Thuật ngữ này có nghĩa là "cần được học và thực hành." Có 75 học giới trong nhóm này, được chia theo chủ đề thành bốn nhóm: phép tắc trong cách mặc y và cư xử khi ở trong khu vực có người cư trú; phép tắc trong việc nhận và dùng thức ăn khất thực; phép tắc khi thuyết Pháp; và phép tắc khi tiểu tiện, đại tiện, và khạc nhổ.
Bản thân các điều giới không áp đặt hình phạt trực tiếp. Thay vào đó, chúng chỉ nêu: "(Đây là) điều học cần được thực hành." Tuy nhiên, Vibhaṅga quy định rằng việc vi phạm bất kỳ điều nào trong số này với thái độ bất kính sẽ phạm dukkaṭa (đột-cát-la). Các điều khoản không phạm tội ghi rõ trong từng trường hợp rằng vi phạm chúng một cách vô ý, không suy nghĩ, hoặc không hay biết, hoặc không tuân theo khi có nguy hiểm hoặc (trong hầu hết các trường hợp) khi bị bệnh, thì không mang lại hình phạt. (Điều khoản miễn trừ vì nguy hiểm không có trong bản ấn bản Miến Điện của Tạng Kinh.)
Chú giải bổ sung rằng "không hay biết" trong trường hợp này không có nghĩa là không biết điều giới. Đối với một tỳ-kheo (bhikkhu) mới thụ giới mà không cố gắng tìm hiểu các điều giới, chú giải nói, điều đó sẽ được coi là bất kính. Vì vậy, "không hay biết" ở đây có nghĩa là không biết rằng một tình huống trái với điều giới đã xảy ra. Chẳng hạn, nếu không biết rằng y của mình đã bị lệch, thì điều đó không tính là vi phạm điều giới liên quan.
Một: 26 Điều Liên Quan Đến Hành Vi Đúng Đắn
Tạng Kinh chứa nhiều câu chuyện trong đó hành vi của một tỳ-kheo khiến người khác trở nên quan tâm đến Chánh pháp. Ví dụ nổi tiếng nhất là câu chuyện về cuộc gặp gỡ đầu tiên của Tôn giả Sāriputta với Tôn giả Assaji.
"Vào lúc bấy giờ, du sĩ Sañjaya đang trú tại Rājagaha cùng với một đoàn đông du sĩ — tất cả 250 người. Và vào lúc bấy giờ, Sāriputta và Moggallāna đang thực hành đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sañjaya. Họ đã giao kết với nhau: Ai chứng ngộ Bất Tử trước sẽ báo cho người kia biết.
"Rồi Tôn giả Assaji, sáng sớm đắp y, mang bát và (y ngoài), vào Rājagaha khất thực: uy nghi trong cách tiến và lui, nhìn về phía trước và phía sau, co vào và duỗi ra (cánh tay); mắt nhìn xuống, mọi cử chỉ đều hoàn hảo. Du sĩ Sāriputta nhìn thấy Tôn giả Assaji đang đi khất thực trong Rājagaha: uy nghi… mắt nhìn xuống, mọi cử chỉ đều hoàn hảo. Khi nhìn thấy ngài, tư tưởng khởi lên trong tâm ông: 'Chắc chắn, trong số những tỳ-kheo trong thế gian này là bậc A-la-hán hoặc đã bước vào con đường đến A-la-hán, đây là một người. Nếu ta đến gặp vị ấy và hỏi: "Này Đạo hữu, vì ai mà đạo hữu đã xuất gia? Hoặc ai là thầy của đạo hữu? Hoặc đạo hữu hoan hỷ trong Pháp của ai?"'
"Nhưng rồi tư tưởng khởi lên trong tâm du sĩ Sāriputta: 'Đây là thời điểm không thích hợp để hỏi vị ấy. Vị ấy đang vào giữa các nhà để khất thực. Nếu ta đi theo phía sau vị tỳ-kheo này (để biết) con đường được khám phá bởi những ai tìm cầu nó?'"—[Mv.I.23.1-3](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/Mv/MvI.html#pts23_1)
Dù các điều giới sau đây liên quan đến những điều nhỏ nhặt, một tỳ-kheo nên tự nhắc nhở rằng những chi tiết nhỏ trong hành vi của mình thường có thể tạo ra sự khác biệt giữa việc khơi dậy hay dập tắt sự quan tâm đến Chánh pháp của người khác.
#1 [2]
Tôi sẽ mặc hạ y [thượng y] quấn quanh (người): điều học cần được thực hành.
Mặc hạ y quấn quanh có nghĩa là mặc với mép trên vòng quanh thắt lưng, che rốn, và mép dưới che đầu gối. Đây được gọi là che "ba vòng tròn." Chú giải nêu rằng khi đứng, mép dưới không được thấp hơn đầu gối quá tám khoát ngón tay, dù nếu cẳng chân bị dị dạng thì được phép che nhiều hơn thế.
Mặc thượng y quấn quanh có nghĩa là, theo Vibhaṅga, giữ cho cả hai đầu của mép trên thẳng hàng với nhau, và tương tự với cả hai đầu của mép dưới. Tuy nhiên, mép dưới của thượng y không cần phải ngang bằng với mép dưới của hạ y. Với kích thước của thượng y vào thời Đức Phật, y sẽ không kéo dài xuống tận đó.
Cố ý mặc một trong hai y buông thõng ở phía trước hoặc phía sau là vi phạm các điều giới này. Chú giải nêu rằng mục đích của những điều giới này là ngăn các tỳ-kheo mặc y theo bất kỳ cách nào trong số các cách mà người cư sĩ vào thời đó mặc — ví dụ: xếp li "với 100 li," buộc lại, hoặc vén lên giữa hai chân. Chú giải cũng nhận xét rằng vì những điều giới này không được giới hạn, như các điều sau, bằng cụm từ "trong khu vực có người cư trú," chúng nên được tuân theo cả trong tu viện lẫn ở các vùng hoang dã. Tuy nhiên, các quy tắc về vùng hoang dã ([Cv.VIII.6.2-3](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.6.2-3)) cho thấy rõ ràng rằng các tỳ-kheo không được kỳ vọng phải mặc thượng y quấn quanh ở vùng hoang dã; và các quy tắc về phòng tắm hơi ([Cv.VIII.8.2](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0040.html#Cv.VIII.8.2)) có vẻ cho thấy rằng các tỳ-kheo trên đường đến và từ phòng tắm hơi không bắt buộc phải mặc hạ y che ba vòng tròn miễn là họ che được phần kín trước và sau.
Về mặt thực tế, nếu đang làm việc trên thang cao hoặc trên cây — dù ở làng, tu viện, hay vùng hoang dã — một chính sách khôn ngoan là vén hạ y lên giữa hai chân để giữ gìn phẩm giá.
#3 [4]
Tôi sẽ đi [ngồi] được che phủ kín đáo trong khu vực có người cư trú: điều học cần được thực hành.
Vibhaṅga không định nghĩa khu vực có người cư trú trong điều này hay bất kỳ điều nào sau đây. Thuật ngữ này do đó có lẽ có cùng nghĩa như trong [Pd 1](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0025.html#Pd1): trong nhà của người cư sĩ, hoặc dọc theo các đường phố và ngõ hẻm của làng, thành phố, hoặc thị trấn. Tuy nhiên, điều này không bao gồm các tu viện tọa lạc trong khu vực có người cư trú, vì các quy tắc dành cho tỳ-kheo mới đến ([Cv.VIII.1.2](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.1.2-5)) cho thấy rằng khi Tạng Kinh được biên soạn, các tỳ-kheo không bắt buộc phải mặc thượng y trong tu viện. Tuy nhiên hiện nay, nhiều tu viện tọa lạc trong khu vực có người cư trú yêu cầu các tỳ-kheo sống với họ phải tuân theo nhiều điều giới này khi ra ngoài phòng riêng nhưng vẫn còn trong khuôn viên tu viện.
Che phủ kín đáo, theo Chú giải, có nghĩa là không để lộ ngực hay đầu gối. Mép trên của thượng y nên quanh cổ, và mép dưới che cổ tay. Mép dưới của hạ y, như đã nêu ở trên, nên che đầu gối. Khi ngồi, chỉ có đầu, tay, và cẳng chân từ bắp chân trở xuống được lộ ra.
Sk 4 ở đây có thêm điều khoản không phạm tội: Không phạm tội nếu ngồi không "che phủ kín đáo" trong chỗ ở của mình (§). Theo Vinaya-mukha, điều này có nghĩa là trong phòng của mình khi trú lại qua đêm ở nhà người cư sĩ; tuy nhiên, khi ra ngoài phòng của mình thì nên tuân theo điều giới.
#5 [6]
Tôi sẽ đi [ngồi] với sự thu thúc đúng đắn trong khu vực có người cư trú: điều học cần được thực hành.
Thu thúc đúng đắn, theo Vibhaṅga, có nghĩa là không đùa giỡn bằng tay hay chân. Điều này bao gồm những hành động như nhảy múa, bẻ khớp ngón tay, hoặc vẫy ngón tay hay ngón chân.
#7 [8]
Tôi sẽ đi [ngồi] với mắt nhìn xuống trong khu vực có người cư trú: điều học cần được thực hành.
Vibhaṅga nói rằng một tỳ-kheo nên giữ tầm nhìn xuống đất ở khoảng cách bằng chiều dài một cái cày phía trước — bằng hai mét, theo Chú giải. Mục đích của điều giới này, Chú giải thêm, là ngăn người ta nhìn lơ đãng vào các cảnh vật khi đi. Tuy nhiên, không có gì sai khi nhìn lên khi có lý do để làm vậy. Một ví dụ được đưa ra trong Chú giải là dừng lại để nhìn lên xem có nguy hiểm từ ngựa hay voi đang đến gần. Một ví dụ hiện đại hơn là kiểm tra giao thông trước khi băng qua đường.
#9 [10]
Tôi sẽ không đi [ngồi] với y vén lên trong khu vực có người cư trú: điều học cần được thực hành.
Theo Vibhaṅga, vén y lên có nghĩa là nâng y lên để lộ một bên hoặc cả hai bên thân. [Sk 10](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk9) ở đây, giống như [Sk 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk3), không áp dụng khi ngồi trong chỗ ở của mình trong khu vực có người cư trú (§).
#11 [12]
Tôi sẽ không đi [ngồi] cười to tiếng trong khu vực có người cư trú: điều học cần được thực hành.
Theo Vibhaṅga, nếu có điều gì đó vui, chỉ nên mỉm cười. Chú giải cũng nêu rằng không phạm tội khi cười to tiếng nếu bị bệnh hoặc có nguy hiểm. Các biên tập viên của ấn bản Thái về Tạng Kinh bằng tiếng Pali đặt câu hỏi về những trường hợp miễn trừ này với lý do họ không thấy lý do gì để ai đó cười to tiếng trong một trong hai tình huống này, nhưng sự phản đối này cho thấy sự thiếu trí tưởng tượng.
#13 [14]
Tôi sẽ đi [ngồi] (nói chuyện) với giọng nhỏ nhẹ trong khu vực có người cư trú: điều học cần được thực hành.
Chú giải định nghĩa giọng nhỏ nhẹ như sau: Ba tỳ-kheo ngồi thành hàng cách nhau ba mét. Vị tỳ-kheo thứ nhất nói chuyện. Vị thứ hai có thể nghe và hiểu rõ vị ấy nói gì. Vị thứ ba có thể nghe giọng nhưng không nghe được nội dung. Nếu vị thứ ba có thể nghe rõ nội dung, Chú giải dạy, thì vị tỳ-kheo thứ nhất đang nói quá lớn. Như Vinaya-mukha nhận xét, tuy nhiên, khi nói chuyện với đám đông, không có gì sai khi nâng cao giọng miễn là không hét lên. Và như các điều khoản không phạm tội cho thấy, không có gì sai khi hét lên nếu có nguy hiểm — ví dụ, có người sắp rơi xuống vách đá hoặc bị xe đâm. Cũng có vẻ như không phạm tội khi hét lên nếu người nghe bị nặng tai.
