense clauses include evicting anyone—or the requisites of anyone—who is insane, unconscientious in his/her behavior, or a maker of quarrels, strife, and dissension in the Community. The Commentary adds here that one also has the right to throw the person out of the monastery as a whole if he/she is a maker of quarrels, strife, and dissension, but not if he/she is simply unconscientious.
The Vibhaṅga adds that one may without penalty evict one’s student or his belongings from his dwelling if he is not properly observing his duties.
In all of these cases, the Sub-commentary notes, if anger happens to arise in one’s mind in the course of evicting the person, there is no offense as long as it is not the primary impulse.
The texts do not mention the case where one’s primary motive is greed, and the origin story suggests why: The group-of-six bhikkhus’ anger was simply a function of frustrated greed, and the two emotions would easily go together in any infraction of this rule.
Summary: Causing a bhikkhu to be evicted from a dwelling belonging to the Community—when one’s primary impulse is anger—is a pācittiya offense.
\ \ \*
18
Should any bhikkhu sit or lie down on a bed or bench with detachable legs on an (unplanked) loft in a dwelling belonging to the Community, it is to be confessed.
Object
A loft is a partial second story in a dwelling; an unplanked loft is one whose joists have not been covered with floorboards. A bed or bench with detachable legs on an unplanked loft is grounds for a pācittiya under this rule if it is in a dwelling belonging to a Community, a dukkaṭa if in a dwelling belonging to another individual, and no offense if in a dwelling belonging to oneself or to anyone who has offered to let one take his/her belongings on trust. Perception of the ownership of the dwelling, as in the preceding rules, is not an issue here.
The purpose of this rule, as indicated by the origin story, is to guard against injury to a bhikkhu living under the loft: He might get hit on the head if any of the detachable legs fall down through the joists of the loft. Thus there is no offense if the loft is not high enough off the ground for a man of medium height to stand under it without hitting his head; if the floor of the loft is completely planked; if there is no one under the loft; if the area under the loft cannot be used as a dwelling (e.g., it is used solely for storage space, says the Commentary); if the bed or bench with detachable legs is on the ground; or if the legs of the bed or bench are securely fixed to their frame.
Effort
There is a question as to whether sitting and lying down would include standing as well, inasmuch as the non-offense clauses allow one “to stand there and hang things up or take them down.” The Commentary interprets “there” as a bed or bench with detachable legs, but standing on such a thing would seem to be even more dangerous than sitting or lying down on it. More probably, “there” refers to the unplanked loft.
Some people have noted that although the bhikkhu in the origin story sat down hurriedly, the word hurriedly does not appear in the rule, and they speculate that it may have been dropped by mistake. If one is not allowed at all to sit or lie down on a bed or bench with detachable legs on an unplanked loft, they say, there would be no reason to have one there. Actually, beds with detachable legs do not sound like wise things to have on an unplanked loft, and perhaps the Buddha’s purpose in formulating this rule was to discourage their being placed there in the first place.
Summary: Sitting or lying down on a bed or bench with detachable legs on an unplanked loft in a dwelling belonging to the Community is a pācittiya offense.
\ \ \*
19
When a bhikkhu is having a large dwelling built, he may supervise two or three layers of facing to plaster the area around the window frame and reinforce the area around the door frame the width of the door opening, while standing where there are no crops to speak of. Should he supervise more than that, even if standing where there are no crops to speak of, it is to be confessed.
“Now at that time a chief minister who was Ven. Channa’s supporter was having a dwelling built for Ven. Channa. Ven. Channa had the finished dwelling covered with roofing material again and again, plastered again and again, so that the dwelling, overloaded, caved in. Then Ven. Channa, collecting grass and sticks, despoiled the barley field of a certain brahman. The brahman criticized and complained and spread it about, ‘How can their reverences despoil our barley field?’… Bhikkhus… criticized and complained and spread it about, ‘How can Ven. Channa have a finished dwelling covered with roofing material again and again, plastered again and again, so that the dwelling gets overloaded and caves in?’”
This rule is an extension of [Sg 7](./Section0011.html#Sg7), giving further directions for how to go about building a dwelling for one’s own use when sponsored by another person. Because the rule deals with techniques used in building wattle and daub dwellings 2,500 years ago, the rule and its explanations in the Canon and commentaries contain terms whose meaning is uncertain at present. The syntax of the rule suggests one interpretation, the Commentary another, while the Vibhaṅga is non-committal on the points where the two interpretations differ. Because both interpretations make sense, we will present them both.