#15 [16]
Tôi sẽ không đi [ngồi] lắc lư thân trong khu vực có người cư trú: điều học cần được thực hành.
Điều này có nghĩa là nên giữ thân thẳng đứng. [Sk 16](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk15), giống như [Sk 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk3), không áp dụng khi ngồi trong chỗ ở của mình trong khu vực có người cư trú (§).
#17 [18]
Tôi sẽ không đi [ngồi] vung tay trong khu vực có người cư trú: điều học cần được thực hành.
Theo Chú giải, điều này có nghĩa là nên giữ tay yên, mặc dù như Vinaya-mukha chỉ ra, không có gì sai khi vung tay nhẹ nhàng để giữ thăng bằng khi đi. Các điều khoản không phạm tội cho thấy [Sk 18](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk17), giống như [Sk 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk3), không áp dụng khi ngồi trong chỗ ở của mình trong khu vực có người cư trú.
#19 [20]
Tôi sẽ không đi [ngồi] lắc đầu trong khu vực có người cư trú: điều học cần được thực hành.
Điều này đề cập đến việc lắc đầu từ bên này sang bên kia hoặc để đầu cúi về phía trước hay ngửa ra phía sau. Tất nhiên, không phạm tội nếu đang ngủ gật, và giống như [Sk 4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk3), [Sk 20](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk19) không áp dụng khi ngồi trong chỗ ở của mình trong khu vực có người cư trú.
#21 [22]
Tôi sẽ không đi [ngồi] chống nạnh trong khu vực có người cư trú: điều học cần được thực hành.
Chống nạnh có nghĩa là đặt tay lên hông. Điều giới này, Vibhaṅga nêu, cấm đặt một tay hoặc cả hai tay lên hông. Sk 22 không áp dụng khi ngồi trong chỗ ở của mình trong khu vực có người cư trú.
#23 [24]
Tôi sẽ không đi [ngồi] với đầu bịt kín trong khu vực có người cư trú: điều học cần được thực hành.
Bịt kín ở đây có nghĩa là che bằng y, khăn, hay mảnh vải tương tự. [Sk 24](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk23) không áp dụng khi ngồi trong chỗ ở của mình trong khu vực có người cư trú. Điều khoản miễn trừ cho "người bị bệnh" trong cả hai điều giới có nghĩa là có thể che đầu khi thời tiết lạnh không chịu nổi hoặc nắng nóng không chịu nổi.
Tôi sẽ không đi kiễng gót hoặc chỉ đi bằng gót chân trong khu vực có người cư trú: điều học cần được thực hành.
Bản dịch điều giới này theo Chú giải.
Tôi sẽ không ngồi ôm đầu gối (§) trong khu vực có người cư trú: điều học cần được thực hành.
Điều này, Vibhaṅga nêu, đề cập đến việc ngồi với một hoặc cả hai tay hay cánh tay ôm một hoặc cả hai đầu gối; hoặc với một dây đai hay dải vải quanh một hoặc cả hai đầu gối và thân mình (§). Các bức phù điêu tại Borobudur cho thấy giới quý tộc dùng tư thế sau này như một cách giữ thân thẳng đứng khi mệt mỏi hoặc yếu đuối.
Điều giới này không áp dụng khi ngồi trong chỗ ở của mình trong khu vực có người cư trú (§).
Ngoài các điều giới được liệt kê ở đây, còn có những điều khác trong Khandhakas liên quan đến hành vi trong khu vực có người cư trú. Bao gồm:
Một tỳ-kheo vào khu vực có người cư trú phải mặc cả ba y trong bộ y cơ bản của mình trừ khi —
- bị bệnh;
- có dấu hiệu mưa;
- đặc quyền kaṭhina đang có hiệu lực;
- sắp băng qua sông; hoặc
- có nơi trú ẩn an toàn (hoặc chỗ ẩn nấp khác, Chú giải nêu, như hốc cây hoặc khe đá) để đặt y lại ([Mv.VIII.23.2-3](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0041.html#Mv.VIII.23.3)).
Vị ấy cũng nên thắt dây lưng. Tỳ-kheo đã khởi xướng điều giới này đã trải qua kinh nghiệm khó quên khi hạ y của mình bị tuột ra trước một nhóm người được trận cười vô cùng thích thú ([Cv.V.29.1](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0041.html#Cv.V.29.1)).
Tuy nhiên, một tỳ-kheo vào khu vực có người cư trú không nên trải y ngoài ra để ngồi ([Cv.VIII.4.3](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.4.3-6)) và, trừ khi bị bệnh, không nên mang giày dép — giày, dép, bốt, v.v. — ([Mv.V.12](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0042.html#Mv.V.12)) hoặc dùng ô hay lọng che nắng ([Cv.V.23.3](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0042.html#Cv.V.23.3)). Chú giải về điều giới ô che đưa vào trường hợp "bị bệnh" cả sự khó chịu về thể chất hay tinh thần, và nêu rằng cũng có thể dùng ô để bảo vệ y khỏi mưa.
Hai: 30 Điều Liên Quan Đến Thức Ăn
Tôi sẽ nhận thức ăn khất thực với sự trân trọng: điều học cần được thực hành.
Điều giới này được đặt ra để đáp lại một sự việc trong đó một số tỳ-kheo nhóm sáu nhận thức ăn khất thực không trân trọng, như thể — trích Vibhaṅga — "họ muốn ném nó đi." Chú giải giải thích trân trọng là "với chánh niệm được thiết lập." Người ta cũng nên tự nhắc nhở về công sức và chi phí mà thí chủ đã bỏ ra để cung cấp thức ăn.
Tôi sẽ nhận thức ăn khất thực với sự chú tâm vào bát: điều học cần được thực hành.
Mục đích của điều giới này là ngăn người ta nhìn vào mặt thí chủ (xem [Cv.VIII.5.2](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.5.2-3)) hoặc nhìn lơ đãng về các hướng khác trong khi thí chủ đang đặt thức ăn vào bát. Tuy nhiên, một trong các "bổn phận cần tuân theo khi đi khất thực," ([Cv.VIII.5](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.5.2-3)) là không nên đứng quá lâu hay quay đi quá sớm. Điều này có nghĩa là nên liếc nhìn những gì thí chủ đã chuẩn bị để bố thí, để không đứng chờ thêm khi thí chủ đã bố thí xong, hay quay đi khi thí chủ còn muốn bố thí thêm.
Tôi sẽ nhận thức ăn khất thực với đậu canh theo tỷ lệ thích hợp: điều học cần được thực hành.
Điều giới này đề cập cụ thể đến thói quen ăn uống vào thời Đức Phật. Đậu canh có nghĩa là các món được làm từ đậu gram, đậu lăng, đậu đỗ, v.v., đủ đặc để có thể được đặt vào bát bằng tay. Theo tỷ lệ thích hợp, theo Chú giải, có nghĩa là không hơn một phần tư tổng lượng thức ăn. Vinaya-mukha cố gắng giải thích điều giới này là bao gồm cả các loại canh và súp nói chung, nhưng Vibhaṅga và các chú giải khẳng định dứt khoát rằng nó chỉ bao gồm đậu canh. Các loại nước sốt, súp, hầm, và nước dùng khác không thuộc phạm vi này.
Điều giới này có lẽ đề cập đến các tình huống trong đó các tỳ-kheo được cung cấp thức ăn từ đĩa đựng chung để tự lấy — như phong tục khi được mời vào nhà vào thời Đức Phật, và vẫn là phong tục ở Sri Lanka và Miến Điện — vì Vibhaṅga nêu rằng không phạm tội khi nhận nhiều hơn tỷ lệ thích hợp nếu được mời nhận nhiều hơn thế. Cũng không phạm tội khi lấy nhiều hơn tỷ lệ thích hợp nếu bị bệnh, nếu nhận từ thân nhân, nếu nhận vì lợi ích của người khác, hoặc nếu có được thức ăn qua nguồn lực của chính mình. (Cách giải thích này theo Chú giải. K/Chú giải, vì lý do nào đó, duy trì rằng các trường hợp không phạm tội sau — nhận từ thân nhân, từ người đã mời, vì lợi ích của người khác, hoặc từ thức ăn có được qua nguồn lực của chính mình — chỉ áp dụng cho các món không phải đậu canh, nhưng cách giải thích này không phù hợp với Vibhaṅga.)
Tôi sẽ nhận thức ăn khất thực ngang với mép (bát): điều học cần được thực hành.
Các bát bằng sắt ngày xưa có một vành khoảng 1 cm. rộng bên trong miệng bát. Theo Chú giải, mép ở đây có nghĩa là mép dưới của vành này. Một tỳ-kheo bị cấm nhận nhiều thức ăn đến mức chất đống cao hơn mức này, dù tất nhiên không có gì cản trở việc nhận ít hơn.
Chú giải có một cuộc thảo luận dài về những gì thuộc và không thuộc phạm vi thức ăn khất thực trong điều giới này, và kết luận rằng thuật ngữ này chỉ bao gồm thức ăn cứng và thức ăn mềm. Do đó, nếu nhận một món đồ ngọt mà "đuôi" của lá gói nhô cao hơn mép bát (các loại đồ ngọt như vậy vẫn phổ biến ở châu Á ngày nay), điều đó sẽ không tính là vi phạm điều giới này. Tương tự, nếu nhận các loại thức ăn không lấp đầy bát mà nhô cao hơn mép — chẳng hạn như một đoạn mía — hoặc nếu thí chủ đặt lên bát một vật đựng khác có chứa thức ăn, như hộp đồ ngọt hay túi hoa quả.
Vinaya-mukha, khi thảo luận về điều giới này, đưa ra điểm sau: "Theo phong tục hiện đại, nhận nhiều thức ăn theo cách thể hiện lòng tham thì không được chấp nhận. Tuy nhiên, không có gì sai khi nhận nhiều theo cách thể hiện lòng từ bi. Chẳng hạn, khi một tỳ-kheo mới thụ giới đến nhận thức ăn khất thực tại gia đình mình, nếu vị ấy chỉ nhận một bát đầy, không phải ai cũng có cơ hội bỏ thức ăn vào bát của vị ấy. Nếu họ lấy bát của vị ấy và đổ nội dung ra (vào một thau), và vị ấy tiếp tục nhận thức ăn cho đến khi mọi người đều có cơ hội, điều này không vi phạm phép tắc, và không ai sẽ chê trách vị ấy là tham lam." Vì đây là trường hợp vi phạm điều giới không phải vì bất kính, nên không phạm tội; nhận xét tương tự cũng có thể được áp dụng cho các tình huống tương tự.
Tôi sẽ dùng thức ăn khất thực với sự trân trọng: điều học cần được thực hành.
Theo Vinaya-mukha, điều giới này cấm làm các việc khác — chẳng hạn như đọc sách — trong khi ăn. Sự Quán Chiếu Khi Dùng Các Vật Dụng Cần Thiết yêu cầu người ta quán chiếu rằng mình đang ăn "không phải để vui đùa, không phải vì say mê, không phải để tăng thân, không phải vì làm đẹp; mà chỉ đơn giản là để thân này tồn tại và tiếp diễn, để chấm dứt những khổ đau của thân, để hỗ trợ đời sống phạm hạnh, (nghĩ rằng) 'Ta sẽ diệt trừ các cảm thọ cũ [vì đói] mà không tạo ra các cảm thọ mới [vì ăn quá no]: Như vậy ta sẽ tự duy trì, sống vô lỗi, và sống thoải mái.'" Người ta cũng nên tự nhắc nhở về công sức và chi phí mà thí chủ đã bỏ ra để cung cấp bữa ăn.