What the rule seems to say
The area 1.25 meters around the door frame is to be covered with up to three layers of plaster or roofing material to reinforce it so that when the door is blown open or shut it will not damage the wall or be loosened from its hinges. Five kinds of roofing material are mentioned in the Vibhaṅga: tiles, stones, lime (cement), grass, and leaves.
Similarly, around the windows, an area the width of the window shutters is to be reinforced with up to three layers of plaster to protect it from being damaged when the shutters are blown open or shut. Three kinds of plaster were used in the Buddha’s time—white, black, and ochre—and bhikkhus were allowed to apply them in a number of geometrical patterns, but not to use them to make obscene pictures of men and women on the walls (!) ([Cv.VI.3.1-2](./Section0045.html#Cv.VI.3.1)). Although the bhikkhus were allowed to cover the entire walls and floor with this plaster, this rule gives directions only for the minimum area that should be covered to keep the walls strong.
What the Commentary says
Because the rule refers to roofing material, the Commentary assumes that it must refer to the roof of the dwelling, even though this assumption does violence to the syntax of the rule. Its interpretation: One may reinforce the door and window frames with as much plaster or roofing material as one likes, but may cover the roof with only three layers of roofing material. A relevant point from the Canon is the passage at [Cv.VIII.3.3](./Section0048.html#Cv.VIII.3.2-3) stating that if at a later date the roof begins to leak, the resident bhikkhu—if he can—should re-roof it himself or arrange for someone else to do it for him. If he can do neither, though, there is no offense.
The reasons for this rule
The origin story suggests that the Buddha imposed the three-layer limit in order to prevent the dwelling from collapsing under the weight of too much roofing material, but the non-offense clauses show clearly that the rule is aimed at preventing bhikkhus from abusing the generosity of the person sponsoring the building work. In either case, the Commentary’s interpretation has its logic, in that an overloaded roof would be more burdensome to the dwelling and to the sponsor than an overloaded window or door frame would be.
A supplementary regulation arising from the origin story is that one should not perform any building operations, including supervising, where crops are growing.
The offenses here are as follows: a pācittiya for each piece of roofing beyond the allowable three layers, and a dukkaṭa for doing or directing the work while standing where crops are growing. These offenses apply regardless of whether one is doing the work oneself or having it done. They also apply whether one is building a new dwelling or having an old one repaired.
Perception as to whether one has exceeded the allowable number of layers is not a factor here (see [Pc 4](./Section0016.html#Pc4)).
Non-offenses
According to the Vibhaṅga, these regulations do not apply to “an abode in a cave, a grass hut, (a dwelling) for the use of another, (a dwelling built) by means of one’s own resources, or anything other than a dwelling.” The Sub-commentary argues from the wording of the rule—its reference to “a large dwelling”—that the regulations also do not apply to small dwellings built to the standard measurement specified under [Sg 6](./Section0011.html#Sg6): i.e., no larger than 3 by 1.75 meters.
Summary: When a bhikkhu is building or repairing a large dwelling for his own use, using resources donated by another, he may not reinforce the window or door frames with more than three layers of roofing material or plaster. To exceed this is a pācittiya offense.
\ \ \*
20
Should any bhikkhu knowingly pour water containing living beings—or have it poured—on grass or on clay, it is to be confessed.
This is an offense with four factors.
Object:
Water containing living creatures. The K/Commentary’s contribution to the next factor shows that this includes things like mosquito larvae, but not beings so small they cannot be seen.
Perception
Knowingly, according to the Vibhaṅga, means that one either knows on one’s own or has been told that the living creatures are there. The K/Commentary adds two points: (1) knowing on one’s own means that one has either seen them or heard (that they are there); and (2) knowing also includes knowing that they will die from the factor of effort, defined below.
If one is in doubt as to whether water contains living beings (e.g., the water is murky or in a dark place; it contains seeds that bear a resemblance to insects), then to use it in a way that would cause their death if they were there is to commit a dukkaṭa. If one thinks that the water contains living beings when it actually doesn’t, the penalty for using it in such a way is also a dukkaṭa.