Tôi sẽ dùng thức ăn khất thực với sự chú tâm vào bát: điều học cần được thực hành.
Mục đích của điều giới này là ngăn người ta nhìn lơ đãng xung quanh trong khi ăn. Vinaya-mukha nhận xét, tuy nhiên, "Nhìn về hướng khác theo những cách liên quan đến việc ăn uống của mình — ví dụ, nhìn với ý nghĩ cung cấp cho một tỳ-kheo lân cận bất cứ thứ gì vị ấy đang thiếu — thì không bị cấm." (Xem [Sk 38](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk38), dưới đây.)
Tôi sẽ dùng thức ăn khất thực theo thứ tự (§): điều học cần được thực hành.
Mục đích của điều giới này là để tỳ-kheo dùng bữa đều đặn từ một phía sang phía kia thay vì chọn lựa chỗ này chỗ kia. Tuy nhiên, các món đặc biệt có thể được bỏ qua — hoặc như một hình thức tự kiềm chế hoặc để dành đến cuối bữa. Ngoài ra, không phạm tội khi chọn lựa chỗ này chỗ kia khi lấy thức ăn từ bát của mình để trao cho người khác (§).
Tôi sẽ dùng thức ăn khất thực với đậu canh theo tỷ lệ thích hợp: điều học cần được thực hành.
Điều giới này không áp dụng cho những thức ăn không phải đậu canh đặc, hoặc trong những tình huống bị bệnh hay khi đã nhận đậu canh từ thân nhân, từ những người đã mời nhận thêm, hoặc từ nguồn lực của chính mình.
Tôi sẽ không dùng thức ăn khất thực bằng cách lấy miếng từ đỉnh đống thức ăn: điều học cần được thực hành.
Điều này đề cập đến thức ăn trên đĩa hay trong bát của mình. Chú giải giải thích từ đỉnh đống thức ăn là từ trên cùng hoặc từ giữa. Như đã ghi chú dưới [Sk 33](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk33), nên dùng thức ăn một cách có hệ thống; điều giới này cho thấy nên bắt đầu từ phía bên khi lấy miếng ăn chứ không phải từ giữa đống. Các điều khoản không phạm tội nêu rằng nếu còn một ít thức ăn rải rác trong bát, không phạm tội khi gom lại thành một đống nhỏ và ăn từ đó (§). Vinaya-mukha cho rằng đây là phong tục của các tỳ-kheo trước khi ăn là dàn đều thức ăn trong bát để bề mặt bằng phẳng, nhưng tôi không tìm thấy đề cập đến điểm này trong bất kỳ văn bản nào khác. Tuy nhiên, Vinaya-mukha có đưa ra điểm hữu ích rằng nếu được dọn ra các loại thức ăn khác — chẳng hạn như đồ ngọt — xếp chồng trên đĩa, sẽ là bất lịch sự khi san bằng chúng (hoặc lấy từ mép theo cách làm đống sụp xuống), vì vậy trong những trường hợp đó có thể lấy từ trên cùng của đống.
Tôi sẽ không giấu đậu canh và thức ăn dưới cơm vì mong muốn được nhận thêm: điều học cần được thực hành.
Một số thí chủ, nếu thấy rằng tỳ-kheo chỉ có cơm trong bát, sẽ cố gắng cung cấp thêm thức ăn. Điều giới này là để ngăn các tỳ-kheo lợi dụng tấm lòng tốt của họ.
Theo Vibhaṅga, không phạm tội nếu thí chủ phủ thức ăn trong bát bằng cơm, hoặc nếu mình tự phủ thức ăn bằng cơm vì lý do nào đó khác ngoài mong muốn được nhận thêm.
Chú giải đặc biệt lưu ý đến việc Vibhaṅga không đưa ra trường hợp ngoại lệ ở đây cho tỳ-kheo bị bệnh.
Không bị bệnh, tôi sẽ không ăn cơm hay đậu canh mà tôi đã xin cho bản thân mình: điều học cần được thực hành.
Chú giải về [Pc 39](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0019.html#Pc39) nêu rằng cơm hay đậu canh ở đây bao gồm tất cả các loại thức ăn không được đề cập trong điều đó.
Không phạm tội khi xin những thức ăn này từ thân nhân, từ những người đã mời để xin, hoặc khi bị bệnh (bao gồm cả trường hợp yếu sức vì đói). Cũng không phạm tội khi có được những thức ăn này bằng nguồn lực của chính mình. Phụ chú giải đặt ra câu hỏi về cách mà các điều khoản miễn trừ sekhiya tổng quát cho tỳ-kheo hành động "không cố ý" hoặc "không có chánh niệm" áp dụng cho điều giới này, và đưa ra ví dụ sau: Một tỳ-kheo đưa thức ăn vào miệng và sau đó, khi cảm thấy hối hận, nhổ ra trong sự phiền não. Một ví dụ hay hơn có thể là trường hợp của một tỳ-kheo xin những thức ăn này từ một người cư sĩ và sau đó ăn chúng, đã quên mất rằng lời mời của người cư sĩ để xin những thức ăn như vậy đã hết hạn.
Meṇḍaka Allowance ([Mv.VI.34.21](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0043.html#Mv.VI.34.21)) cho phép một tỳ-kheo tìm kiếm các vật phẩm dự phòng gồm gạo đã tách vỏ, đậu đỏ, đậu xanh (mung beans), muối, đường, dầu, và bơ lỏng khi đi qua vùng hoang dã nơi thức ăn khất thực khó tìm. Để biết chi tiết, xem phần thảo luận dưới [Pc 39](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0019.html#Pc39).
Tôi sẽ không nhìn vào bát của người khác với ý định tìm lỗi: điều học cần được thực hành.
K/Chú giải định nghĩa tìm lỗi là chú ý đến việc tỳ-kheo hay sa-di kia có một thứ gì đó. Điều này có lẽ có nghĩa là vị ấy có một loại thức ăn đặc biệt ngon mà không chia sẻ. Vinaya-mukha đưa ra một gợi ý khác, rằng điều giới này đề cập đến việc tìm lỗi về cách ăn uống cẩu thả của người khác. Tuy nhiên, sự cẩu thả là điều mà các tỳ-kheo có thể khuyên nhủ lẫn nhau, vì vậy cách giải thích của K/Chú giải có vẻ đúng hơn.
Vibhaṅga nêu rằng không phạm tội khi nhìn vào bát của người khác nếu không có ý tìm lỗi hoặc nếu muốn cung cấp cho vị ấy bất cứ thứ gì vị ấy đang thiếu.
Ở đây, Chú giải cũng ghi chú rằng không có ngoại lệ cho tỳ-kheo bị bệnh.
Tôi sẽ không lấy miếng ăn quá lớn: điều học cần được thực hành.
Theo Chú giải, một miếng ăn có kích thước bằng trứng công là quá lớn, trong khi một miếng có kích thước bằng trứng gà là quá nhỏ (!). Một miếng ở khoảng giữa hai kích thước này là vừa phải. Điều này có vẻ khó hiểu trừ khi trứng gà vào thời đó nhỏ hơn nhiều so với hiện nay.
Theo Vibhaṅga, điều giới này không bao gồm trái cây, thức ăn cứng như củ, hoặc các loại bánh ngọt đặc biệt (bánh mì kẹp hiện nay sẽ thuộc loại này). Hiển nhiên, nếu những thứ này hơi lớn một chút, thì không sao khi cho nguyên vào miệng, dù nếu chúng rất lớn thì tốt hơn là nên cắn từng miếng (xem [Sk 45](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk45)).
Tôi sẽ tạo thành miếng ăn tròn: điều học cần được thực hành.
Người ta vào thời đó ăn bằng tay, và dùng ngón tay vo thức ăn thành từng miếng trước khi đưa vào miệng.
Điều giới này, giống như điều trước, không bao gồm trái cây, thức ăn cứng như củ, hoặc các loại bánh ngọt đặc biệt như bánh mì kẹp. Nói cách khác, không cần phải nghiền những thứ này và vo thành miếng tròn trước khi ăn.
Tôi sẽ không há miệng khi miếng ăn chưa được đưa đến: điều học cần được thực hành.
Tôi sẽ không đưa cả bàn tay vào miệng trong khi ăn: điều học cần được thực hành.
Chú giải và K/Chú giải đồng ý rằng đây là bản dịch đúng cho điều giới này. Phụ chú giải khăng khăng rằng nên là "bất kỳ phần nào của bàn tay" thay vì "cả bàn tay," nhưng theo Chú giải thì hành động thọc ngón tay vào miệng khi ăn thuộc về [Sk 52](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk52). Mặc dù có những người với bàn tay nhỏ và miệng rộng đã thực sự thành công trong việc đưa cả bàn tay vào miệng, sự hiếm gặp của khả năng này đã làm nảy sinh những cách giải thích khác nhau cho điều giới này. Chẳng hạn, mặc dù động từ trong điều giới rõ ràng có nghĩa là "đưa vào," một số người cho rằng điều giới này cấm lấy một nắm thức ăn trong lòng bàn tay và đẩy lòng bàn tay áp sát vào miệng. Những người khác cho rằng nó cấm đưa cả năm ngón của một bàn tay vào miệng. Tuy nhiên, dù những gợi ý này thúc đẩy phép lịch sự, chúng không phù hợp với hành động cụ thể được đề cập trong điều giới, và vì vậy nhiều nhất chỉ có thể được coi là các chính sách khôn ngoan mà mỗi cá nhân nên tuân theo.
Tôi sẽ không nói chuyện với miệng đầy thức ăn: điều học cần được thực hành.
Theo Chú giải, nếu lượng thức ăn trong miệng không đủ ảnh hưởng đến độ rõ của cách phát âm, thì không sao khi nói chuyện.
Tôi sẽ không ăn từ những nắm thức ăn được nâng lên: điều học cần được thực hành.
Điều này có nghĩa là không nên nâng thức ăn từ bát bằng một tay và sau đó dùng tay kia lấy từng phần của nắm thức ăn đó để đưa vào miệng. Theo Vibhaṅga, điều giới này không bao gồm trái cây hay thức ăn cứng. Vì vậy, chẳng hạn, không sao khi cầm một chùm nho bằng một tay và sau đó dùng tay kia lấy từng quả nho để đưa vào miệng.
Điều giới này thường được dịch là "Tôi sẽ không ăn bằng cách tung các nắm thức ăn lên," nhưng có vẻ không hợp lý khi lại có điều khoản cho phép tung trái cây, v.v., lên không và hứng bằng miệng. Vì thuật ngữ Pali ukkhepa có thể có nghĩa là "nâng lên," bản dịch trên có lẽ đúng hơn.
Tôi sẽ không ăn bằng cách nhấm nháp từng miếng nhỏ: điều học cần được thực hành.
Sau khi vo thành miếng ăn (xem [Sk 39](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk39) & [40](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk40)), nên đưa tất cả vào miệng một lần thay vì cắn từng tí một.
Điều giới này cũng không bao gồm trái cây, thức ăn cứng, hoặc các loại bánh ngọt đặc biệt (§ — hai mục sau này không có trong ấn bản PTS của Tạng Kinh). Nói cách khác, không có gì sai khi cắn từng miếng từ bất kỳ loại thức ăn nào trong số này vì chúng quá lớn để vừa miệng, dù phép lịch sự ở nhiều nước châu Á hiện nay không khuyến khích việc cắn miếng ngay cả với những thứ như thế.
Tôi sẽ không ăn bằng cách nhồi đầy hai má: điều học cần được thực hành.
Đây là một điều giới nữa không bao gồm trái cây, thức ăn cứng, hoặc các loại bánh ngọt đặc biệt. Hiển nhiên điều khoản này bao gồm các trường hợp mà trái cây, v.v., tạo thành một miếng ăn hơi lớn một chút so với định nghĩa dưới [Sk 39](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk39).
Tôi sẽ không ăn bằng cách vẩy (thức ăn từ) tay: điều học cần được thực hành.
Theo Vibhaṅga, không phạm tội khi vẩy tay trong lúc vứt bỏ thức ăn thừa.
Tôi sẽ không ăn để rớt vãi cơm ra xung quanh: điều học cần được thực hành.
Vibhaṅga nêu rằng không phạm tội khi vứt bỏ những cục cơm trong lúc vứt bỏ thức ăn thừa.
Tôi sẽ không ăn bằng cách thè lưỡi ra: điều học cần được thực hành.
Tôi sẽ không ăn bằng cách chép môi: điều học cần được thực hành.
Tôi sẽ không ăn bằng cách tạo ra tiếng húp: điều học cần được thực hành.
Trong câu chuyện nguồn gốc của điều giới này, một vị bà-la-môn chuẩn bị một thức uống sữa cho các tỳ-kheo, và các vị uống trong khi tạo ra tiếng rít hay tiếng húp. Một trong các tỳ-kheo, vốn là diễn viên trước đây, đã nói đùa về điều đó: "Như thể toàn thể Tăng-già này đã được làm mát." (Đây tất nhiên là một lối chơi chữ với nghĩa cao hơn của thuật ngữ, được làm mát.) Chuyện đến tai Đức Phật, và ngoài việc đặt ra điều giới này, Ngài cũng phạt dukkaṭa đối với hành động nói đùa về Phật, Pháp, hay Tăng.
Tôi sẽ không ăn bằng cách liếm tay: điều học cần được thực hành.
Theo Chú giải, điều giới này cũng bao gồm hành động thọc ngón tay vào miệng. Tuy nhiên — Chú giải nói — có những lúc người ta đang ăn thức ăn bán lỏng bằng tay, trong trường hợp đó không sao khi đưa đầu ngón tay vào miệng để đưa được nhiều thức ăn nhất có thể vào miệng mà không bị đổ.
Tôi sẽ không ăn bằng cách liếm bát: điều học cần được thực hành.
Chú giải cho thấy động từ liếm ở đây cũng có nghĩa là cạo, khi nêu rằng cạo bát dù chỉ bằng một ngón tay cũng là vi phạm điều giới này. Chú giải chắc chắn đúng ở đây, vì nếu không sẽ không thể hiểu điều khoản của Vibhaṅga rằng nếu còn vài mẩu vụn rải rác trong bát, có thể gom chúng thành một miếng cuối cùng, "liếm" chúng lên và ăn.
Tuy nhiên nếu các mẩu vụn không đủ để tạo thành một miếng, Vinaya-mukha khuyên nên để nguyên như vậy. Sau đó người ta sẽ đổ chúng ra cùng với nước rửa bát (xem [Sk 56](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk56)). Thực hành để lại một ít thức ăn chưa ăn này là một điểm lịch sự phổ biến khắp châu Á. Nếu là khách và được mời thức ăn hay đồ uống, không nên ăn hết đến mẩu cuối cùng hay uống hết đến giọt cuối cùng, vì điều đó sẽ ngụ ý rằng người ta chưa được mời đủ và vẫn còn đói hay khát. Lãng phí một vài mẩu thức ăn nhỏ ít nghiêm trọng hơn là làm tổn thương cảm xúc của chủ nhà. (Để biết thêm về điểm này, xem [Pc 35](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0019.html#Pc35).) Ngay cả khi ăn trong tình huống thí chủ không có mặt để quan sát, thì nhìn chung đây là thực hành tốt khi để lại vài mẩu vụn — để vứt bỏ ở khoảng cách tốt từ chỗ ở của mình — như một món quà cho côn trùng hay các sinh vật nhỏ bé đang đói khác.
Tôi sẽ không ăn bằng cách liếm môi: điều học cần được thực hành.
Tôi sẽ không nhận bình nước bằng tay dính thức ăn: điều học cần được thực hành.
Vibhaṅga nêu rằng nếu tay bị bẩn, có thể cầm lấy bình nước với ý nghĩ rằng "Tôi sẽ rửa nó hoặc cho người rửa (§)," mặc dù điều khoản này có thể được giới hạn bởi sự cân nhắc rằng người ta nên cố gắng cho rửa trước khi có người khác muốn dùng.
Theo Chú giải, điều giới này được đặt ra để ngăn những thói quen không sạch sẽ, và vì vậy nó thay đổi động từ trong tiếng Pali — "nhận" hay "tiếp nhận" — thành "lấy" hay "cầm lấy." Nói cách khác, nó áp dụng điều giới này không chỉ cho các tình huống khi nhận bình nước từ người khác, mà còn cho những tình huống khi chỉ đơn giản là tự mình nhặt lên. Chú giải thêm rằng bình nước ở đây áp dụng cho bất cứ thứ gì mà người ta uống nước từ đó, dù thuộc về mình hay người khác. Nếu tay chỉ bị bẩn một phần, Chú giải nêu, có thể nhặt bình nước bằng phần tay không bẩn.
Tôi sẽ không, trong khu vực có người cư trú, đổ nước rửa bát còn hạt cơm ra ngoài: điều học cần được thực hành.
Phong tục vào thời đó, khi các tỳ-kheo được mời đến ăn tại nhà người cư sĩ, là thí chủ dâng nước cho các tỳ-kheo tráng bát trước bữa ăn và lại một lần nữa sau bữa ăn. Trong cả hai trường hợp, mỗi tỳ-kheo cầm bát bằng hai tay, nhận nước vào bát, khuấy tròn mà không cạo (vào đất hay sàn), và đổ vào một vật đựng nếu có — hoặc xuống đất nếu không có — cẩn thận không bắn vào những người lân cận hay y của mình ([Cv.VIII.4.4-6](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.4.3-6)).
Điều giới này áp dụng cho việc tráng bát sau bữa ăn. Vibhaṅga nêu rằng không phạm tội khi đổ nước rửa bát nếu các hạt cơm đã được lấy ra hoặc nếu chúng đã bị nghiền nát đến mức tan vào nước. Các ấn bản khác nhau của Tạng Kinh có những đọc bản khác nhau cho các điều khoản không phạm tội còn lại. Theo ấn bản PTS, không phạm tội "khi đã nhận hoặc khi đã thực hiện," nhưng khó nói "khi đã nhận" ở đây có nghĩa gì. Theo bản đọc trong các ấn bản Thái và Sri Lanka của Tạng Kinh, cũng như Chú giải, không phạm tội "trong một vật đựng (paṭiggahe) hoặc khi đã thực hiện." Bản đọc "vật đựng" ở đây được hỗ trợ bởi Các Quy Tắc Phòng Ăn trong [Cv.VIII.4.6](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.4.3-6) ([BMC2, Chương 9](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#BMC2chapter9)), và vì vậy có lẽ là đúng. Vì vậy, như Chú giải giải thích, không phạm tội khi đổ nước có hạt cơm vào vật đựng, và cũng không phạm tội khi mang bát chứa nước có hạt cơm ra ngoài khu vực có người cư trú để đổ ở đó.
Ngoài các điều giới trên, các bổn phận được tuân theo khi đi khất thực và khi ăn tại nhà người cư sĩ bao gồm các điểm lịch sự sau:
Khi đi khất thực. Nên đi không vội vàng, và đứng không quá gần cũng không quá xa thí chủ ([Cv.VIII.5.2](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.5.2-3)).
Khi ăn tại nhà. Nên chọn chỗ ngồi không xâm phạm vào chỗ của các tỳ-kheo bậc trưởng nhưng cũng không chiếm trước chỗ của các vị hậu bối ([Cv.VIII.4.3](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.4.3-6)).
Nếu có các món đặc biệt, tỳ-kheo trưởng lão nhất nên bảo thí chủ đảm bảo mọi người được phần bằng nhau. Vị ấy cũng không nên bắt đầu ăn cho đến khi mọi người được dọn cơm ([Cv.VIII.4.4](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.4.3-6)), và cũng không nên nhận nước để tráng bát cho đến khi mọi người ăn xong ([Cv.VIII.4.6](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.4.3-6)).
Để biết thêm chi tiết, xem [BMC2, Chương 9](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#BMC2chapter9).
Vinaya-mukha nhận xét rằng một số điều giới và điều khoản trong phần này phác thảo những phép tắc bàn ăn mà theo tiêu chuẩn lịch sự hiện đại sẽ bị coi là quá cầu kỳ hoặc quá cẩu thả. Vì vậy, bất cứ khi nào bộ phép tắc cổ đại và hiện đại mâu thuẫn nhau, chính sách khôn ngoan là tuân theo bộ nào nghiêm ngặt hơn đối với điểm cụ thể đó.
Ba: 16 Điều Liên Quan Đến Thuyết Pháp
[SN 6:2](https://www.dhammatalks.org/suttas/SN/SN6_2.html) ghi lại rằng chính Đức Phật có lòng tôn kính cao nhất đối với Pháp mà Ngài đã khám phá; rằng, như người khác có thể sống dưới sự hướng dẫn của một vị thầy, tôn kính và kính ngưỡng vị ấy, Đức Phật đã sống dưới sự hướng dẫn của, tôn kính và kính ngưỡng Pháp. Ngài truyền dạy các đệ tử của mình phải tỏ lòng tôn kính tương tự đối với Pháp không chỉ khi lắng nghe mà còn khi thuyết giảng, bằng cách từ chối thuyết Pháp cho người tỏ ra bất kính.
Tập hợp các điều giới sau đây đề cập đến các tình huống trong đó người nghe, theo phép tắc vào thời đó, sẽ bị coi là tỏ ra bất kính với vị thầy hay lời dạy của vị ấy. Như Vinaya-mukha nhận xét, một số trường hợp trong này — chẳng hạn như những trường hợp liên quan đến giày dép — không bị coi là bất kính trong một số hoàn cảnh hiện nay, mặc dù ở đây các ngoại lệ được đưa ra cho người nghe bị bệnh có thể được mở rộng để bao gồm bất kỳ tình huống nào mà người nghe sẽ cảm thấy bất tiện hay lúng túng nếu được yêu cầu tuân theo phép tắc của thời Đức Phật. Mặt khác, có nhiều cách tỏ ra bất kính hiện nay không được các điều giới này đề cập, và có thể lập luận, suy luận từ Đại Tiêu Chuẩn, rằng một tỳ-kheo không nên thuyết Pháp cho người tỏ ra bất kính theo bất kỳ cách nào.
Pháp ở đây được định nghĩa là bất kỳ lời nói nào được nói bởi Đức Phật, các đệ tử của Ngài, các vị ẩn sĩ, hoặc chư thiên (devatā), liên quan đến giáo lý hoặc mục tiêu của nó. Xem [Pc 7](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0016.html#Pc7) để thảo luận chi tiết hơn về điểm này.
Tôi sẽ không thuyết Pháp cho người cầm ô trên tay mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Một cái ô hay lọng che nắng vào thời đó được coi là dấu hiệu của địa vị. Theo Chú giải, điều giới này áp dụng bất kể ô có mở hay đóng, miễn là người nghe đặt tay lên đó. Tuy nhiên, nếu ô đặt trên đùi người nghe, tựa vào vai của vị ấy, hoặc nếu người khác cầm ô che trên đầu người nghe, thì không phạm tội khi thuyết Pháp cho vị ấy. Điểm cuối này có thể đã được đưa ra như một nhân nhượng đối với giới quý tộc vào thời đó.
Tôi sẽ không thuyết Pháp cho người cầm gậy trên tay mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Theo Vibhaṅga, gậy là một cây sào dài hai mét. Vì lý do nào đó, bất kỳ cây sào nào ngắn hơn hoặc dài hơn độ dài đó sẽ không thuộc điều giới này — có lẽ vì cây sào hai mét được dùng làm vũ khí, trong khi các loại sào khác, như gậy chống, thì không.