Effort
Because of a peculiarity of Pali grammar, the Commentary states that, in addition to the above reading, this rule can also be interpreted as reading, “Should any bhikkhu knowingly pour grass or clay—or have it poured—in water containing living beings, it is to be confessed.” It also states that grass and clay in the context of this second reading would include any material that would cause death to living beings in the water. There are two objections to the Commentary’s second reading: One is that it defies the natural word order of a prose sentence in canonical Pali; the other is that the Pali word for “pour”—siñcati—is used only for water and not for solids like grass and clay. Still, even if this second reading is not quite grammatical, the Great Standards could be invoked for including it under this rule to prevent the pouring of lethal pollutants into water. Thus actions covered by this rule would include, under the first reading, such things as emptying old water from a flower vase onto the ground or pouring water into a basin filled with cement-mix; and, under the second reading, pouring a toxic chemical into the water.
Unlike some of the other rules that deal with giving orders, simply giving the order to pour is enough to fulfill this factor. Thus, for example, a bhikkhu who tells someone else to dump an aquarium of fish on the floor incurs a pācittiya for giving the order and another pācittiya when the other person does as told. If a bhikkhu gives one request for water to be poured but the other person pours water many times, the bhikkhu incurs only two pācittiyas: one for the request, and one for the fact that his request was obeyed.
As with all the rules covering threats to an animal’s life, there is no allowance for kappiya-vohāra (“wording it right”) under this rule.
Intention
This factor is fulfilled simply by the immediate aim of pouring the water or having it poured (or of pouring “grass and clay” into the water or having it poured). For example, if after perceiving that the water contains insects, one chooses to ignore their existence and pours the water on a burning log—not to kill the insects, but to put out the fire—one commits an offense all the same.
In fact, the K/Commentary claims that for one’s actions to fall under this rule, one must not be motivated by a murderous intention. This claim was apparently inspired by a desire to prevent any overlap between this rule and [Pc 61](./Section0022.html#Pc61), for there is nothing in the Vibhaṅga to allow for motivation to count as a sub-factor here. The K/Commentary’s claim would also have an anomalous result in practice: If Bhikkhu A, with murderous intent, pours water on the ground but the animals in the water don’t die, he would incur only a dukkaṭa under [Pc 61](./Section0022.html#Pc61); if Bhikkhu B, with no murderous intent, pours water on the ground and the animals don’t die, he would incur the stronger penalty of a pācittiya under this rule. Thus there seems no reason to follow the K/Commentary on this point. In other words, regardless of motivation, if one intends to pour water, or have it poured, and then acts on that intention, one’s actions would fall under this rule.
Result is not a factor here. Whether the living beings actually die is of no consequence in determining the offense.
Non-offenses
There is no offense in using water containing living beings in any of the ways covered by this rule—
unknowingly—e.g., not knowing that it contains living beings; pouring a toxic chemical into the water thinking it to be harmless;
unthinkingly—e.g., heating a kettle of water on the stove, seeing that it has tadpoles in it and in a knee-jerk reaction dumping the water out on the ground so that they won’t be boiled to death; or
unintentionally—e.g., accidentally knocking over a goldfish bowl.
However, a bhikkhu should always check water before using it. Water strainers are discussed in [BMC2, Chapter 3](./Section0042.html#BMC2chapter3).
Watering plants
The topic of watering plants comes up in the Commentary’s discussion of the bad habits of the bhikkhus at Kīṭāgiri mentioned under [Sg 13](./Section0011.html#Sg13). There it says that even if the water has no discernable life, to use it or have someone else use it to water plants with the purpose of corrupting families with gifts from the plant entails a dukkaṭa. In cases of this sort, one is not allowed to use kappiya-vohāra or any other way of indicating one’s desire that the plant be watered.
If one wants to use the fruits or flowers of the plant in other ways—to eat the fruit oneself, to make a gift of fruit to the Community, to use the flowers as an offering to a Buddha image, etc.—one may not water it oneself, but there is no offense in getting someone else to water it if one uses kappiya- vohāra. (“Look at how dry this plant is!” “If it doesn’t get any water, it’s going to die.”)
If one wants the plant to grow for other reasons—for the sake of its shade or as part of a decorative garden or forest—there is no offense in watering it oneself as long as one uses water with no discernable life in it. Two of the ancient commentaries add that if one simply desires shade, a garden, or a forest, one may plant the plant oneself as long as one places it in earth that would not count as “genuine soil” (jātā paṭhavī) under [Pc 10](./Section0016.html#Pc10).
Summary: Pouring water that one knows to contain living beings—or having it poured—on grass or clay is a pācittiya offense. Pouring into such water anything that would kill the beings—or having it poured—is also a pācittiya offense.