Tôi sẽ không thuyết Pháp cho người cầm dao trên tay mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Thuật ngữ dao ở đây bao gồm bất cứ thứ gì có lưỡi. Theo Chú giải, nếu con dao không ở trong tay người nghe — ví dụ, nó trong bao dao gắn vào thắt lưng — thì không phạm tội khi thuyết Pháp cho vị ấy.
Tôi sẽ không thuyết Pháp cho người cầm vũ khí trên tay mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Vibhaṅga định nghĩa vũ khí là cung, và Chú giải bao gồm cả tên ở đây. Vinaya-mukha thêm súng; và trên thực tế, bất kỳ vũ khí nào không có lưỡi đều có vẻ thuộc điều giới này.
Một lần nữa, nếu vũ khí không ở trong tay người nghe — ví dụ, nó trong bao súng gắn vào thắt lưng — thì không phạm tội khi thuyết Pháp cho vị ấy.
#61 [62]
Tôi sẽ không thuyết Pháp cho người mang giày không phải da [da] mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Các thuật ngữ Pali cho giày không phải da và giày da — upāhanā và pādukā — bao gồm tất cả các loại giày, dép, và bốt (xem [Mv.V.1.30-8.3](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0042.html#Mv.V.1.30)).
Mang có nghĩa là một trong ba điều: đặt bàn chân lên trên giày mà không xỏ ngón vào; xỏ ngón vào mà không cài giày; hoặc cài giày với ngón chân đã vào bên trong.
Tôi sẽ không thuyết Pháp cho người ngồi trên xe mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Chú giải đưa ra điểm rằng nếu xe đủ lớn để ngồi hai người trở lên, tỳ-kheo có thể cùng ngồi với người nghe và thuyết Pháp mà không phạm tội. Điều tương tự cũng đúng nếu tỳ-kheo và người nghe ngồi trên các xe riêng biệt, miễn là xe của tỳ-kheo cùng độ cao hoặc cao hơn xe của người nghe và không đi theo sau.
Tôi sẽ không thuyết Pháp cho người đang nằm mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Chú giải đi vào chi tiết rất tỉ mỉ về điều giới này, liệt kê các hoán vị khác nhau về vị trí của tỳ-kheo và vị trí của người nghe, nêu rõ vị trí nào được phép và vị trí nào không:
Một tỳ-kheo đang nằm có thể thuyết Pháp cho bất kỳ người nghe nào đang đứng hoặc ngồi. Vị ấy cũng có thể thuyết Pháp cho người nghe đang nằm trên một mảnh đồ nội thất, chiếu, hoặc trên đất, miễn là vị trí của tỳ-kheo ngang bằng hoặc cao hơn người nghe.
Một tỳ-kheo đang ngồi có thể thuyết Pháp cho người nghe đang đứng hoặc ngồi (xem thêm [Sk 68](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk68) & [69](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk69)), nhưng không phải cho người đang nằm, trừ khi người nghe bị bệnh.
Một tỳ-kheo đang đứng có thể thuyết Pháp cho người nghe cũng đang đứng, nhưng không phải cho người đang ngồi hay nằm, một lần nữa trừ khi người nghe bị bệnh (xem [Sk 70](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk70)).
Tôi sẽ không thuyết Pháp cho người ngồi ôm đầu gối mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Tư thế ôm đầu gối được thảo luận chi tiết dưới [Sk 26](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0026.html#Sk26).
Tôi sẽ không thuyết Pháp cho người đội mũ mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Điều giới này chỉ áp dụng cho mũ đội đầu — chẳng hạn như khăn xếp hay mũ — che khuất toàn bộ tóc. Nếu mũ/khăn không che hết tóc, hoặc nếu người nghe điều chỉnh để lộ ra một phần tóc, thì không thuộc điều giới này.
Tôi sẽ không thuyết Pháp cho người che đầu (bằng y hay khăn) mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Không phạm tội khi thuyết Pháp nếu người nghe điều chỉnh y hay khăn để lộ đầu của mình.
Ngồi trên đất, tôi sẽ không thuyết Pháp cho người ngồi trên ghế mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Theo Chú giải, ghế ở đây bao gồm cả một mảnh vải hay một đống cỏ.
Ngồi trên chỗ thấp, tôi sẽ không thuyết Pháp cho người ngồi trên chỗ cao mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Chú giải nêu rằng điều giới này cũng bao gồm các trường hợp cả tỳ-kheo lẫn người nghe đều ngồi trên đất nhưng người nghe ngồi trên mảnh đất cao hơn tỳ-kheo.
Đứng, tôi sẽ không thuyết Pháp cho người đang ngồi mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Đi phía sau, tôi sẽ không thuyết Pháp cho người đi phía trước mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Không phạm tội, Chú giải nêu, nếu tỳ-kheo và người nghe đang đi song song cạnh nhau; hoặc nếu hai tỳ-kheo đang đi, một người trước một người sau, và họ cùng tập đọc một đoạn Pháp.
Đi ven đường, tôi sẽ không thuyết Pháp cho người đi trên đường mà không bị bệnh: điều học cần được thực hành.
Bốn: 3 Điều Linh Tinh
Không bị bệnh, tôi sẽ không đại tiện hay tiểu tiện trong khi đứng: điều học cần được thực hành.
Lập luận từ điều khoản của Chú giải dưới điều giới sau, có vẻ như một tỳ-kheo cần tiểu tiện, thấy mình ở trong nhà vệ sinh công cộng, và không thể tiếp tục nhịn trong khi chờ một buồng vệ sinh, sẽ được coi là "bị bệnh" ở đây và vì vậy có thể dùng bồn tiểu đứng mà không phạm tội.
Không bị bệnh, tôi sẽ không đại tiện, tiểu tiện, hay khạc nhổ lên cây cỏ còn sống: điều học cần được thực hành.
Vinaya-mukha nêu rằng cây cỏ ở đây bao gồm tất cả các loại cây được chăm sóc — chẳng hạn như trong vườn, trang trại, hoặc bãi cỏ — nhưng không bao gồm cây cỏ mọc hoang. Chú giải bao gồm cả rễ của cây còn sống nhô lên trên mặt đất, ngoài các cây xanh đang bò trên mặt đất. Chú giải cũng ghi chú rằng Mahā Paccarī, một trong các chú giải cổ xưa mà nó dựa trên, bao gồm hành động xì mũi dưới thuật ngữ khạc nhổ trong điều giới này và điều giới tiếp theo.
Theo Vibhaṅga, không phạm tội nếu — sau khi đại tiện, tiểu tiện, hoặc khạc nhổ vào nơi không có cây cỏ — phân, nước tiểu, hoặc nước bọt sau đó lan sang nơi có cây cỏ (§). Chú giải thêm rằng nếu một tỳ-kheo tìm nơi không có cây cỏ để làm việc vệ sinh mà không tìm được và không thể nhịn thêm nữa, vị ấy sẽ được coi là "bị bệnh" theo điều giới này.
Không bị bệnh, tôi sẽ không đại tiện, tiểu tiện, hay khạc nhổ xuống nước: điều học cần được thực hành.
Theo Chú giải, nước ở đây bao gồm nước dùng để uống hay tắm, nhưng không bao gồm nước không phù hợp cho các mục đích đó — ví dụ, nước mặn, nước tù đọng, nước đã bị bẩn do nước bọt, nước tiểu, hoặc phân — hoặc nước trong nhà vệ sinh. Nếu có lũ lụt mà không có mặt đất khô, không phạm tội khi giải quyết nhu cầu trong nước.
Giống như điều giới trước, Vibhaṅga nêu rằng không phạm tội nếu — sau khi đại tiện, tiểu tiện, hoặc khạc nhổ xuống đất — phân, nước tiểu, hoặc nước bọt sau đó chảy vào nước (§).
[Cv.VIII.10](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.10.1) chứa một loạt các quy tắc về phép tắc khi dùng nhà vệ sinh. Trong số đó:
— Nhà vệ sinh nên được dùng theo thứ tự đến trước, thay vì theo thứ tự thâm niên. ("Vào lúc bấy giờ, các tỳ-kheo dùng nhà vệ sinh theo thứ tự thâm niên. Những tỳ-kheo mới thụ giới, đến trước và phải chờ, đã ngất xỉu vì nhịn quá lâu.")
— Y nên được treo lên giá hay thanh trước khi vào. Điều này, theo Vinaya-mukha, đề cập đến thượng y và y ngoài (vì không được phép vén hạ y lên cho đến khi ngồi xổm trên bệ vệ sinh — xem bên dưới).
— Không nên xông thẳng vào nhà vệ sinh. Trước khi vào, nên ho hay khằng giọng; nếu có tỳ-kheo ở bên trong, vị ấy nên ho hay khằng giọng để trả lời.
— Không nên để hạ y mở hay kéo lên khi vào, mà thay vào đó nên chờ kéo y lên chỉ khi đã ngồi xổm trên bệ vệ sinh.
— Không nên rên rỉ hay kêu than trong khi giải quyết nhu cầu.
— Nếu bệ vệ sinh hay nhà vệ sinh bẩn, nên dọn dẹp cho người tiếp theo.
— Không nên xông thẳng ra khỏi nhà vệ sinh khi xong — cũng cần cẩn thận không để hạ y kéo lên hay mở khi ra.
[Cv.VIII.9](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#Cv.VIII.9) thêm rằng sau khi đại tiện — trong nhà vệ sinh hay không — nên luôn luôn rửa sạch bản thân nếu có nước.
Để biết thêm chi tiết, xem [BMC2, Chương 9](https://www.dhammatalks.org/Vinaya/bmc/Section0048.html#BMC2chapter9).
CHAPTER TEN
Sekhiya
This term means “to be trained in.” There are 75 training rules in this category, divided by subject into four groups: etiquette in dressing and behaving when in inhabited areas; etiquette in accepting and eating almsfood; etiquette when teaching the Dhamma; and etiquette in urinating, defecating, and spitting.
The rules themselves do not impose a direct penalty. Instead, they simply say, “(This is) a training to be observed.” The Vibhaṅga, though, says that to violate any of these rules out of disrespect incurs a dukkaṭa. The non-offense clauses state in each case that to violate them unintentionally, unthinkingly, or unknowingly, or to disobey them when there are dangers or (in most cases) when one is ill, incurs no penalty. (The exemption for dangers is not in the Burmese edition of the Canon.)
The Commentary adds that unknowingly in this case does not mean not knowing the rule. For a new bhikkhu not to make the effort to know the rules, it says, would qualify as disrespect. So unknowingly here means not knowing that a situation contrary to the rules has developed. For instance, if one does not know that one’s robes have gotten out of kilter, that would not count as a breach of the relevant rule.
#One: The 26 Dealing with Proper Behavior
The Canon contains several stories in which a bhikkhu’s behavior causes another person to become interested in the Dhamma. The most famous example is the story of Ven. Sāriputta’s first encounter with Ven. Assaji.
“Now at that time the wanderer Sañjaya was staying in Rājagaha with a large company of wanderers—250 in all. And at that time Sāriputta and Moggallāna were practicing the celibate life under Sañjaya. They had made this agreement: Whoever attains the Deathless first will inform the other.
“Then Ven. Assaji, dressing early in the morning, taking his bowl and (outer) robe, entered Rājagaha for alms: gracious in the way he approached and departed, looked forward and behind, drew in and stretched out (his arm); his eyes downcast, his every movement consummate. Sāriputta the wanderer saw Ven. Assaji going for alms in Rājagaha: gracious… his eyes downcast, his every movement consummate. On seeing him, the thought occurred to him: ‘Surely, of those bhikkhus in this world who are arahants or have entered the path to arahantship, this is one. What if I were to go to him and question him: “Friend, on whose account have you gone forth? Or who is your teacher? Or in whose Dhamma do you delight?”’
“But then the thought occurred to Sāriputta the wanderer: ‘This is the wrong time to question him. Having entered among houses, he is going for alms. What if I were to follow behind this bhikkhu, (to know) the path found out by those who seek it?’”—[Mv.I.23.1-3](/vinaya/Mv/MvI.html#pts23_1)
Even though the following rules deal with minor matters, a bhikkhu should remind himself that the minor details of his behavior can often make the difference between sparking and killing another person’s interest in the Dhamma.
1 [2]
I will wear the lower robe [upper robe] wrapped around (me): a training to be observed.
To wear the lower robe wrapped around means to wear the upper edge circling the waist, covering the navel, and the lower edge covering the kneecaps. This is called covering the “three circles.” The Commentary states that when one is standing, the lower edge should be not more than eight fingerbreadths below the knees, although if one’s calves are disfigured, it is all right to cover them more than that.
To wear the upper robe wrapped around means, according to the Vibhaṅga, keeping both ends of the top edge in line with each other, and the same with both ends of the bottom edge. The bottom edge of the upper robe, though, does not have to be level with the bottom edge of the lower robe. Given the size of the upper robe in the Buddha’s time, it would not have extended down that far.
Intentionally to wear either robe hanging down in front or in back is a breach of these rules. The Commentary states that the purpose of these rules is to prevent bhikkhus from wearing their robes in any of the various ways that lay people in those days wore theirs—e.g., pleated “with 100 pleats,” tied up, or tucked up between the legs. It also comments that because these rules are not qualified, as the following ones are, with the phrase, “in inhabited areas,” they should be followed in the monastery and wilderness areas as well. However, the wilderness protocols ([Cv.VIII.6.2-3](./Section0048.html#Cv.VIII.6.2-3)) clearly show that bhikkhus were not expected to wear the upper robe wrapped around them in the wilderness; and the sauna protocols ([Cv.VIII.8.2](./Section0040.html#Cv.VIII.8.2)) seem to indicate that bhikkhus on their way to and from the sauna were not required to wear their lower robes covering the three circles as long as they covered their private parts front and back.
As a practical matter, if one is working on a high ladder or in a tree—whether in a village, a monastery, or the wilderness—a wise policy is to tuck one’s lower robe up between the legs for decency’s sake.
3 [4]
I will go [sit] well-covered in inhabited areas: a training to be observed.
The Vibhaṅga does not define inhabited areas in this or any of the following rules. The term thus probably has the same meaning as under [Pd 1](./Section0025.html#Pd1): in the homes of lay people, or along the streets and alleys of villages, cities, or towns. This does not include, however, monasteries located in inhabited areas, for the incoming bhikkhu’s protocols ([Cv.VIII.1.2](./Section0048.html#Cv.VIII.1.2-5)) show that when the Canon was composed, bhikkhus were not required to wear their upper robes in the monastery. At present, though, many monasteries located in inhabited areas require that bhikkhus living with them observe many of these rules when outside of their personal quarters but still within monastery grounds.
Well-covered, according to the Commentary, means not exposing one’s chest or knees. One should have the upper edge of the upper robe around the neck, and the lower edge covering the wrists. The lower edge of the lower robe, as stated above, should cover the knees. When seated, only one’s head, hands, and legs from the calves on down should show.
Sk 4 here has an added non-offense clause: There is no offense if one sits not “well-covered” within one’s residence (§). According to the Vinaya-mukha, this means within one’s room when staying overnight in a lay person’s home; when outside of one’s room, though, one should follow the rule.
5 [6]
I will go [sit] well-restrained in inhabited areas: a training to be observed.
Well-restrained, according to the Vibhaṅga, means not playing with the hands or feet. This would include such things as dancing, cracking one’s knuckles, or wiggling one’s fingers or toes.
7 [8]
I will go [sit] with eyes lowered in inhabited areas: a training to be observed.
The Vibhaṅga says that a bhikkhu should keep his gaze lowered to the ground the distance of a plow’s length ahead of him—this equals two meters, according to the Commentary. The purpose of this rule, it adds, is to prevent one from gazing aimlessly at the sights here and there as one walks along. There is nothing wrong, though, in looking up when one has reason to do so. An example given in the Commentary is stopping to look up and see if there are dangers from approaching horses or elephants. A more modern example would be checking the traffic before crossing a road.
9 [10]
I will not go [sit] with robes hitched up in inhabited areas: a training to be observed.
According to the Vibhaṅga, to hitch up one’s robes means to lift them so as to expose either side or both sides of the body. Sk 10 here, like Sk 4, does not apply when one is sitting in one’s residence in an inhabited area (§).
11 [12]
I will not go [sit] laughing loudly in inhabited areas: a training to be observed.
According to the Vibhaṅga, if there is any reason for amusement, one should simply smile. It also states that there is no offense in laughing loudly when ill or there are dangers. The editors of the Thai edition of the Pali Canon question these exemptions on the grounds that they see no reason why anyone would laugh loudly in either of these situations, but this objection shows a lack of imagination.
13 [14]
I will go [sit] (speaking) with a lowered voice in inhabited areas: a training to be observed.
The Commentary defines a lowered voice as follows: Three bhikkhus are sitting in a row at intervals of three meters. The first bhikkhu speaks. The second can hear him and clearly catch what he is saying. The third can hear his voice but not what he is saying. If the third can clearly catch what he is saying, it maintains, the first bhikkhu is speaking too loudly. As the Vinaya-mukha notes, though, when one is speaking to a crowd of people, there is nothing wrong in raising one’s voice provided that one does not shout. And as the non-offense clauses show, there is nothing wrong in shouting if there are dangers—e.g., someone is about to fall off a cliff or be hit by a car. It would also seem that there is no offense in shouting if one’s listener is partially deaf.
15 [16]
I will not go [sit] swinging my body in inhabited areas: a training to be observed.
This means that one should keep one’s body straight. Sk 16, like Sk 4, does not apply when one is sitting in one’s residence in an inhabited area (§).
17 [18]
I will not go [sit] swinging my arms in inhabited areas: a training to be observed.
According to the Commentary, this means that one should keep one’s arms still, although as the Vinaya-mukha points out, there is nothing wrong in swinging one’s arms slightly to keep one’s balance as one walks. The non-offense clauses indicate that Sk 18, like Sk 4, does not apply when one is sitting in one’s residence in an inhabited area.
19 [20]
I will not go [sit] swinging my head in inhabited areas: a training to be observed.
This refers to swinging the head from side to side or letting it droop forward or back. Of course, there is no offense if one is dozing off, and like Sk 4, Sk 20 does not apply when one is sitting in one’s residence in an inhabited area.
21 [22]
I will not go [sit] with arms akimbo in inhabited areas: a training to be observed.
Akimbo means with the hand on the hip. This rule, the Vibhaṅga says, forbids having one arm or both arms akimbo. Sk 22 does not apply when one is sitting in one’s residence in an inhabited area.
23 [24]
I will not go [sit] with my head covered in inhabited areas: a training to be observed.
Covered here means covered with a robe, a scarf, or other similar piece of cloth. Sk 24 does not apply when one is sitting in one’s residence in an inhabited area. The allowance for “one who is ill” under both rules means that one may cover one’s head when the weather is unbearably cold or the sun unbearably hot.
25
I will not go tiptoeing or walking just on the heels in inhabited areas: a training to be observed.
This translation of the rule follows the Commentary.
26
I will not sit clasping the knees (§) in inhabited areas: a training to be observed.
This, the Vibhaṅga says, refers to sitting with one or both arms or hands hugging one or both knees; or with a strap or a strip of cloth around one or both knees and the torso (§). The bas-reliefs at Borobudur show royalty using this latter position as a way of keeping the body erect when tired or weak.
This rule does not apply when one is sitting in one’s residence in an inhabited area (§).
\ \ \*
In addition to the rules listed here, there are others in the Khandhakas concerning behavior in inhabited areas. These include:
A bhikkhu entering an inhabited area must wear all three of his basic set of robes unless—
he is ill;
there is sign of rain;
his kaṭhina privileges are in effect;
he is going to cross a river; or
he has a secure dwelling (or other hiding place, the Commentary says, such as a hollow in a tree or a rock) in which to place the robe he leaves behind ([Mv.VIII.23.2-3](./Section0041.html#Mv.VIII.23.3)).
He should also wear his waistband. The bhikkhu who instigated this rule had the unforgettable experience of having his lower robe slip off in front of a group of people who thoroughly enjoyed the spectacle ([Cv.V.29.1](./Section0041.html#Cv.V.29.1)).
A bhikkhu entering an inhabited area, though, should not spread out his outer robe to sit on ([Cv.VIII.4.3](./Section0048.html#Cv.VIII.4.3-6)) and, unless he is ill, should not wear footwear—shoes, sandals, boots, etc.—([Mv.V.12](./Section0042.html#Mv.V.12)) or use an umbrella or sunshade ([Cv.V.23.3](./Section0042.html#Cv.V.23.3)). The Commentary to the umbrella rule includes physical or mental discomfort under ill in this case, and says that one may also use the umbrella to protect one’s robes from the rain.
#Two: The 30 Dealing with Food
27
I will receive almsfood appreciatively: a training to be observed.
This rule was formulated in response to an incident in which some group-of-six bhikkhus accepted almsfood unappreciatively, as if—to quote the Vibhaṅga—“they wanted to throw it away.” The Commentary explains appreciatively as “with mindfulness established.” One should also remind oneself of the trouble and expense the donors incurred in providing the food.
28
I will receive almsfood with attention focused on the bowl: a training to be observed.
The purpose of this rule is to prevent one from looking at the donor’s face (see [Cv.VIII.5.2](./Section0048.html#Cv.VIII.5.2-3)) or gazing aimlessly in other directions while he/she is placing food in the bowl. However, one of the “duties to be observed on alms round,” ([Cv.VIII.5](./Section0048.html#Cv.VIII.5.2-3)) is that one should not stand too long or turn away too soon. This means that one should glance at what the donor has prepared to give, so that one will not stand waiting for more when the donor has finished giving, or turn away when he/she has more to give.
29
I will receive almsfood with bean curry in proper proportion: a training to be observed.
This rule refers specifically to eating habits at the time of the Buddha. Bean curry means dishes made with gram, pulses, vetch, etc., thick enough that they can be placed in the bowl by the hand. In proper proportion, according to the Commentary, means no more than one-quarter of the total food. The Vinaya-mukha tries to interpret this rule as covering curries and soups of all kinds, but the Vibhaṅga and commentaries state unequivocally that it covers only bean curries. Other gravies, soups, stews, and sauces are exempt.
This rule probably refers to situations in which bhikkhus are offered food from a serving dish from which they help themselves—as was the custom when they were invited to homes in the Buddha’s time, and is still the custom in Sri Lanka and Burma—for the Vibhaṅga states that there is no offense in receiving more than the proper proportion if one is invited to accept more than that. There is also no offense in taking more than the proper proportion if one is ill, one is accepting it from relatives, one is accepting it for the sake of another, or one has obtained the food through one’s own resources. (This interpretation follows the Commentary. The K/Commentary, for some reason, maintains that these latter non-offense situations—accepting from one’s relatives, from people who have offered an invitation, for the sake of another, or from food obtained through one’s own resources—apply only to dishes that are not bean curries, but this interpretation does not fit with the Vibhaṅga.)
30
I will receive almsfood level with the edge (of the bowl): a training to be observed.
Iron bowls in the past had a hoop approximately 1 cm. wide around the inside of the mouth. According to the Commentary, edge here means the bottom edge of this hoop. A bhikkhu is prohibited from accepting so much food that it would pile up above this level, although of course there is nothing against accepting less.
The Commentary contains a long discussion of what does and does not come under almsfood in this rule, and concludes that the term covers only staple and non-staple foods. Thus if one receives a sweet, the “tail” of whose leaf-wrapper extends above the edge of the bowl (such sweets are still common in Asia today), it would not count as an infraction of this rule. The same holds true if one receives foods that do not fill the bowl but extend above the edge—such as a length of sugar cane—or if the donor places on top of one’s bowl another vessel containing food, such as a box of sweets or a bag of fruit.
The Vinaya-mukha, in discussing this rule, makes the following point: “In terms of present-day customs, receiving a lot of food in a way that demonstrates greed is unacceptable. There is nothing wrong, however, in receiving a lot in a way that demonstrates compassion. For instance, when a newly-ordained bhikkhu goes to receive alms at his family home, if he accepts only one bowlful, not everyone will have a chance to put food in his bowl. If they take his bowl and pour out the contents (into a basin), and he then continues accepting food until everyone has had a chance, this is no breach of manners, and no one would criticize him as greedy.” Because this is an instance of breaking the rule not out of disrespect, it would incur no offense; the same observation can be applied to similar situations as well.
31
I will eat almsfood appreciatively: a training to be observed.
According to the Vinaya-mukha, this rule forbids doing other things—such as reading—while eating one’s food. The Recollection at the Moment of Using One’s Requisites requires that one reflect that one is eating “not playfully, nor for intoxication, nor for putting on bulk, nor for beautification; but simply for the survival and continuance of this body, for ending its afflictions, for the support of the celibate life, (thinking) ‘I will destroy old feelings [of hunger] without creating new feelings [from overeating]: Thus will I maintain myself, be blameless, and live in comfort.’” One should also remind oneself of the effort and expense the donors went to in providing the meal.
32
I will eat almsfood with attention focused on the bowl: a training to be observed.
The purpose of this rule is to prevent one from gazing aimlessly about while eating. The Vinaya-mukha notes, though, “To look elsewhere in ways related to one’s eating—e.g., looking with the thought of providing a nearby bhikkhu with whatever he is lacking—is not prohibited.” (See Sk 38, below.)
33
I will eat almsfood methodically (§): a training to be observed.
The aim of this rule is that a bhikkhu work steadily across his food from one side to another while eating and not pick at it here and there. Special treats, though, may be passed over—either as a form of self-denial or to save them for the end of the meal. Also, there is no offense in picking here and there when taking food from one’s bowl to give to another person (§).
34
I will eat almsfood with bean curry in proper proportion: a training to be observed.
This rule does not apply to foods that are not thick bean curries, or to situations where one is ill or where one has received bean curry from relatives, from people who offered an invitation to take more, or from one’s own resources.
35
I will not eat almsfood taking mouthfuls from a heap: a training to be observed.
This refers to the food on one’s plate or in one’s bowl. The Commentary explains from a heap as from the top or from the middle. As noted under Sk 33, one should work across one’s food systematically; this rule indicates that one should start from the side when taking mouthfuls and not from the middle of the heap. The non-offense clauses state that if a little food remains scattered in one’s bowl, there is no offense in gathering it together in a small heap and eating from that (§). The Vinaya-mukha maintains that it is a custom among bhikkhus before eating to level off the food in their bowls so that its surface is even, but I have found no reference to this point in any of the other texts. However, the Vinaya-mukha does make the helpful point that if one is served other foods—such as sweets—stacked on a platter, it would be impolite to level them off (or to take from the edge in a way that would collapse the heap), so in such cases one may take from the top of the heap.
36
I will not hide bean curry and foods with rice out of a desire to get more: a training to be observed.
Some donors, if they see that a bhikkhu has nothing but rice in his bowl, will go out of their way to provide him with extra food. This rule is to prevent bhikkhus from taking advantage of their kind intentions.
According to the Vibhaṅga, there is no offense if donors cover the food in one’s bowl with rice, or if one covers it with rice oneself for some reason other than a desire for more.
The Commentary takes special note of the fact that the Vibhaṅga gives no exception here for a bhikkhu who is ill.
37
Not being ill, I will not eat rice or bean curry that I have requested for my own sake: a training to be observed.
The Commentary to [Pc 39](./Section0019.html#Pc39) says that rice or bean curry here covers all foods not covered in that rule.
There is no offense in requesting these foods from relatives, from people who have offered an invitation to request, or if one is ill (weak from hunger would be included here). There is also no offense in obtaining these foods by means of one’s own resources. The Sub-commentary raises the question of how the blanket Sekhiya exemptions for the bhikkhu acting “unintentionally” or “without mindfulness” apply to this rule, and comes up with the following example: A bhikkhu takes the food into his mouth and then, on feeling regret, spits it out in displeasure. A better example might be that of a bhikkhu who asks for these foods from a lay person and then eats them, having forgotten that the lay person’s invitation to ask for such foods has expired.
The Meṇḍaka Allowance ([Mv.VI.34.21](./Section0043.html#Mv.VI.34.21)) permits a bhikkhu to search for provisions of husked rice, kidney beans, green gram (mung beans), salt, sugar, oil, and ghee when going on a journey through a wilderness area where almsfood will be hard to find. For details, see the discussion under [Pc 39](./Section0019.html#Pc39).
38
I will not look at another’s bowl intent on finding fault: a training to be observed.
The K/Commentary defines finding fault as taking note of the fact that the other bhikkhu or novice has something. What this probably means is that he has some especially nice food that he is not sharing. The Vinaya-mukha provides an alternative suggestion, that this rule refers to finding fault with another’s sloppy manner of eating. Sloppiness, though, is something about which bhikkhus may admonish one another, so the K/Commentary’s interpretation seems more to the point.
The Vibhaṅga states that there is no offense in looking at another’s bowl if one is not meaning to find fault or if one wants to provide him with whatever he may be lacking.
Here again, the Commentary notes that there is no exception for a bhikkhu who is ill.
39
I will not take an extra-large mouthful: a training to be observed.
According to the Commentary, a mouthful the size of a peacock egg is too large, while one the size of a chicken egg is too small (!). One midway between these two sizes is just right. This seems hard to fathom unless chicken eggs in those days were much smaller than they are now.
According to the Vibhaṅga, this rule does not cover fruits, solid foods such as roots, or special confections (sandwiches at present would fit here). Apparently, if these items are a little large, it is all right to stick them whole into the mouth, although if they are very large it would be better to take bites out of them (see Sk 45).
40
I will make a rounded mouthful: a training to be observed.
People at that time ate food with their hands, and formed mouthfuls of the food with their fingers before taking them to the mouth.
This rule, like the preceding one, does not cover fruits, solid foods such as roots, or special confections such as sandwiches. In other words, one does not have to mash these things up and form them into rounded mouthfuls before eating.
41
I will not open the mouth when the mouthful has yet to be brought to it: a training to be observed.
42
I will not insert the whole hand into the mouth while eating: a training to be observed.
The Commentary and K/Commentary are in agreement that this is the proper translation for this rule. The Sub-commentary insists that it should be “any part of the hand” rather than “the whole hand,” but according to the Commentary the act of sticking a finger in one’s mouth while eating comes under Sk 52. Although there are people with small hands and large mouths who have actually succeeded in inserting their whole hands into their mouths, the rarity of this ability has given rise to alternative interpretations for this rule. For instance, although the verb in the rule clearly means “insert,” some have suggested that this rule forbids taking a handful of food in the palm of the hand and pushing the palm right up against the mouth. Others have suggested that it forbids inserting all five of one hand’s fingers into the mouth. However, even though these suggestions promote good manners, they do not fit the precise act mentioned in the rule, and so at most can be taken on an individual basis as wise policies to follow.
43
I will not speak with the mouth full of food: a training to be observed.
According to the Commentary, if the amount of food in one’s mouth is not enough to affect the clarity of one’s pronunciation, it is all right to speak.
44
I will not eat from lifted balls of food: a training to be observed.
What this means is that one should not lift food from the bowl in one hand and then use the other hand to take parts of that handful to put in the mouth. According to the Vibhaṅga, this rule does not cover fruits or solid foods. Thus, for example, it is all right to pick up a bunch of grapes in one hand and then take the grapes one by one with the other hand to put them in the mouth.
This rule is often translated as, “I will not eat tossing up balls of food,” but it seems unlikely that there would be an allowance for tossing fruit, etc., into the air and catching it in the mouth. Because the Pali term ukkhepa can mean “lifting,” the above translation is probably more correct.
45
I will not eat nibbling at mouthfuls of food: a training to be observed.
After forming a mouthful of food (see Sk 39 & 40), one should place it all into the mouth at one time, rather than biting it off bit by bit.
Again, this rule does not cover fruits, solid foods, or special confections (§—these last two items are missing in the PTS edition of the Canon). In other words, there is nothing wrong in taking bites from any of these foods that are too large to fit into the mouth, although the etiquette in many Asian countries at present frowns on taking bites even out of things such as these.
46
I will not eat stuffing out the cheeks: a training to be observed.
This is another rule that does not cover fruits, solid foods, or special confections. Apparently this allowance covers cases where the fruits, etc., would make up a mouthful a little on the large side, as defined under Sk 39.
47
I will not eat shaking (food off) the hand: a training to be observed.
According to the Vibhaṅga, there is no offense in shaking the hand while throwing away scraps.
48
I will not eat scattering lumps of rice about: a training to be observed.
The Vibhaṅga states that there is no offense in throwing away lumps of rice while throwing away scraps.
49
I will not eat sticking out the tongue: a training to be observed.
50
I will not eat smacking the lips: a training to be observed.
51
I will not eat making a slurping noise: a training to be observed.
In the origin story to this rule, a certain brahman prepared a milk drink for the bhikkhus, who drank it making a hissing or slurping sound. One of the bhikkhus, a former actor, made a joke about the fact: “It’s as if this entire Saṅgha were cooled.” (This of course, is a pun on the higher meaning of the term, cooled.) Word got to the Buddha, who in addition to formulating this rule, also imposed a dukkaṭa on the act of making a joke about the Buddha, Dhamma, or Saṅgha.
52
I will not eat licking the hands: a training to be observed.
According to the Commentary, this rule also covers the act of sticking a finger into the mouth. There are times, though—it says—when one is eating a semi-liquid food with one’s hand, in which case it is all right to stick the tips of the fingers into the mouth so as to get as much of the food as possible into the mouth without spilling it.
53
I will not eat licking the bowl: a training to be observed.
The Commentary shows that the verb lick here also means scrape, when it says that scraping the bowl even with one finger is a breach of this rule. The Commentary is surely correct here, for otherwise there is no making sense of the Vibhaṅga’s allowance that if there are a few scattered crumbs left in the bowl, one may gather them into one last mouthful, “lick” them up, and eat them.
If the crumbs are not enough to form a mouthful, though, the Vinaya-mukha recommends leaving them as they are. One would then throw them out with the bowl-washing water (see Sk 56). This practice of leaving a little food uneaten is a point of etiquette common throughout Asia. If one is a guest and has been offered food or drink, one should not eat it to the last crumb or drink it to the last drop, for that would imply that one was not offered enough and is hungry or thirsty for more. Wasting a few bits of food is less serious than hurting the feelings of one’s host. (For more on this point, see [Pc 35](./Section0019.html#Pc35).) Even when one is eating in a situation where the donor is not around to watch, it is generally a good practice to leave a few crumbs—to be thrown away a good distance from one’s dwelling—as a gift to insects or other small, hungry beings.
54
I will not eat licking the lips: a training to be observed.
55
I will not accept a water vessel with a hand soiled by food: a training to be observed.
The Vibhaṅga says that if one’s hand is soiled, one may take the water vessel with the thought that, “I will wash it or get it washed (§),” although this allowance might be qualified with the consideration that one should try to get it washed before anyone else wants to use it.
According to the Commentary, this rule was formulated to prevent unclean habits, and so it changes the verb in the Pali—“accept” or “receive”—to “take” or “take hold of.” In other words, it applies this rule not only to situations where one is accepting the water vessel from someone else, but also to those in which one simply picks it up on one’s own. It adds that water vessel here applies to anything from which one would drink water, whether it belongs to oneself or to others. If one’s hand is partially soiled, it says, one may pick up a water vessel with the unsoiled part.
56
I will not, in an inhabited area, throw away bowl-rinsing water that has grains of rice in it: a training to be observed.
The custom in those times, when bhikkhus were invited to eat at a lay person’s home, was for the donor to offer water to the bhikkhus to rinse out their bowls before the meal and again after it. In both cases, each bhikkhu was to hold his bowl in both hands, receive the water into the bowl, swish it around without scraping it (against the ground or floor), and pour it into a receptacle if there was one—or on the ground if not—taking care not to splash any nearby people or his own robes ([Cv.VIII.4.4-6](./Section0048.html#Cv.VIII.4.3-6)).
This rule applies to the after-meal rinsing. The Vibhaṅga says that there is no offense in throwing away bowl-rinsing water if the rice grains are removed or if they are squashed so as to dissolve in the water. Different editions of the Canon have variant readings for the remaining non-offense clauses. According to the PTS edition, there is no offense “in having received or in having carried out,” but it is hard to tell what having received would mean here. According to the reading given in the Thai and Sri Lankan editions of the Canon, as well as the Commentary, there is no offense “in a receptacle (paṭiggahe) or in having carried out.” The reading “receptacle” here is supported by the Meal-hall Protocols in [Cv.VIII.4.6](./Section0048.html#Cv.VIII.4.3-6) ([BMC2, Chapter 9](./Section0048.html#BMC2chapter9)), and so is probably correct. Thus, as the Commentary explains, there is no offense in pouring the water with rice grains into a receptacle, nor is there an offense in carrying the bowl containing water with rice grains outside the inhabited area to throw it away there.
\ \ \*
In addition to the above rules, the duties observed on alms round and in eating at a lay person’s home include the following points of etiquette:
While on alms round. One should go unhurriedly, and stand neither too close to nor too far from the donor ([Cv.VIII.5.2](./Section0048.html#Cv.VIII.5.2-3)).
While eating in a home. One should select a seat that does not encroach on the senior bhikkhus’ spaces but that also does not preempt the seats of the junior ones ([Cv.VIII.4.3](./Section0048.html#Cv.VIII.4.3-6)).
If there are any special foods, the most senior bhikkhu should tell the donor to make sure that everyone gets equal portions. He should also not begin eating until everyone is served rice ([Cv.VIII.4.4](./Section0048.html#Cv.VIII.4.3-6)), nor should he accept water for rinsing his bowl until everyone has finished eating ([Cv.VIII.4.6](./Section0048.html#Cv.VIII.4.3-6)).
For more details, see [BMC2, Chapter 9](./Section0048.html#BMC2chapter9).
\ \ \*
The Vinaya-mukha notes that some of the rules and allowances in this section outline table manners that would be regarded as either excessively fussy or messy by polite modern standards. Thus wherever ancient and modern codes of etiquette are at variance, the wise policy would be to adhere to whichever code is more stringent on that particular point.
#Three: The 16 Dealing with Teaching Dhamma
[SN 6:2](/suttas/SN/SN6_2.html) records that the Buddha himself had the highest respect for the Dhamma he had discovered; that, as others might live under the guidance of a teacher, honoring and revering him, the Buddha lived under, honored, and revered the Dhamma. He enjoined his followers to show the same respect for the Dhamma not only when listening to it but also when teaching it, by refusing to teach it to a person who shows disrespect.
The following set of rules deals with situations in which a listener, in terms of the etiquette at that time, would be regarded as showing disrespect for a teacher or his teaching. As the Vinaya-mukha notes, a few of these cases—such as those concerning footwear—are not considered disrespectful under certain circumstances at present, although here the exceptions given for listeners who are ill might be stretched to cover any situation where the listener would feel inconvenienced or awkward if asked to comply with the etiquette of the Buddha’s time. On the other hand, there are many ways of showing disrespect at present that are not covered by these rules, and an argument could be made, reasoning from the Great Standards, that a bhikkhu should not teach Dhamma to a person who showed disrespect in any way.
Dhamma here is defined as any statement spoken by the Buddha, his disciples, seers, or devatās, connected with the teaching or with its goal. See [Pc 7](./Section0016.html#Pc7) for a more detailed discussion of this point.
57
I will not teach Dhamma to a person with an umbrella in his hand who is not ill: a training to be observed.
An umbrella or sunshade, at that time, was considered a sign of rank. According to the Commentary, this rule applies regardless of whether the umbrella is open or closed, as long as one’s listener has his/her hand on it. If, however, the umbrella is on the listener’s lap, resting against his/her shoulder, or if someone else is holding it over the listener’s head, there is no offense in teaching him/her any Dhamma. This last point may have been offered as a concession to royalty at the time.
58
I will not teach Dhamma to a person with a staff in his hand who is not ill: a training to be observed.
According to the Vibhaṅga, a staff is a pole two meters long. For some reason, any pole shorter or longer than that would not come under this rule—perhaps because a two-meter pole was used as a weapon, whereas other poles, such as walking sticks, were not.
59
I will not teach Dhamma to a person with a knife in his hand who is not ill: a training to be observed.
The term knife here includes anything with a blade. According to the Commentary, if the knife is not in the listener’s hand—e.g., it is in a sheath attached to a belt—there is no penalty in teaching him/her any Dhamma.
60
I will not teach Dhamma to a person with a weapon in his hand who is not ill: a training to be observed.
The Vibhaṅga defines weapon as a bow, and the Commentary includes arrows here as well. The Vinaya-mukha adds guns; and in fact any weapon that does not have a blade would seem to fall under this rule.
Again, if the weapon is not in the listener’s hand—e.g., it is in a holster attached to the belt—there is no penalty in teaching him/her any Dhamma.
61 [62]
I will not teach Dhamma to a person wearing non-leather [leather] footwear who is not ill: a training to be observed.
The Pali terms for non-leather and leather footwear—upāhanā and pādukā—cover all forms of shoes, sandals, and boots (see [Mv.V.1.30-8.3](./Section0042.html#Mv.V.1.30)).
Wearing means any one of three things: placing one’s feet on top of the footwear without inserting the toes; inserting the toes without fastening the footwear; or fastening the footwear with the toes inside.
63
I will not teach Dhamma to a person in a vehicle who is not ill: a training to be observed.
The Commentary makes the point that if the vehicle is large enough to seat two or more, the bhikkhu may sit together with his listener and teach Dhamma without penalty. The same holds true if the bhikkhu and his listener are in separate vehicles, as long as the bhikkhu’s vehicle is the same height or higher than his listener’s and is not following along behind it.
64
I will not teach Dhamma to a person lying down who is not ill: a training to be observed.
The Commentary goes into great detail on this rule, listing the various permutations of the bhikkhu’s position and his listener’s, saying which ones are allowable and which ones not:
A bhikkhu lying down may teach any listener who is standing or sitting down. He may also teach a listener lying down on a piece of furniture, a mat, or the ground, as long as the bhikkhu’s position is on an equal level or higher than his listener’s.
A bhikkhu sitting down may teach a listener who is standing or sitting down (see also Sk 68 & 69), but not one who is lying down, unless the listener is ill.
A bhikkhu standing may teach a listener who is also standing, but not one who is sitting or lying down, again unless the listener is ill (see Sk 70).
65
I will not teach Dhamma to a person who sits clasping his knees and who is not ill: a training to be observed.
The position of clasping the knees is discussed in detail under Sk 26.
66
I will not teach Dhamma to a person wearing headgear who is not ill: a training to be observed.
This rule applies only to headgear—such as turbans or hats—that hide all of the hair. If the hat/turban does not hide all of the hair, or if the listener adjusts it so as to expose some hair, it would not come under this rule.
67
I will not teach Dhamma to a person whose head is covered (with a robe or scarf) and who is not ill: a training to be observed.
There is no offense in teaching if the listener adjusts the robe or scarf to uncover his/her head.
68
Sitting on the ground, I will not teach Dhamma to a person sitting on a seat who is not ill: a training to be observed.
According to the Commentary, a seat here includes even a piece of cloth or a pile of grass.
69
Sitting on a low seat, I will not teach Dhamma to a person sitting on a high seat who is not ill: a training to be observed.
The Commentary states that this rule also covers cases where the bhikkhu and his listener are both sitting on the ground but the listener is sitting on a higher piece of ground than the bhikkhu.
70
Standing, I will not teach Dhamma to a person sitting who is not ill: a training to be observed.
71
Walking behind, I will not teach Dhamma to a person walking ahead who is not ill: a training to be observed.
There is no offense, the Commentary says, if the bhikkhu and his listener are walking side by side; or if two bhikkhus are walking along, one in front of the other, and they practice reciting a passage of Dhamma together.
72
Walking beside a path, I will not teach Dhamma to a person walking on the path who is not ill: a training to be observed.
#Four: The 3 Miscellaneous Rules
73
Not being ill, I will not defecate or urinate while standing: a training to be observed.
Arguing from the Commentary’s allowance under the following rule, it would seem that a bhikkhu who needs to urinate, finds himself in a public restroom, and can no longer hold himself in while waiting for a toilet, would qualify as “ill” here and so would be able to use a urinal without penalty.
74
Not being ill, I will not defecate, urinate, or spit on living crops: a training to be observed.
The Vinaya-mukha says that crops here includes all plants that are tended—such as in gardens, farms, or lawns—but not plants growing wild. The Commentary includes roots of living trees that appear above ground, in addition to green plants running along on top of the ground. It also notes that the Mahā Paccarī, one of the ancient commentaries on which it is based, includes blowing the nose under the term spitting in this rule and the next.
According to the Vibhaṅga, there is no offense if—after defecating, urinating, or spitting on a place where there are no plants—the feces, urine, or saliva then spreads to a place where there are plants (§). The Commentary adds that if a bhikkhu looking for a place without crops to do his business can’t find one and is unable to hold himself in any longer, he would qualify as “ill” under this rule.
75
Not being ill, I will not defecate, urinate, or spit in water: a training to be observed.
According to the Commentary, water here includes water fit for drinking or bathing, but not water unfit for such use—e.g., salt water, stagnant water, water already befouled with spit, urine, or feces—or water in a toilet. If there is a flood with no dry ground available, there is no offense in relieving oneself in the water.
As under the preceding rule, the Vibhaṅga says that there is no offense if—after defecating, urinating, or spitting on the ground—the feces, urine, or saliva then spreads into the water (§).
\ \ \*
[Cv.VIII.10](./Section0048.html#Cv.VIII.10.1) contains a series of rules on the etiquette in using a restroom. Among them:
—The restroom should be used in order of arrival, rather than in order of seniority. (“Now at that time, bhikkhus used the restroom in order of seniority. Newly-ordained bhikkhus, having arrived first and having to wait, keeled over in a faint from holding themselves in.”)
—One’s robes should be hung up on a line or rod before entering. This, according to the Vinaya-mukha, refers to one’s upper and outer robe (inasmuch as one is not to lift up one’s lower robe until astride the toilet—see below).
—One should not go bursting into the restroom. Before entering, one should cough or clear one’s throat; if a bhikkhu is inside, he should cough or clear his throat in response.
—One should not have one’s lower robe open or pulled up while entering, and instead should wait to pull up one’s robe only when astride the toilet.
—One should not make grunting or groaning noises while relieving oneself.
—If the toilet or restroom is dirty, one should clean it for the next person.
—One should not go bursting out of the restroom when finished—again, taking care not to have one’s lower robe pulled up or open.
[Cv.VIII.9](./Section0048.html#Cv.VIII.9) adds that after one has defecated—inside a restroom or not—one should always rinse oneself if water is available.
For more details, see [BMC2, Chapter 9](./Section0048.html#BMC2chapter9).